| |
|
Bài Thứ 7
Mười Tông
Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa (tiếp theo)
4.- Duy
Thức Tông Hay Là Pháp tướng Tông
I.- Duyên
Khởi Lập Tông
Tất cả
chúng sanh đều vô thỉ đến nay, v́ chấp có thật ngă, thật-pháp mà tạo
ra các nghiệp, rồi bị các nghiệp dắt dẫn nên xoay vần măi theo bánh
xe sanh tử luân-hồi.
Nếu con
người hiểu rỏ một cách chắc chắn rằng: tất cả các pháp trong vũ-trụ,
nhân và ngă đều không thật có, chỉ do thức biến hiện, như cảnh trong
chiêm bao, mà không c̣n gây phiền năo, tạo nghiệp-chướng nữa, th́
tất không c̣n bị ràng buộc, trong bánh xe sanh tử luân hồi.
Để phá trừ
hai món chấp thật-ngă và thật-pháp, Đức-Phật có rất nhiều
phương-pháp, có rất nhiều pháp thiền, mà Duy-Thức-Tôn hay
Pháp-tướng-tôn là một pháp tu rất cần thiết, rất hiệu-nghiệm để đi
đến giải-thoát.
II.- Định
Nghĩa
Tôn này
thuộc về Đại-thừa, phân-tách vũ-trụ, vạn hữu đều do thức biến hiện.
Duy-thức
tôn, hay Pháp-tướng tôn, như danh từ đă chỉ-định, không nói về tâm
tánh chơn như, mà chỉ nói về tướng của thức, tức cũng là tướng của
pháp. Biết rằng từ chơn vọng ḥa hiệp biến thành h́nh tướng thức A-Lại-Da,
rồi tư thức A-Lại-Da sanh ra các tướng tâm-pháp .v.v...tôn này
quán-sát hành tướng của các pháp ấy, nên gọi là '' Pháp-tướng tôn ''
.
Đứng về
phương diện nguyên-nhân mà nghiên-cứu, tôn này chủ-trương rằng
vũ-trụ vạn-hữu, hay là tất cả các pháp đều do duy-thức biến-hiện,
ngoài thức không c̣n một yếu tố nào khác nữa nên gọi là ''Duy thức
tôn '' .
Vậy ''Pháp-tướng tôn'' hay ''Duy thức tôn'' cũng đều để gọi pháp-môn mà
tôn-chỉ chỉ là nghiên cứu, quan-sát hành-tướng và nguyên nhân
sanh-khởi của vạn pháp. Nguyên nhân sanh-khởi ấy là ''Thức ''.
III.- Căn
Cứ các kinh sách Sau Đây Lập Ra Duy Thức Tông
Như tất cả
các tôn phái khác, Duy-thức tôn cũng căn-cứ vào căn luận của Phật mà
được thành lập ra. Đó là 6 bộ kinh và 11 bộ luận sau đây:
Sáu bộ
kinh là:
1.- Kinh
Giăi-thâm-mật
2.- Kinh
Hoa-nghiêm
3.- Kinh
Như-lai xuất hiện công-đức trang-nghiêm
4.- Kinh
A-tỳ-đạt-ma
5.- Kinh
Lăng-nghiêm
6.- Kinh
Hậu-nghiêm (hay Mật-nghiêm).
Mười một
bộ luận là:
1.-Luận
Du-già Sư-địa
2.- Luận
Hiển-dương Thánh-giáo
3.- Luận
Đại-thừa Trang-nghiêm
4.- Luận
Nhiếp Đại-thừa
5.- Luận Đại Thừa bách pháp minh môn
6.- Luận
Thập-địa-kinh
7.- Luận
Phân-biệt Du-già
8.- Luận
Quán Sở-duyên-duyên
9.- Luận
Duy-thức Tam-thập-tụng
10.- Luận
Biện-trung-biên
11.- Luận
Tạp-luận
Vị sáng
lập ra Duy-thức chính là Bồ Tát Di-lặc. Đức-Di-Lặc sau khi tu chứng
được Duy-thức, đă ứng theo lời thỉnh-cầu của Ngài Vô-trước, nói
Luận Du-già Sư-địa.
Hai vị có
công lớn trong việc phát-triển tôn này ở Ấn Độ là hai anh em nhà
Vô-trước và Ngài Thế-thân. Ngài Vô-trước dựa theo bộ ''Du-già
Sư-địa '' làm ra bộ luận ''Hiển-dương Thánh-giáo'', và ''Nhiếp
Đại-thừa ''. Ngài Thế-thân lại có công đức lớn lao hơn nữa, tóm tắt
lại nghĩa lư Duy-thức, là bộ luận '' Duy-thức tam thập tụng ''. Về
sau, có mười vị Đại Luận-sư, sớ giải bộ Duy-thức tam-thập tụng, làm
thành mười bộ luận chính về Duy-thức .
Đến đời
Đường, Ngài Huyền-trang từ Trung Hoa sang Ấn Độ thỉnh kinh và
tham-cứu về Phật Giáo. Môn học sở trường của Ngài là Duy-thức. Sau
khi trở về Trung Hoa, Ngài lượm-lặt tinh-hoa của 10 bộ đai luận nói
trên, dịch thành Hán-văn, dưới nhan đề là: ''Thành Duy-thức Luận
'', gồm cả thảy 10 quyển. Ngài Khuy-cơ là đệ-tử lớn của Ngài
Huyền-trang sớ-giải thêm rỏ nghĩa-lư bộ'' Thành Duy-thức Luận''
làm ra thành 60 quyển, dưới nhan đề là ''Thành Duy-thức thuật-kư''.
Tóm lại, ở
Ấn Độ, vị có công lớn nhất trong sự phát huy Duy-thức tôn là Ngài
Thế-thân. C̣n ở Trung Hoa, vị có công lớn nhất trong việc truyền bá
Duy-thức tôn là Ngài Huyền-trang.
Về phương
diện sách vở dạy về Duy-thức, từ xưa đến nay được các học giả xem là
chánh-tôn Duy-thức, th́ có ba bộ sau đây:
1.-
Đại-thừa Bách pháp minh môn luận (tác giả là Ngài Thế-thân). Nội dung
bộ luận này giải-thích các danh từ chuyên-môn của Duy-thức, nói rỏ
100 pháp và hai món vô-ngă. Người học Duy-thức nếu không học bộ luận
này trước, th́ không dễ ǵ hiếu được Duy-thức (bộ luận này đă được
dịch ra tiếng Việt và chúng tôi lấy nhan đề là: Duy-thức nhập môn).
2.-
Duy-thức tam thập tụng (cũng do Ngài Thế-Thân tạo ra). Trong bộ luận
này Ngài Thế-Thân dùng 30 bài tụng để giải thích về nghĩa lư chánh
của Duy-thức, luận này chia làm bốn phần:
a). Phần
thứ nhất nói về ba thức năng-biến:
-Thức
năng-biến thứ nhất là thức A-lai-da (thức tứ tám).
-Thức
năng-biến thứ hai là thức Mạt-na (thức thứ bảy).
-Thức
năng-biến thứ ba là sáu thức năng trước.
b). Phần
thứ hai nói về các tâm-sở:
-Biến-hành
(5 món)
-Biệt-cảnh
(5 món)
-Thiện (11
món)
-Căn-bổn
phiền-năo (6 món)
-Tùy
phiền-năo (20 món)
-Bất-định
(4 món).
c). Phần
thứ ba giải-đáp các nghi vấn:
-Làm sao
biết được phận-vi sanh-khởi của các thức?
-Nếu không
có ngoại cảnh, th́ sao có sanh tử và các sự phân biệt?
-Nếu không
có ngoại cảnh, th́ sao có chúng hữu-t́nh sanh-tử?
-Nếu chỉ
thức, tạo sao Phật lại nói có ba tánh?
-Nếu có ba
tánh, tại sao Phật nói ba món vô-tánh?
d).Phần
thứ tư nói về đệ tu Duy-thức:
Từ khi
phát tâm tu Duy-thức cho đến khi chứng được Duy-thức tánh thành
Phật, hành-giả phải trải qua năm địa vị, thứ lớp như sau đây:
-Vị
Tư-lương (như lương thực cửa người đi đường).
-Vị gia
hạnh (gia công tấn hàng).
-Vị
thông-đạt (thấu suốt đường lối).
-Vị tu-tập
(tu-hành tập-luyện).
-Vị cứu
cánh (đến cùng tột địa vị tu chứng).
3.-
Bát-thức qui-cũ tụng (tác giả là Ngài Huyền-trang).Nội dung của
quyển này, Ngài Huyền-trang dùng 12 bài tụng để toát yếu lại
nghĩa-lư Duy-thức, gồm có bốn phần:
a). Phần
thứ nhất nói về năm thức đầu
b). Phần
thứ hai nói về thức thứ sáu .
c). Phần
thứ ba nói về thức thứ bảy
d). Phần
thứ tư nói về thức thứ tám.
Mỗi một
phần có ba bài tụng, hai bài tụng đầu nói hành-tướng các thức, khi
hành-giả c̣n ở địa vị phàm-phu; bài tụng thứ ba nói hành-tướng các
thức, khi lên quả-vị Thánh.
Tóm lại,
ba bộ luận trên này, người muốn học Duy-thức, không thể bỏ qua được.
IV.- Chủ
Trương Của Duy Thức Tông
Chủ-trương
của Duy-thức tôn là phá trừ vọng chấp ngă, pháp (biến kế sở chấp),
bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy tất cả các pháp đều nương nơi thức
hiện ra (y-tha khởi), và mục đích cuối cùng là đưa chúng sanh trở về
với tánh chân thật (viên-thành thật). Thế-giới hiện-tượng này,
v́ mê-mờ, chúng ta tưởng là chắc thật, nhưng hteo chủ trương của
Duy-thức học, th́ vũ-trụ vạn-hữu đều là Duy-thức biến-hiện. Cũng như
sơn hà, đại địa trong cảnh chiêm bao, không có cảnh vật ấy.
Vậy, nếu
chỉ cho chúng sanh thấy được một cách rỏ ràng, vũ-trụ vạn-hữu do
thức biến-hiện ra như thế nào, th́ chắc chắn chúng sanh sẽ không c̣n
chấp thật ngă, thật pháp nữa. Cũng như khi biết cảnh vật trong chiêm
bao là do tâm chiêm-bao ánh ra th́ không c̣n mê muội nơi cảnh
chiêm-bao nữa. Mà không c̣n chiêm-bao tức đă thức-tỉnh. Cũng thế,
khi không c̣n chấp thật ngă, thật pháp nữa, tất sẽ thấy được cảnh
chân-thật của vũ-trụ vạn-hữu, (tánh viên thành-thật).
Đó là chủ
trương của Duy-thức tôn.
Nói một
cách vắn tắt, chủ trương của Duy-thức tôn là quy vũ-trụ vạn-hữu trở
về Duy-thức tướng, rồi từ Duy-thức tướng trở về Duy-thức tánh (tâm
chơn-như hay tánh viên-giác).
V.- Thành
Phần Của Hiện Tượng Giới
(vũ-trụ
vạn-hữu gồm cả tâm và pháp ).
Phân Loại
Theo Duy Thức Tông
Hiện tượng
giới, tức là vạn sự vạn vật trong vũ-trụ (gồm cả tâm lẫn vật), tuy
nhiên không thể kể xiết được, nhưng dưới nhăn-quan của nhà Duy-thức
học, có thể phân ra thành năm loại; năm loại này lại chia thành 100
thành phần hay 100 pháp.
Năm loại
lớn ấy là:
1.-
Tâm-vương tức là '' tướng '' của thức, thuộc về tâm-giới.
2.- Tâm-sở
tức là '' dụng '' của thức, cũng thuộc về tâm-giới.
3,-
Sắc-pháp tức là ''ảnh-tượng'' của thức, thuộc về sắc-giới.
4.-
Bất-tương-ứng-hành tức là ''phận-vị sai khác'' của thức, không phải
thuộc hẳn về tâm mà cũng không thuộc về sắc-giới, nhưng gồm cả hai
phần mà thành.
5.-Vô-vi
tức là ''tánh'' của thức, cũng gọi là ''chơn như ''
Bốn loại
trên: tâm-vương, tâm-sở, sắc-pháp, bất tương ưng hành đều thuộc về "
hữu vi",tức là " tướng ,có sanh diệt.
Loại thứ
năm, là pháp "vô vi", không sanh diệt, không tạo tác, tức là "tánh" của các pháp, hay chơn như.
Năm loại
lớn trên đây, mỗi loại lại chia làm nhiều thành phần, có những tác
dụng hành tướng riêng biệt, mà chúng ta cần nghiên cứu kỷ sau đây:
1.-Tâm
vương: Tâm vương
gồm có tám món, mỗi món có những đặc tánh, khả năng và nhiệm vụ
riêng biệt, như mỗi ông vua làm chủ mỗi nước, nên gọ là tâm vương.
Tám phần của tâm vương là:
a) Nhăn
thức
b) Nhĩ
thức
c) Tỹ thức
d) Thiệt thức
đ)Thân
thức
e)
Ư thức
ê) Mạt-na-thức
h)A-lại da
thức
Chúng ta
có năm giác quan, mỗi giác quan có một sỡ năng, một cái biết riêng:
khi ta nh́n một cái hoa, biết cái hoa ấy màu vàng hay đỏ v.v...cái
biết ấy thuộc về con mắt, nên gọi là nhăn thức. Khi chúng ta nhge
đàn, biết tiếng đàn ấy cao hay thấp, to hay nhỏv.v...cái biết ấy
thuộc về tai, nên gọ là nhĩ thức. Khi ta ngữi một mùi ǵ, biết được
mùi ấy thơm hay hôi, cái biết ấy thuộc về mũi, nên gội là tỷ thức.
Khi chúng ta nếm một món ăn ǵ, biết được món ăn ấy mặn hạy lạt, chua
hay ngọt, cái biết ấy thuộc về lưỡi, nên gọi là thiệt thức. Khi
chúng ta đụng vào một vật ǵ, biết vật ấy cứng hay mềm, nóng hay
lạnh, cái biết ấy thuộc về thân thể, nên gọi là thân thức.
Năm cái
biết trên này: Nhăn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt và Thân thức, thuộc về năm giác
quan bên ngoài nên chúng ta dễ nhận.
Ba cái
biết sau này: Ư thức, Mạt-na-thức, A-lại-da-thức, thuộc về nội
tâm, và theo thứ lớp, ẩn sâu vào trong, tế nhị hơn, nên khó nhận khó
biết. Tuy thế, đối với nhà duy thức học, người ta cũng có thể nhận
biết được rành rẽ hành tướng
phân biệt
được phạm vi hoạt động, sở trường , sở đoản và công năng của mỗi
thứ.
Trước
tiên, chúng ta nói đến thức thứ sáu hay "Ư thức".
Ư thức có
hai phạm vi hoạt động:
-Khi nào ư
thức hiệp với năm thức trước, tiếp xúc với cảnh, th́ gọi là "Ngủ
của ư thức", hay là "Minh liễu ư thức". Trong lúc mắt thấy sắc, tai
nghe tiếng v.v...mà không có ư thức phụ vào (để ư) th́ mặc dù mắt
vẫn thấy, tai văn nghe, nhưng thấy nghe không được rơ ràng. Sách nho
chép:"Tâm bất tại diện, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn" (nếu
không chú ư, th́ dù xem cũng chẵng thấy, lắng cũng chẵng nghe). Trái
lại, khi có ư thức phụ vào, thấy nghe v.v...đều minh bạch.
-Khi nào ư
thức làm việc một ḿnh, không cùng hợp tác với năm thức trước, th́
gọi là "Đơn độc ư thứ" hay "Độc đầu ư thức".như trong lúc năm thức
trước không tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị và xúc, mà trong tâm
trí vẫn lưu lại bóng dáng (pháp trần) của năm trần. Khi chúng ta nhớ
tưởng lại, th́ cảnh ngủ trần in như hiện rơ ràng ở trước, đó là công
dụng của " Độc đầu ư thức". Thức thứ sáu này, khi tính tóan, suy
nghĩ việc ǵ, thiện hay ác, hay hay dở, cũng đều lanh lợi đảm đang
hơn các thức khác, nên trong duy thức nói: "Công vi thủ, tội vi
khôi"(Có công nó đứng đầu, mà có tội nó cũng đứng đầu).
Thức thứ
sáu, tuy sở trường là khôn ngoan lanh lợi, nhưng lại có sở
đoản là
bất thường, không phải lúc nào cũng hiện diện, mà lại có khi gián
đoạn, ẩn phục, như trong lúc bị chụp thuốc mê, chết giả, ngủ say, hay
nhập vô tưởng định v.v...Qua những giai đọan ấy, ư thức lại hiện trở
lại.
Vậy trong
lúc ư thức không hiện, nó núp ở đâu?
Theo duy
thức, khi đó, thức thứ sáu trở về gốc của nó là ư căn, tức là thức
thứ bảy hay thức Mạt-na. Theo tâm lư học th́ cũng có thể gọi là tiềm
thức.
Thức thứ
bảy này có hai công năng:
-Chấp ngă:
-Làm căn
bản cho Ư thức thứ sáu.
Nó có
công là đem các pháp hiện hành bên ngoài ''truyền'' vào tạng thức và
đem các pháp chủng tử bên trong ''tống'' ra ngoài nên nó có tên là
''truyền tống thức''. Sự chấp ngă của thức này và của thức thứ Sáu,
có thô và tế khác nhau. Khi nào để ư bảo thủ bản ngă, như khi ra
trận bắn nhau với địch quân, khi đánh lộn, hay t́m một kế ǵ để sanh
nhai, th́ sự chấp ngă ấy thuộc về thức thứ Sáu. Thực ra không có lúc
nào chúng ta không chấp ngă, sự chấp ngă vẫn thường trực trong chúng
ta. Nhưng nó âm thầm, sâu kín, tiềm trực, nên chúng ta không nhận
thấy được. Đến lúc bất ngơ, đột nhiên xăy ra một sự việc ǵ đó có
nguy hại đến tánh mạng ta, như bất thần có người ŕnh rập, hay đi ra
đường bị nhành cây găy sắp rơi xuống đầu...trong những lúc ấy, tuy
thức thứ Sáu không kịp để ư can thiệp, đối phó mà ta vẫn tự tránh né,
bảo thủ cái ngă. Đó là sự chấp ngă của thức tứ bảy.
Ngoài bảy
thức nói trên, c̣n có một thức thứ tám tế nhị, sâu kín mênh mông hơn
nữa, đó là thức A lại da, Tàu dịch là tàng thức, nghĩa là thức
''Tích chứa''.
Từ nhỏ đến
lớn chúng ta đọc rất nhiều sách, tiếp xúc với nhiều sự vật, rồi thời
gian cứ tuần tự trôi qua, chúng ta tưởng đă quên mất rồi. Thế mà
không ! Mỗi khi nghĩ dến th́ danh từ, h́nh ảnh của những vật xưa củ
hiện ra rỏ ràng như một cuốn phim quay lại ở trước mắt. Những danh
từ h́nh ảnh ấy, v́ sao mấy chục năm qua mà vẫn c̣n lại? Tất nhiên
phải có một cái kho vô tận chứa lại, nên mới không mất vậy! Kho vô
tận này trong duy thức tôn gọi là tàng thức (thức chứa).
Để cho dễ
nhớ hành tướng và công năng của tám thức nói trên, cổ nhân có làm
bài kệ rằng:
Nguyên
văn:
Bát cá đệ
huynh, nhứt cá si
Độc hữu
nhứt cá, tối linh tinh
Ngủ cá môn
tiền tô măi mại
Nhất cá
gia trung tác chủ y.
Dịch nghĩa:
Anh em tám
chú một người si (thức thứ bảy)
Một ḿnh ư
thức rất tinh ranh (thức thứ sáu)
Năm chàng
ngoài cửa lo buôn bán (năm thức trước)
Làm chủ
trong nhà, thức lại da (thức thứ tám).
2.- Tâm sở:
Tâm sở là
tánh sở hữu, phụ thuộc của Tâm vương, cũng như ông quan trong triều,
phụ thuộc dưới quyền sai sử của ông vua, hay những nhân viên phụ
thuộc dưới quyền sử dụng của vị Bộ trưởng. Tâm sở có tất cả 51 pháp,
chia làm sáu loại như sau:
1.- Biến
hành Tâm sở: Biến là phổ biến, hành là lưu hành; Biến hành Tâm sở
nghĩa là những tâm sở có công năng phổ cập lưu chuyển khắp cả tám
thức (tâm vương), với thức nào nó củng tương ưng được cả. Biến hành
Tâm sở gồm có 5 pháp là: Xúc, Tác ư, Thọ,Tưởng và Tư.
2.-Biệt
cảnh Tâm sở: Biệy là riêng biệt, Biệt cảnh Tâm sở là những tâm sở
riêng mỗi cảnh khác nhau, như Dục tâm sở duyên riêng với cảnh mà
ḿnh ưa muốn; Huệ tâm sở riêng với cánh mà ḿnh quan sát...chứ không
phải như Biến hành tâm sở. Biệt cảnh Tâm sở gồm có 5 pháp là : Dục,
Thắng giải, Niệm, Định và Huệ.
3.- Thiện
Tâm sở: Thiện Tâm sở là tâm sở lành và có công năng phát sanh những
điều lành mà thôi. Thiện tâm sở gồm có 11 pháp là: Tín, Tàm, Quư, Vô
tham, Vô sanh, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xă và
Bất hại.
4.-Căn-bản phiền-năo tâm sở: những tâm-sở này gây phiền năo, rối loạn cho chúng
sanh. Đây là những phiền-năo làm cội gốc cho các phiền-năo phát
sinh, nên gọi là căn bản phiền-năo. Căn bản phiền-năo bao gồm có sáu
pháp là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác-kiến.
5.- Tùy
phiền-năo tâm-sở: Những tâm-sở này nương tựa, phát sanh từ các
phiền-năo căn bản tâm sở nói trên, nên gọi là tùy phiền-năo. Những
tâm sở căn bản phiền-năo trên là gốc mà những tâm sở phiền-năo này
là ngọn. Tùy phiền-năo tâm sở gồm có 50 pháp là: Phẫn, Hậu, Phú,
Năo, Tật, Xan, Cuốn, Siển, Hại, Kiêu, Vô-tàm, Vô-quí, Trạo-cử,
Hôn-trầm, Bất-tín, Giải-đăi, Phóng-dật, Thất-niệm, Tán-loại,
Bất-chánh-triều.
6.- Bất
định tâm sở: Bất-định nghĩa là không nhất định; bất định tâm sở là
những tâm sở không nhất định thiện hay ác; không đứng hẳn về một
phía thiện hay ác; như các pháp nói trên. Bất định tâm sởn gồm có
bốn pháp là: Hối, Miên,Trầm, Tư.
3.-Sắc pháp:
Sắc-pháp
tức là những pháp có thể hư nát và có tánh cách chướng ngại.
Sắc-pháp là sự phối hợp của năm căn và sáu trần, cộng tất cả là 11
pháp:
Năm căn
là: Nhăn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân.
Sáu trần
là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, và pháp trần.
4.- Bất
tương-ưng hành pháp:
Các pháp
này không thuộc về sắc mà cũng không thuộc về tâm; nhưng chúng nó
không thể rời sắc và tâm mà có được. Thí dụ như ''đắc'' (được) là
một ''bất tương-ưng pháp''. ''Được'' không thể là sắc mà cũng không
thể nào là tâm. Nhưng khi nói ''được'', tức là hàm cái nghĩa ''được''
một cái ǵ, nhưng ''được'' một đồng bạc chẳng hạn, và phải có một
yếu tố thứ hai là ''ai'' được. Đồng bạc thuộc về sắc, ''ai'' thuộc
về tâm. C̣n ''được'' không phải là sắc và tâm mới có. Đó là một
thí-dụ để chúng ta suy-gẫm về những pháp Bất-tương-ưng khác, như
mạn-căn, sanh, trụ, dị, diệt, phương, thế tốc .v.v.. gồm tất cả là
14 pháp.
5.- Vô-vi
pháp: Như đọan
trên đă có nói, pháp vi-vô là pháp không sanh, không diệt, không
tạo-tác, không thay đổi, xa ĺa tướng hư vọng., tức là thể-tánh của
các pháp. Các pháp vô-vi, đối với phàm-phu th́ khó có thể nói-năng,
nghĩ bàn, so sánh được. Tuy thế, để có một ư-niệm về thể-tánh
chơn-như, nhà chủ trương Duy-thức dựa vào sắc tướng, danh tự để h́nh
dung các pháp vô-vi. Do đó, mà đặt sáu pháp vô-vi sau đây:
a). Hư
không vô-vi: Muốn nói thể-tánh chơn-như, xa ĺa các đều chướng ngại,
giống như hư-không.
b).Trạch-diệt vô-vi: Trạch là lựa chọn, Diệt là diệt trừ, nghĩa là
nhờ các sự lựa chọn đứng-đắn của Trí-huệ vô lậu mà diệt trừ được sự
phiền năo nhiễm trước , chứng ngộ cứu cánh.
c). Phi-trạch
diệt vô-vi: trên th́ nói nhờ sự lựa chọn, đứng đắn của trí-huệ mà
diệt trừ được sự phiền năo nhiếm trước. Nhưng nói thế không có nghĩa
rằng pháp-tánh nhờ có sự diệt trừ phiền-năo mới có được. Pháp-tánh
vốn đă có sẳn, xưa nay là vốn là thanh-tịnh, không có nhiễm ô, không
có sanh diệt, cho nên gọi là phi-trạch diệt vô-vi. Lại có nghĩa thứ
hai là v́ thiếu duyên, nên các phiền-năo nhiễm-ô không hiện; v́ thế
mà pháp vô-vi thanh-tịnh tự hiện ra, không cần có sự trạch diệt.
d).Bất
động diệt vô-vi: Khi đă xa ĺa các phiền-năo, về cơi tịnh lự thứ ba,
thuộc về sắc-giới, dứt bỏ những sự vui buồn, thường tương ưng cùng
xả thọ, không c̣n bị lay động bỡi một sắc tướng ǵ nữa, nên gọi là
bất động diệt vô-vi: Khi đă xa ĺa các phiền năo , về cỏi tịnh lự
thứ ba, thuộc về sắc giới, dứt bỏ những sự vui buồn, thường tương
ưng cùng xả, thọ, không c̣n bị lay động, bởi một sắc tướng ǵ nữa,
nên gọi là ''Bất động diệt vô-vi ''.
e). Tưởng
thọ diệt vô-vi: Khi đă xa ĺa được phiền năo ở cơi thứ ba thuộc về
vô sắc giới, các tâm sở '' tưởng, thọ'' đều tịch diệt, chơn như hiện
ra, nên gọi là '' Tưởng thọ diệt vô-vi''.
f) Chơn
như vô-vi: Năm pháp vô-vi trên này là h́nh dung các đức tánh của
chơn như; pháp thứ sáu này là "Chơn như vô-vi", mới chỉ đích danh
bản thể chơn như.
Để người
đọc dễ nhớ 100 pháp vừa kể trên này, cổ nhân có làm một bài kệ, tóm
tắt như sau.
Nguyên
văn:
Sắc pháp
thập nhất, tâm pháp bát
Ngũ thập
nhất cá tâm sở pháp
Nhị thập
tứ chủng bất tương ưng
Sáu món vô
vị, thành trăm pháp
Dịch
nghĩa:
Sắc pháp
mười một, tâm pháp tám
Năm mươi
mốt món tâm sở pháp
Hai mươi
bốn món bất tương ưng
Sáu món vô-vi
, thành trăm pháp .
VI.-
Phương Pháp tu hành
Như chúng
ta đă biết vũ trụ vạn hữu tuy vô cùng phức tạp, nhưng nhà duy thức
học có thể sắp xếp thành 100 loại (bách pháp). Một trăm loại này,
tuy h́nh tướng công năng có khác nhau, chung cục lại cũng đều Thức
cả.
Vậy phương
pháp tu hành của nhà duy thức học là làm thế nào để chứng ngộ cái lư
nói trên, thế nhập với cái chơn lư ấy. Để đạt được mục đích này nhà
duy thức học dạy phải thực hành 5 pháp quán sau đây, gọi là ''Ngũ
trùng duy thức quán''. với năm pháp quán này,hành giả đi từ thô đến
tế, từ phức tạp đến tinh thuần, để cuối cùng chỉ c̣n thấy có thức
tánh, tức là tâm chơn như.
1.- Bỏ cái
hư giả, lưu lại cái hư thật. (Khiển hư, tồn thật): Bỏ cái hư giả
tức
là các vọng chấp thật có ngă, có pháp do cái tánh ''biến kế chấp''
tạo ra. Lưu lại cái chân thật, tức là cái tánh ''y-tha-khởi'' và
''viên-thành''. Nói một cách khác cho dễ hiểu, trong pháp quán này,
hành giả phải quán ngă và pháp là không thật (hư) để phá trừ cái
chấp thật có. Hành giả lại quán tánh y tha, viên thành là thật có
(thật) để phá trừ chấp không. Trong lối quán duy thức từng thứ nhất
này, ''có'' và ''không'' đối đăi nhau, để bỏ ''biến kế chấp'' lưu
lại ''y tha'' và ''viên thành''.
2.- bỏ cái
lộn lạo, lưu lại cái thuần túy (xả lạm lưu thuần): Cái lộn lạo nói ở
đây là tướng phần (nội cảnh); có thuần túy ở đây là kiến phần. Bỏ
cái lộn lạo, lưu cái thuần túy, tức là bỏ phần ''tướng'' bị duyên
(sở duyên) mà lưu lại cái phần ''kiến'' là phần năng duyên. Đây là
quán thứ hai về lối duy thức, lấy tâm (năng) và cảnh (sở) đối đăi
với nhau, và mục đích là bỏ cảnh (xả lạm) mà chỉ giử lại tâm (lưu
thuẩn). Lối quán thứ nhất là bỏ vọng cảnh ngoài tâm; lối quán thứ
hai này là bỏ cảnh nội tâm là tướng phần của thức.
3.- Đem
cái ngọn trở về gốc (nhiếp mạt quy bổn): Cái ngọn ở đây tức là muốn
nói tướng phần và kiến phần, c̣n gốc ở đây tức là tự chứng phần.
Kiến phần và tướng phần là ''dụng'' đều y theo tuệ chứng phần mà khởi
ra, nên gọi là ngọn; c̣n tự chứng phần là ''thể tánh'' cho nên gọi
là gốc. Lối quán duy thức thứ ba này là đem ''dụng'' và ''thể'' đối
đăi với nhau, mà mục đích là bỏ cái phần thuộc tương đối ít quan
trọng là dụng (kiến phần), chỉ giử lại cái phần căn bản là thể (tự
chứng phần).
4.- Giấu
cái liệt làm hiển lộ cái thắng (ẩn liệt hiển thắng): Cái Liệt muốn
nói ở đây tức là các tâm sở, cái Thắng tức là các tâm vương. Tâm sở
phụ thuộc vào cái tâm vương nên gọi là liệt, hay kém ; tâm vương là
phần sai sử chủ động, nên gọi là thắng, hay hơn. Lối quán duy thức
thứ tư này là đem 51 món tâm sở so sánh với 8 món tâm vương, và mục
đích là dẹp bỏ các món tâm sở và làm hiển lộ 8 món tâm vương.
5.- Bỏ
thưc tướng về thức tánh (khiển tướng chứng tánh): Bốn tầng quán Duy
thức trên, tuy rốt ráo chỉ c̣n giử lại các món tâm vương, nhưng tâm
vương cũng có sự tướng và lư tánh. Lối quán thứ năm này là đem sự
tướng đối đăi với lư tánh, mà mục đích cuối cùng là bỏ sự tướng của
thức (thức tướng) để trở về với lư tánh của thức (thức tánh), tức
cũng là chứng nhập Pháp tánh hay tâm Chơn như (quư độc giả muốn hiểu
rỏ thêm, xin xem bài duy thức quán đạị cương của Ngài Thái Hư Pháp
sư).
Ngoài năm
lớp quán Duy thức của cổ nhơn mà chúng tôi vừa kể trên, c̣n có một
lối tu nữa rất dễ dàng và thiết thực, hợp với đại chúng là chúng ta
thường quan sát và kiểm điểm nội tâm của ḿnh.
Chúng ta
hăy độc kỹ về hai lọai Phiền năo tâm sở và Thiện tâm sở trong Duy
thức, để nh́n rỏ mặt mày tướng trạng, công dụng, tánh t́nh và danh
tự của chúng. Rồi hằng ngày chúng ta kiểm điểm ở nội tâm: Mỗi khi
hiện lên một tâm niệm ǵ, chúng ta kiểm điểm và quan sát thật kỹ tâm
niệm này thiện hay ác (phiền năo). Nếu tâm niệm thiện th́ chúng ta
nuôi dưỡng cho nó phát-triển thêm, c̣n nếu tâm niệm ác th́ chúng ta
mau mau lo diệt trừ đi. Chúng ta biết sữa đổi tâm niệm xấu (tu tâm)
và nuôi dưỡng tánh tốt (dưỡng tánh) như thế th́ chúng ta
sẽ thành được Thánh hiền (xem quyển tu tâm và dưỡng tánh).
VII.- Hành
Giả Phải Trải Qua Năm Địa Vị Trong Khi Tu Duy Thức
Người tu
học pháp môn Duy thức, cũng như kẻ bộ hành, từ khi năy sinh ra cái ư
định muốn đi cho đến tới đích, phải trải qua năm giai đoạn hay năm
địa vị như sau:
1.- Vị tư
lương: Tức là thời gian chuẩn bị như người sắp đi xa, phải chuẩn bị
lương thực trước lúc lên đường.
Trong Duy
thức Tam thập tụng:
Nguyên văn:
Năi chí vị
khởi thức
Cầu trụ
Duy thức tánh
Ư nhị thủ
tùy miên
Do vị năng
phục diệt
Nghĩa là:
Từ khi chưa phát tâm cho đến khi phát tâm cầu an trụ Duy thức tánh,
trong thời gian đó, hai món thủ (ngă chấp, pháp chấp) hăy c̣n miên
phục, hành giả chưa có thể chinh phục diệt trừ được.
2.- Vị gia
hạnh: Hành giă gia công tấn hạnh, cũng như người định đi xa, sau khi
đă chuẩn bị đủ hành lư, cách bước lên đường.
Trong Duy
thức tam thập tụng có chép.
Nguyên văn:
Hiện tiền
lập thiểu vật
Vị thị duy
thức tánh
Dĩ hữu sở
đắc cố
Phi thật
trụ duy thức
Nghĩa là:
Nếu hiện tiền c̣n thấy ḿnh an trụ duy thức tánh, dù nhỏ nhiệm bao
nhiêu th́ cũng chưa phải thật an trụ Duy thứ tánh, v́ c̣n có chổ sở
đắc vậy.
3.- Vị
Thông đạt: Hành giả thông suốt đường lối tu hành, cũng như người bộ hành nghiên cứu kỹ lưỡng con đường ḿnh sắp đi, biết rỏ
đoạn nào tốt, đoạn nào xấu, đoạn nào nguy hiểm, đoạn nào không ...
Trong Duy
thức tam thập tụng có chép:
Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy
Thức
Ly nhị thủ tướng cố.
Dịch là:
Nếu khi đối sở duyên
Trí đều không sở đắc
Mới thật trụ Duy
Thức
V́ đă ĺa hai thủ.
4.- Địa vị tu tập.Trí
thế gian bị phiền năo chướng và sở tri chướng làm trở ngại. Hai cái
chướng này làm cho sự chứng quả Giải Thoát Bồ Đề trở nên khó khăn và
nặng nề mệt nhọc nên c̣n được gọi là hai trọng chướng.
Nguyên văn;
Vô đắc bất tư ngh́
Thị xuất
thế gian trí
Xả nhị thô
trọng cố
Tiện chứng
đắc chuyển y.
Nghĩa là:
cảnh giới "vô dắc" này không thể nghĩ bàn; đây là trí xuất thế gian
vô lậu. Do đă xa ĺa được hai món thô trọng (phiền năo chường và sở
triều chướng), hành-giả chứng được hai món chuyển y (Bồ-Đề và Niết
bàn).
5.-Vị cứu
cánh: Quả vị rốt ráo của sự tu chướng, tức là quả Phật , cũng như
người đi đường đă ḥan toàn tới chỗ.
Trong
Duy-thức tam thaạp tụng có chép:
Nguyên
văn:
Thử tức vô
lậu giới
Bất tư
nghị thiện thường
An lạc,
giải thoát thân
Đại
Mâu-ni danh pháp .
Nghĩa là:
đây là cảnh giới vô lậu, cũng gọi là: a) Bất tư nghị, b)Thiện, c)
Thường, d) An lạc, đ) Giải thoát thân, e) Đại Mâu ni, cũng
gọi là pháp thân (quư vị muốn rơ thêm, xem cuốn Duy-thức học, tập
Và tức là Duy-thức tam thập tụng).
VII.-Kết
Quả Tu Chứng
1.- Bốn trí :
a) Thành-sở-tác trí: Hành-giả: sau khi đă dày công tu luyện pháp mê vọng, năm thức trước của
chúng tánh là nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt và thân thức, duyên với cảnh giới
năm trần là sắc, thanh, hương, vị và xúc trần; nhờ thế mà chúng ta
mới thấy được sắc, nghe được tiếng , ngữi được mùi, nếm được vị và
cảm giác được cảnh giới chung quanh. Nhưng cái giá trị và tầm hoạt
động cũng như công dụng của năm thức ấy
thât nhỏ hẹp và thường hay sai
lạc, nhận giả làm thật. Do đó, chúng ta tạo ra các nghiệp sanh tử
luân hồi, quay cuồng trong lục đạo. Đối với người tu Duy-thức khi đă
thành tựu rồi, th́ năm thức này chuyển ra thành cái trí "thành sở
tác", nghĩa là cái trí này có những công năng vô cùng rộng lớn như
thị hiện thần thông biến hóa, hiện ra ba món hóa thân, để tùy theo
căn cơ của chúng sanh mà hóa độ.
b) Diệu
quán sát trí: Khi đang c̣n ở trong mê thức thứ sáu chỉ biết so đo,
tính toán trong phạm vi nhỏ hẹp, tầm hoạt động không thể bao quát
cùng khắp được, do đó nên nó thường hay sai kạc, lầm lẫn, và lôi
kéo thân và miệng làm nhiều điều tội lỗi, tạo ra các nghiệp sanh tử
luân hồi. Đến khi đă chứng được Duy-thức quả rồi, th́ cái thức thứ
sáu này chuyển thành cái trí diệu quan sát, nghĩa là cái trí quan sát
rất là mầu nhiệm, có thể thấy được hằng
sa thế giới; trong mỗi thế
giới thấy được toàn thể chúng sanh, trong mỗi chúng sanh thấy được
bao nhiêu tâm niệm v.v...Và nhờ sự quan sát huyền diệu rốt ráo
như thế mà tùy theo nguyện vọng, tâm lư, làm lợi lạc cho chúng
sanh.
c)B́nh
đẳng tánh trí: Trong khi mê, thức thứ bảy chấp kiến phần của thức
thứ tám là ngă. Khi đă chấp "ngă" tất nhiên chỉ biết có ngă là quan
trọng nhất, và mọi ư nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói ǵ cũng đều
quy tụ chung quanh cái ngă. Điều ǵ thích hợp với cái ngă th́ yêu
thương, chiều chuộng, cưng dưỡng,
điều ǵ trái với cái ngă th́ khinh
ghét, hất hủi, chà đạp. Do đó, gây ra không biết bao nhiêu là bất
công, bất b́nh đẵng làm xáo trộn, điêu đứng phá hũy cơi trần gian
này. Đến khi chứng được Duy-thức quả, thức thứ bảy này không c̣n
chấp ngă nữa, mà chỉ thấy ḿnh và người , cho đến
loài vật đều như
nhau. Khi đă có được trí b́nh đẵng rồi thi sẽ dùng tâm từ bi hiện đủ
phương tiện, để tùy theo căn cơ mỗi loài mà hóa độ, làm cho chúng
sanh đều được giải thoát.
d). Đại
viên cảnh trí: Khi c̣n mê-mờ bị thức thứ Bảy chấp ngă và bị các
chủng-từ phiền-năo hữu-lậu, nhiễm-ô chi-phối, nên thức thứ Tám không
được sáng suốt thanh-tịnh. Đến khi nhờ tu-hành, chứng được Duy-thức
tánh, th́ thức thứ Tám này trở thành như một cái gương lớn được lau
chùi sạch bụi-bặm, có thể phản chiếu khắp cả mười phương thế-giới,
nên gọi là ''Đại viên cảnh trí''.
2.- Hai
trí:
Bốn trí
trên này, tuy có phân chia khác nhau, tùy theo công năng của mổi thứ,
nhưng rốt lại, có thể gồm hai trí sau đây là Căn-bản trí và Hậu-đắc
trí.
a).
Căn-bản trí: Tức là trí thể, chư Phật có chúng sanh đều sẳn có. Trí
này cũng gọi là Vô phân-biệt trí.
b). Hậu
đắc trí: Tức là trí dụng. Sau khi chứng quả Thánh, được Căn-bản trí
rồi mới được Hậu-đắc trí. Trí này cũng gọi là Sai-biệt trí; nghĩa là
trí phân biệt các pháp do tánh y-tha-khởi mà có sai khác.
Tóm lại,
thành quả rốt-ráo của người tu học Duy-thức là chuyển đỗi được tám
thức thành bốn trí là: Thành-sở-tác trí, Diệu-quán-sát trí,
B́nh-đẳng-tánh trí vá Đại-viên-cảnh trí. Đứng về mặt thể và dụng mà
xét th́ bốn trí này chỉ gồm lại làm hai là: Căn-bản trí và Hậu-đắc
trí. Khi đă được hai trí này hành-giả đă chứng được Duy-thức tánh,
ngộ nhập chơn-tâm, hoàn thành quả Phật.
VIII.- Lợi
Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức
Kết quả
thu hoạcgh được như trên, hành-giả tất phải trải qua nhiều kiếp
tu-hành. Nhưng chúng ta đừng thấy con đường đi quá xa-xôi, diệu vợi
mà nản chí. Vă lại không phải đợi đến khi thu hoạch được kết-quả
cuối cùng mới nhận chân được sự lợi ích của pháp môn này. Ngay trong
khi đang tu học, môn Duy-thức này cũng đă đem lại cho chúng ta nhiều
lợi ích thiết thực cho đời sống hiện tại rồi.
1.- Chúng
ta tự biết được ḿnh một cách rỏ-ràng: Từ hồi nào đến giờ, chúng
ta cho thân tâm này là của tánh, tưởng rằng chúng ta đă hiểu rơ bản thân
tánh nhiều lắm. Nhưng nghĩ cho kỹ, chúng ta chỉ biết sơ sài về ta mà
thôi. Về thân xác này, chúng ta chỉ thấy được những bộ phận ở bên
ngoài như mặt, mũi, tay, chân v.v...Muốn biết các bộ-phận bên trong,
chúng ta tất phải học khoa phẩu thuật.
Về
tâm-tánh chúng ta lại càng dốt hơn nữa. Nhiều khi chúng ta tưởng
hiểu rơ nội tâm của ḿnh, kỳ thật đă lầm nhiều lắm. Vậy muốn rơ biết
tâm-tánh một cách rơ ràng, chúng ta hăy tu học Duy-thức. Như phần
trên đă nói. Duy-thức học đă phân tích, chia-chẻ một cách tường tận,
tỉ-mỉ, tâm-lư của chúng ta , liệt kê ra thành nhiều loại; mỗi loại
có tên riêng, hành-tướng, công-năng, phạm-vi hoạt-động khác nhau như
thế nào. Học Duy-thức, chúng ta thấy được phần nội tâm một cách rỏ
ràng như người cầm gương soi, thấy tất cả những ǵ ở trên mặt. Chúng
ta sẽ biết rơ những tâm-niệm xấu-xa để diệt-trừ (tu tâm), những
tánh-t́nh tốt đẹp để bồi dưỡng (dưỡng tánh). Do đó, chúng ta sẽ trở
thành người hiền lương, đạo-đức.
2.- Chúng
ta thấy được cái chánh-phủ nội tâm của chúng ta: Tâm-lư của mỗi
người mới xem qua thật vô cùng phức-tạp; nhưng nếu suy nghiệm cho kỹ,
chúng ta thấy vẫn có một tố chức gần giống như một liên bang;
Tâm-vương như một vị Tổng-thống của liên bang; các Tâm-vương
khác như các vị đứng đầu của tiểu-bang; các tâm-sở Biến-hành như một
vị Bộ-trưỏng; các Tâm-sở Biệt-cảnh như các vị Tỉnh-trưởng,
Quận-trưởng; các Tâm-sở Bất-định như các vị dân-biểu không đảng phái;
các Tâm-sở Thiện như các vị công-thần liêm-khiết hay các vị
công-chức tân tâm v́ dân v́ nước; các Tâm-sở phiền nảo như những
tham quan ô lại, hay cướp giựt lưu manh v.v... c̣n các chủng-tử (thiện,
ác, vô kư) th́ như toàn thể dân chúng trong liên bang.
Với một
liên-bang nội tâm như thế, nếu chúng ta biết sắp đặt điều ḥa bộ máy
chính-quyền nội tâm cho vững vàng, th́ tất nhiên liên-bang ấy sẽ
vững mạnh, hùng-cường, và văn minh tiến bộ. Trái lại, nếu chúng ta
không nắm vững được bộ máy hành-chính nội-tâm, th́ liên-bang ấy sẽ
loạn lạc, đói khổ và không sớm th́ muộn, sẽ rơi vào vực thẳm tối tăm.
Duy-thức
học giúp cho chúng ta thấy rơ chánh-phủ nội-tâm của ḿnh, để tự điều
ḥa cho được thạnh trị, thái-b́nh.
3.- Chúng
ta trau giồi được một đức tánh tốt đẹp là tánh ''kiên nhẫn'': Học
Duy-thức, trước tiên chính là chúng ta học đức tính kiên nhẫn. Thật
vậy, người không kiên nhẫn không thể học Duy thức đến nơi đến chốn
được, v́ môn học này chia chẻ tâm lư một cách tỷ mỷ, phiền
toái; mỗi
tâm niệm đều cũng nhiều danh từ chuyên môn,và được nghiên cứu kỹ
lưỡng về tánh chất, hành vi, tướng trạng...những người không chịu
khó, tánh t́nh hời hợt, nóng nảy, không thể nào thành công được trên
đường tu học Duy-thức. Cho nên chỉ những người kiên nhẫn mới
thành công, hay ngược lại,muốn thành công th́ phải luyện tập đức
tính kiên nhẫn. Từ xưa đến nay, trong đạo hay ngoài đời, những người
được thành công vĩ đại đều nhờ đức tánh kiên nhẫn.
4.- Chúng
ta giữ thái độ b́nh tĩnh tự tại: Như các đọan trước đă nêu rơ, mọi
sự vật trong vũ trụ này đều do thức biến, chớ không chắc thật. Do đó,
khi gặp điều may mắn, chúng ta không kiêu hănh, ngạo mạn, cống cao;
khi gặp cảnh đau buồn như tử biệt sanh ly...chúng ta bớt khổ năo,
kêu than, giữ được thái độ b́nh tĩnh và cũng cho biết được cơi đời
là giă tạm, như mây bay, như gió thoảng,nên chúng ta không say đắm,
tham lam, luyến tiếc, và nhờ thế, chúng ta bớt dần những nghiệp giữ,
chóng được giải thóat.
5.- Chúng
ta nắm vững ḷng tin: Học
Duy-thức, chúng ta thấy được giá trị cao siêu của nó, nên lại càng
tin tưởng mạnh mẽ vào tôn giáo của chúng ta, một tôn-giáo không phải
dựa trên giáo điều độc đoán, mà dựa trên thực nghiệm, và lấy ngay
nội tâm của con người làm nền tảng cho sự tu học của ḿnh.
IX. Kết
Luận.
Chúng tôi
đă tŕnh bày xong những điểm chính yếu của Duy-thức tôn giáo hay
Pháp tướng tôn. tất nhiên, với phạm vi những bài giảng này, chúng
tôi không thể đi sâu vào chi tiết, tŕnh bày một cách rộng rải, đầy
đủ hơn. Quư vị nào muốn nghiên cứu sâu xa về môn học này, xin hăy
tim trước tiên ba bộ sách chính tông của Duy-thức là: Đại-thừa Bá
Phát minh môn luận (Duy-thức nhập môn), Duy-thức Tam Thập Tụng và Bát
Thức Quy Củ tụng; sau đó sẽ nghiên cứu thêm những tập sách khác hiện
đă xuất bản rất nhiều ở Việt-Nam .
Tuy thế,
sau khi xem qua nội dung bài này, quư vị có thể quyết định được con
đường tu hành của quư vị rồi. Nếu quư vị thấy đây là một con đường
tu hành thích hợp và thiết thực lợi ích đối với ḿnh th́ xin hăy hạ
thủ công phu ngay, nghĩa là ngày đêm quan sát kiểm thảo tâm thức của
ḿnh. Như quư vị đă biết, trong mỗi chúng ta đều có sáu đầu đảng
giải quyết là sáu món Căn bản phiền năo. Sáu đầu đảng này lại có hai
mươi tên bộ hạ nguy hiểm là 20 Tùy phiền năo. Chính bọn giặc cướp
này, từ vô thỉ đến nay phá hoại chúng ta vô cùng vô tận, làm cho
chúng ta điêu đứng và trầm luân trong biển khổ sanh tử luân hồi. Nếu
ngày nay biết được sự tàn phá của chúng, quyết tâm diệt trừ, không
cho chúng hoành hành, chắc chắn cuộc đời chúng ta an cư lạc nghiệp (xong
cuốn tu tâm).
Hơn nữa,
bên cạnh những bọn giặc cướp ấy, chúng ta c̣n có những anh hùng
nghĩa sĩ, chuyên làm các việc thiện là 11 món tâm sở thiện. Với
những vị hảo hán này, chúng ta phải luôn luôn ân cần trọng đăi,
khuyến khích cổ vơ để cho họ càng thêm hăng hái và mạnh mẽ làm các
việc lành (xem quyển Dưỡng Tánh).
Một khi
các tâm niệm xấu xa hoàn toàn tiêu diệt, các đức hạnh tốt hoàn toàn
đầy đủ, chúng ta sẽ thành Phật quả.
Cầu mong
quư vị thành công.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 8
Mười Tông
Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa
(tiếp theo)
7.-
Hoa Nghiêm Tông hay là Hiền Thủ Tông
I. Duyên
Khởi Lập Tông
Tôn này
thuộc về Đại-thừa, căn cứ theo giáo-nghĩa trong kimh Hoa-nghiêm là
một bộ kinh cao nhất mà Đức-Phật đă nói ra, nên gọi là Hoa-nghiêm
tôn.
Người sáng
lập ra tôn này là Ngài Đỗ-thuận một vị Ḥa-thượng đời Đường. Ngài đă
thâu góp ư-nghĩa mầu-nhiệm của kinh Hoa-nghiêm, làm ra ba bộ "Pháp-giới
quán".
Người kế
vị Ngài Đỗ-thuận là Ngài Trí-nghiễm, ở chùa Trí-tướng. Ngài
Trí-nghiễm đă làm ra nhiều bộ luận có giá trị để giải bày nghĩa lư
của tôn này như các bộ: ''Sưu huyền kư'', ''thập huyền môn'', ''Ngũ
thập yếu vấn đáp''.
Vị thừa kế
Ngài Trí- nghiễm và đă có nhiều công nghiệp lớn đối với Tôn này là
Ngài Pháp tạng, cũng gọi là Hiền-Thủ quốc sư. Ngài đă làm ra bộ ''Thám
huyền kư'' và nhiều chương số khác, khiến cho Hoa nghiêm tôn rất
được thạnh-hành và phát triển trong đời Ngài. Do đó, Tôn này cũng
thường gọi là Hiền thủ tôn. Sau khi Ngài Hiền thủ qua đời được ít
lâu, kinh Hoa nghiêm được dịch lại bằng tiếng Hán văn bộ mới, Ngài
Trừng quán, tức là Thanh lương quốc sư, dựa theo ư nghĩa bộ Hoa
nghiêm mới dịch này mà làm ra bộ ''Hoa nghiêm số sao'', bày giải
nghĩa lư rộng răi, sâu xa mầu nhiệm của kinh Hoa nghiêm. V́ thế, Hoa
nghiêm tôn lại càng được người đời sùng mộ, nhất là trong giới
thượng lưu trí thức nước Tàu.
II.-Tôn
Chỉ Và Giáo Lư Căn Bản
Trong các
bộ kinh của Đức Phật, kinh Hoa-Nghiêm là bộ kinh có ư nghĩa cao siêu,
mầu nhiệm nhất. Chỉ những vị đại đệ tử, căn cơ minh mẫn, lanh lẹ mới
có thể hiểu thấu được. Do đó, Hoa-Nghiêm tôn chỉ thích hợp với những
ai đă có một căn bản Phật pháp vững chắc và đă quen với lối suy luận
trừu tượng của giáo lư nhà Phật. Đem một giáo lư uyên thâm của Phật
pháp ra tŕnh bày trong một tập sách phổ thông như thế này, thật khó
mà nói cho rơ ràng, đầy đủ nghĩa lư của Hoa-Nghiêm tôn. Tuy thế, để
có một bộ sách gồm đầy đủ mười tôn phái của Phật giáo Trung Hoa, và
để quư độc giả có đủ tài liệu để so sánh sự sai khác của mỗi tôn,
chúng tôi không thể không nói đến Hoa-Nghiêm tôn, trong khi điểm qua
tôn chỉ và giáo lư căn bản của mười tôn. Chúng tôi sẽ cố gắng tŕnh
bày một cách giản dị, gọn gàng về giáo lư đặc sắc của tôn này, và
cũng mong mơi quư độc giả theo dơi một cách chăm chú sự tŕnh bày
này, ngơ hầu vấn đề được sáng tỏ.
Tôn này
được gọi là ''Viên giáo'', nghĩa là giáo lư Viên dung hoàn toàn đầy
đủ.
Tôn của
chủ trương ''pháp giới duyên khởi'' , nghĩa là vũ trụ vạn hữu trùng
trùng do nhân duyên ḥa hợp mà thành. Nói một cách khác, mọi sự vật
trong vũ trụ bao la, là một vật nhỏ như hạt bụi, cho đến một vật lớn
như trăng sao, đều nương vào nhau, làm nhân làm quả, lớp lớp không
cùng tột, dung thông nhau, ảnh hưởng lẫn nhau mà có. Mỗi pháp, trong
vũ trụ không thể tồn tại riêng rẽ, biệt lập mà tự có được. Cái này
có là nhờ cái kia, cái kia có là nhờ cái này. Cái này và cái kia
tương quan, tương duyên, lớp lớp không cùng tột, cho nên gọi là ''vô
tận duyên khởi'' hay ''trùng trùng duyên khởi''.
V́ là
trùng trùng duyên nhau, nên một là hết thảy, hết thảy là một, mọi sự
vật trong vũ trụ đều dung thông nhau. Và do đó, trong kinh
Hoa-Nghiêm đă nêu lên pháp môn ''sự sự vô ngại pháp giới''.
Để hiểu rơ
nghĩa lư của pháp môn này, chúng tạ hăy đi theo pháp quy nạp gồm
có 4 giai đoạn sau đây, cũng gọi là 4 pháp giới:
1.- Sự
pháp giới: Sự là nói về các h́nh tướng sai biệt các pháp trong vũ
trụ, các pháp đều có giới hạn rơ ràng như nước lạnh,
nước đá, nước sôi, hơi nước, đều có tướng trạng khác nhau. Đó là
đứng về sự mà quan sát vũ trụ vạn hữu hay nói theo danh từ đạo Phật
là "Sự pháp-giới ".
2.- Lư
pháp-giới: Lư là nói về các phần bên trong, vô h́nh của sự vật. Đây
tức là lư tánh b́nh đẳng, chổ nương tựa cho tất cả sự tướng; lư dung
thông cho khắp tất cả, nước lạnh, nước đá, hơi nước, tuy tướng trạng
khác nhau, nhưng thể tánh vẩn là một (nghĩa là gồm H2+O).
Vũ trụ vạn
hữu không chỉ có phần sự tướng mà c̣n phần lư tánh nữa. Đó tức là
"Lư pháp-giới".
3.- Lư sự
vô ngại pháp-giới: Như trên chúng tạ đă thấy, mỗi pháp đều có Sự
và Lư, do nơi Sự mà rơ, sự nương vào Lư mà thành. Lư và Sự dung
thông, như nước tức là sóng, sóng tức là nước. Lư, Sự trong
pháp-giới cũng dung thông, vô ngại. Đó là lư nghĩa của "Lư, Sự vô
ngại pháp-giới ".
4.- Sự vô
ngại pháp-giới: Trong pháp-giới, có hằng hà
sa số sự vật, h́nh
tướng tuy khác nhau, giới hạn tuy bất đồng nhưng lư tánh dung thông
b́nh đẳng, không có phân chia ngăn cách. Nhờ lư, mà sự sự được dung
thông vô ngại. Như các vật dụng bằng điện, nào quạt điện, đèn điện,
máy lạnh, ủi điện, ḷ xo .v.v...tuy mỗi vật đều có h́nh dáng, công
dụng sai khác, nhưng đều thông nhau qua luồng điện chi phối lẩn nhau,
ảnh hưởng qua lại. Một thí dụ khác: nhiều hồ chứa nước, h́nh dáng,
rộng hẹp khác nhau, nhưng ăn thông với nhau bằng những ống nước, do
đó sự đầy vơi, nhớp sạch của một hồ này đều liên quan mật thiết đến
tất cả các hồ khác.
Trên đây
là những thí dụ vô cùng thô hiển, cốt để gợi lên một ư niệm về "Sự
sự vô ngại Pháp-giới " thôi, chứ không đúng hẳn. Trong hai thí dụ
trên, chúng ta thấy những vật dụng điện khí hay những hồ nước để
h́nh dung cho Sự Sự trong pháp giới; và lấy những luồng điện hay
luồng nước để h́nh dung cho Lư của pháp-giới; thí dụ như thế, người
ta sẽ tưởng rằng Sự và Lư là hai loại khác nhau, có thể phân tách
ra được. Nhưng thật ra Lư và Sự không thể phân tách ra được: trong
Sự có Lư, trong Lư có Sự. Sự ,Lư chẳng qua là hai phương diên của
một vấn đề vô cùng tế nhị, mà lư trí của chúng ta đă phân tách ra để
tạm nghiên cứu đó thôi.
Để tóm tắt
ư nghĩa của 4 pháp-giới này, chúng tôi xin nói một cách giản dị như
sau:
Pháp-giới
gồm có triệu sự vật khác nhau, như A, B, C ...(Sự pháp-giới ).
Trong mỗi
sự vật đều có lư tánh b́nh đẳng, mà chúng tôi h́nh dung là L (lư
pháp-giới).
Lư tánh
b́nh đẳng ấy dung thông với tất cả mọi sự vật, như A=L; B=L; C =L.
(Lư, Sự vô ngại pháp-giới).
Nhờ lư
tánh dung thông với mọi sự vật, mà mọi sự vật trong vũ trụ trở thành
dung thông nhau, vô ngại đối với nhau, như A =C ...(Sự sự vô ngại
pháp-giới).
Sáu Tướng
Và 10 Lư Huyền diệu Của các Pháp
Trong
pháp-giới, sở dỉ Sự sự được vô ngại, dung thông là đều do các pháp
có đủ ''sáu tướng'' và "mười lư huyền diệu" sau đây:
Sáu Tướng
Viên Dung
Dựa theo
bộ kinh Hoa-Nghiêm, Ngài Bồ Tát Thế Thân đă làm ra bộ "Thập địa luận"
để giải thích nghĩa lư của sáu tướng (Lục tướng). Sáu tướng này được
gọi là Viên-dung, v́ nó có những đức tính viên mản, dung-thông
vô-ngại. Sáu tướng của sự vật trong vũ trụ ấy là:
1.- Tổng
tướng: tổng tướng là cái tướng bao trùm tất cả, tổng cộng tất cả các
tướng sai biệt. Như khi ta nói đến cái nhà, là gồm tất cả cột-kèo,
tường mái, đá, gạch ...vậy cái nhà tức là tổng tướng.
2.- Biệt
tướng: biệt tướng là nói các tướng riêng biệt; nhiều biệt tướng cộng
lại thành tổng tướng. Như các biệt tướng trong cái nhà là: cột, kèo,
mái, tường, gạch ...Đă có Tổng tức là phải có Biệt; nếu không có
biệt th́ cũng không thể lấy cái ǵ mà gọi là tổng.
3.- Đồng
tướng: Đồng tướng là cái tướng chung cùng, dung ḥa với nhau, không
ngăn ngại nhau, không trái chống nhau. Như kèo, cột, tường, mái, tuy
khác nhau, nhưng không ngăn ngại nhau mà vẩn đồng hướng chung về một
cái nhà.
4.-
Dị-tướng: Dị-tướng là các tướng riêng biệt, cái này, cái kia, h́nh
tướng không giống nhau, mặc dù vẫn cùng nhau dung ḥa để gánh vác
một nhiệm vụ chung; như cột, kèo, tường , mái trong một cái nhà,
không cái nào giống cái nào, dị tướng không phải là biệt tướng, cũng
như đồng tướng không phải là tổng tướng.
Như một
trăm đồng bạc là tổng tướng. Tổng tướng này là tổng cộng của các tờ
bạc: một tờ 50 đồng, hai tờ 20 đồng, một tờ 10 đồng (50+40+10=100).
Những tờ giấy bạc 50, 20,10 là biệt tướng. Những tờ giáy bạc này to,
nhỏ, h́nh ảnh, màu sắc khác nhau, là dị tướng. Mặc dù h́nh tướng
khác nhau, nhưng cũng là những tờ bạc cả, tánh chất "bạc" là đồng
tướng.
5.- Thành
tướng: Thành-tướng là tướng thành tựu. Sự chung cùng đễ thành ra một
cái ǵ, đó là thành-tướng. Như cái nhà là sự thành tựu của các cái
cột, kèo, tường, mái ...vậy cái nhà, đứng về phương diện công dụng
đễ ở, là thành tướng của các cột, kèo, tường, mái...nếu lấy thí dụ
100 đồng, th́ số tiền này là thành tướng của những tờ 50 đồng, 20
đồng và 10 đồng. Nhờ sự kết họp của những số tiền này mà có được số
bạc 100 đễ mua được một vật ǵ đó, như thế là thành tướng.
6.- Hoại
tướng: Hoại tướng là cái tướng độc lập của các pháp. Như cột, kèo,
tường, mái trong khi hợp tác với nhau, đễ thành cái nhà, th́ vẫn giữ
cái địa vị riêng của nó là cột, kèo, tường, mái chứ không phải v́
thành cái nhà mà chúng nó không c̣n là cột, kèo, tường, mái nữa.
Cũng như trong khi hợp thành số bạc 100 đồng, các tờ giấy bạc 50,
20, 10 đồng vẫn là những tờ giấy bạc 50, 20, 10 đồng vẫn giữ cái giá
trị riêng của mổi thứ.
Sáu tướng
này phân ra làm ba đối, gọi là "Tam đối lục tướng ".
-Tổng,
Biệt cùng đối nhau thuộc về Thể.
- Đồng, Dị
cùng đối nhau thuộc về Tướng.
- Thành,
Hoại cùng đối nhau thuộc về Dụng.
Nếu chúng
ta lấy con sư tử bằng vàng làm ví dụ th́ toàn thể thành h́nh của
nó là tổng tướng; mỗi bộ phận riêng lẽ như tai, mắt, mũi lưỡi là
biệt tướng; chất vàng của nó là đồng tướng; mỗi bộ phận có h́nh dáng
riêng khác là dị tướng; mỗi bộ phận cộng tác ḥa hiệp với nhau để
h́mh thành một con sư tử là Thành tướng; nhưng mỗi bộ phận đều có
phạm vi riêng biệt, tự lập của nó là Hoại Tướng.
Khi chúng
tạnh nói đến Tổng, Đồng, Thành là nói về phương diện toàn thể, Viên-dung
b́nh đẳng của bản thể vũ trụ; khi chúng ta nói đến Biệt, Dị, Hoại là
nói về phương diện hiện tượng giới, trong ấy mỗi mỗi sự vật đều phơi
bày riêng lẽ khác nhau. Theo trong kinh Hoa-Nghiêm th́ Tổng, Đồng,
Thành, Tướng thuộc về môn viên dung; c̣n Biệt, Dị, Hoại, Tướng thuộc
về môn hàng bố (nghĩa là hiễn lộ, phơi bày la liệt). Một bên là b́nh
đẳng, một bên là sai biệt. Nhưng b́nh đẳng và sai biệt là tương tức tương nhập, viên dung không. Tương tức nghĩa là cái này tức cái kia,
như nước tức là sóng; tương nhập nghĩa là ăn nhập với nhau, dung
thông nhau, như mặt gương này và mặt gương kia phản chiếu vào nhau
không cùng mà không cản trở ǵ nhau. V́ tương
tức, tương nhập, nên
ĺa tổng tướng thời không biệt tướng, ĺa đồng tướng th́ không dị
tướng, ĺa thành tướng th́ không hoại tướng. Tóm lại, viên dung
không ĺa hàng bố, hàng bố không ĺa viên dung, viên dung tức hàng
bố hàng bố tức là viên dung. Hết tháy các pháp đều đủ 6 tướng ấy,
không một pháp nào là không viên dung tự tại, tức, nhập không ngại.
V́ thế cho nên gọi là 6 tướng viên dung. Đấy là ư-nghĩa huyền diệu
cúa Hoa-Nghiêm nhất thừa viên giáo.
Mười Lư
Huyền Diệu Của các Pháp Hay Mười Huyền Môn
Ngoài sáu
tướng nói trên, các pháp c̣n có mười lư huyền diệu, hay mười đức
tính huyền diệu, mà bộ kinh Hoa-Nghiêm sớ sao và bộ Tham Huyền Kư
của Ngài Hiền Thủ có giải thích như sau:
1.- Môn ''đồng thời đầy đủ các pháp tương ứng'' (đồng thời cụ túc tương
ưng): Nghĩa là
trong mỗi một pháp nào đồng thời cũng có đủ, hàm chứa tất cả các
pháp khác trong vũ trụ. Như một giọt nước có đủ khí vị của muôn
ngàn sông, biển.
2.- Môn ''rộng và hẹp tự tại không ngại '' (quảng hiệp tự tại vô ngại): Nghĩa
là một vật gọi là lớn, chưa hẳn là lớn, vật gọi là nhỏ chưa hẳn là
nhỏ. Nhờ cái lư dung thông, một vật nhỏ như đầu mải lông, có thể
chứa được thái hư mà c̣n rộng một vật như thái hư , có thể nằm gọn
trong đầu mải lông, mà không chật. Đây muốn nói rằng, trong pháp
giới, sự sự đă vô ngại, dung thông, th́ quan niệm về sự rộng hẹp,
lớn nhỏ đều là những danh từ suông, không có biên giới nhất định
giữa một vật này với một vật khác: Một vật nhỏ như vi trần có liên
quan đến vũ trụ; một vật lớn như vũ trụ có liên quan đến một vi
trần. Cho nên kinh Hoa-Nghiêm có chép: ''trong một mảy trần, hết
thảy cỏi nước rộng rải an tụ''.để giải thích ư nghĩa này, kinh
thường dạy: "Sự Lư mà được dung thông, tự tại không ngăn ngại".
3.- Môn
"một và nhiều dung nhau không đồng" (nhất, đa tương dung bất đồng): Nghĩa là về số lượng, một và nhiều vật có thể dung nạp lẫn nhau, mà
vẫn không phá hoại cái tướng riêng biệt (an lập) của mỗi vật. Như
muôn ngàn ngọn đèn thắp sáng trong một gian nhà, ngọn này ngọn kia
lẫn hiệp với nhau, nhưng ngọn nào vẫn có ánh sáng riêng của nó
4.- Môn
"các pháp tương tức tự tại" (chư pháp tương tức tự tại): Nghĩa là
các pháp cùng dung, cùng tức, không ngăn ngại nhau. Như một pháp khi
bỏ ḿnh đồng với các pháp khác, th́ toàn thể đều nơi pháp kia; nếu
một pháp nhiếp thâu các pháp đồng về ḿnh, th́ hết thảy các pháp kia
lại về một nơi pháp thâu nhiếp ấy. Cũng ví như chất vàng với sắc
vàng, hai pháp ấy không rời nhau.
5.- Môn "ẩn
mật tỏ rơ đều thành" (bí mật ẩn hiện câu thành): Nghĩa là một pháp
có nhiều phương diện, khi phương diện này hiển th́ phương diện kia
ẩn; khi phương diện kia ẩn , th́ phương diện này hiển; trong ẩn có
hiển; hiển ẩn đắp đổi nhau mà thành tựu. Sự ẩn hiển cũng không nhất
định cái nào sau cái nào trước, cũng không ngăn ngại, chống đối nhau.
Như một pho tượng bằng vàng, khi chú ư đến vàng th́ không thấy cái
đẹp của pho tượng, khi chú ư đến pho tượng th́ không thấy vàng. Tóm
lại, khi cái đẹp hiển th́ vàng ẩn, khi vàng hiển th́ cái đẹp ẩn.
6.- Môn
"vi tế dung nhau, an lập" (vi tế tương dung an lập): Vi tế nghĩa là
nhỏ nhiệm mà rơ ràng. Môt vật nhỏ nhiệm này mà bao trùm một vật nhỏ
nhiệm khác, mà không cản trở nhau, không phá hoại cá tướng của nhau.
Như một hạt nước bao gồm nhiều hạt nước, mỗi hạt nước gồn nhiều hóa
chất, mỗi hóa chất gồm nhiều nguyên tử, mỗi nguyên tử gồm nhiều điện
tử, giữa những điện tử có cái nhân: Mỗi thứ đều dung nhau và an lập
trong nhau.
7.- Môn
"cảnh giới tướng vơng nhơn-đà-la" (Nhơn đà la vơng cănh giới): Nhơn
đà la tức là phiên âm chử Indra là cỏi trời Đế Thích. Theo Bà la môn
, th́ trên cỏi trời Nhơn đà la , có cái màn lưới bằng bửu châu chói
hiện đến muôn trượng, hạt này hạy khác phản chiếu nhau, chói sáng
nhau, lớp lớp không cùng tận. Môn này cũng như vậy: trong mỗi pháp
có nhiều pháp khác, trong nhiều pháp khác lại có nhiều pháp nữa. Cứ
thế nhân măi lên cho đến vô cùng tận. Kinh Hoa-Nghiêm có chép; "Hết
thảy thế giới đều như màn lưới Nhơn đà la".
8.- Môn
""nhơn sự rơ pháp, sanh trí hiểu biết" ( pháp sự hiểu pháp sanh
giải): Nghĩa là nhờ sự mà hiểu được lư; nhưng khi lư đă rơ, th́ lư
lại lan rộng làm cho chúng ta hiểu rộng sâu xa qua nhiều sự khác.
Đây muốn nói trí hiểu biết lan rộng dung thông qua sự vật, như vết
dầu lan trên mặt nước, chỉ một tia lửa bừng cháy rất xa.
9.- Môn "mười
đời cách pháp dị thành" (thập thế cách pháp dị thành): Đây muốn nói
thời gian mặc dù cách biệt nhau từ quá khứ đến hiện tại qua tương
lai, nhưng chính nhờ thế mà các pháp được thành tựu một cách dễ dàng.
Tại sao chia thời gian thành mười đời mà không chia làm ba đời? Đáng
lẽ chỉ nói quá khứ, hiện tại và tướng lai là đủ. Nhưng muốn chia một
cách rốt ráo, tinh vi, trong kinh chia mười đời như sau; trong quá
khứ cũng gồm có quá khứ, hiện tại và tướng lai; trong hiện tại cũng
gồm như thế và trong tướng lai cũng vậy: ba đời mỗi đời chia nhỏ
thành chín. Nhưng nếu chia nhỏ như thế mà không có ư niệm tổng quát
so sánh liên hệ với nhau th́ cũng không có được ư niệm về thời gian.
V́ thế cho nên về chín niệm ấy, c̣n cộng thêm một niệm tổng (tổng
quát) nữa, thành ra mười.
10.- Môn
"chủ và bạn nương nhau làm đầy đủ công đức sáng suốt hoàn toàn" (chủ,
bạn, viên minh cụ đức): Như chúng ta đă thấy ở các phần trên: các
pháp nương nhau mà thành. Nếu ta lấy một pháp làm chủ, th́ các pháp
khác là bạn. Chủ và bạn nương nhau làm đầy đủ công đức, lớp lớp
không cùng tận, như mặt trăng sáng trên không, chung quanh đó vây
những v́ sao nhấp nháy, rồi trên mặt đất bao nhiêu sông ng̣i, ao hồ
lại phản chiếu ánh sáng trăng sao ở trên không, làm cho cảnh vật ở
khắp nơi rạng rỡ.
Tóm lại,
mười lư huyền diệu này cộng với sáu tướng nói trên của các pháp là
nguyên nhân giải thích v́ sao "sự sự được vô ngại" trong pháp giới,
và cắt nghĩa một cách đầy đủ giáo lư "trùng trùng duyên khởi" mà
Hoa-Nghiêm tôn chủ trương.
III.-
PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH
Giáo lư
căn bản của Hoa-Nghiêm tôn đă sâu xa mầu nhiệm, th́ phương pháp tu
hành tất nhiên củng phải cao siêu, mầu nhiệm mới đưa hành-giả đến
chổ cứu cánh tu hành. Tựu trung, trong các phương pháp tu hành ấy,
ba pháp quán về pháp giới sau đây được xem là các pháp môn trọng yếu
và có hiệu quả rốt ráo nhất:
1.-Chơn
không quán:"Chơn" có nghĩa là chơn thật, không hư vọng; "không" nghĩa là
không bị sắc tướng chi phối, ngăn ngại.
Pháp quá
này dựa trên "lư pháp giới" mà lập ra. Mục đích của pháp quán này là
dứt vọng t́nh, rơ chơn tánh , khiến cho hành-giả thấy sắc mà không
bị sắc ngăn ngại và nhận được rằng toàn thể là chơn không; thấy
không, mà nhận được rằng đó không pphải là không hẳn (đoạn không)
mà toàn là chơn tánh. Tóm lại, pháp quán này nh́n thấu qua được sự
đối đăi giả dối của cái không và cái có, để nhận rơ được cái "lư của
vũ trụ (lư pháp giới) là chơn không " (đă giăi ở trên)
2.-Lư sự
vô ngại quán: Pháp quán này y theo "lư sự vô ngại pháp giới" mà lập
ra." Lư" là thể tánh thanh tịnh sáng suốt; "Sự" là h́nh tướng phận
hạn của các pháp. Lư, Sự vô ngại, như trong phần giáo lư căn bản đă
có nói ở trước, nghĩa là Lư và Sự không phải hai loại chống nhau,
ngăn cách nhau, mà trái lại, dung thông nhau. Lư, Sự thấu suốt, viên
dung không ngại nên gọi là "Lư, Sự vô ngại quán".
Theo pháp
quán này, hành giả quan sát cái sắc tướng của một mảy trần mà khám
phá ra được cái lư của vũ trụ. Tức là qua cái tướng hư giả của sự
vật mà thấy được cái tánh sáng suốt của nhứt chơn.
3. Châu
biến hàm dung quán: Pháp quán này dựa trên cái lư "Sự sự vô ngại
pháp giới" mà lập ra. " Châu biến" mà lan ra, biến hóa cùng khắp tất
cả; "Hàm dung" là bao gồm, thâu nhiếp hết, dung thông tất cả. "Châu biến hàm dung quán" là pháp quán nhằm mục đích nhận chân được
rằng: cái pháp một và nhiều không ngại nhau, lớn và nhỏ trùng nhau,
dung nhiếp lẫn nhau, lớp lớp không cùng tột, ẩn hiện tự tại, đồng
thời tương tức tương nhập, thâu nhiếp, dung thông nhau cho đến vô
cùng vô tận, trùm chứa cả vũ trụ bao la.
Theo pháp
quán này, hành giả quan sát cái Lư nơi một Sự, rồi do một Sự ấy mà
mỗi mỗi Sự khác cũng đều thấy rơ. Hành giả lại quán mọi Sự tức nơi
Lư, rồi theo Lư ấy mà mỗi mỗi Sự đều dung thông.
IV. QUẢ VỊ
TU CHỨNG
Theo Hoa
Nghiêm tôn, giải-thoát vẫn không phá hoại thế-gian tướng; nói một
cách khác, không phải phủ nhận thế gian tướng mà có thể t́m thấy giải
thoát ở một nơi nào khác. Ngay trong thế gian này, nếu hành giả phân
biệt được chân vọng, khử trừ điên đảo, khiến cho tâm thanh tịnh để
cùng thật tại nhất trí: Đó là giải thoát.
Quan niệm
về giải thoát của Hoa-Nghiêm tôn này không khác với Thiên Thai tôn,
nghĩa là đều chủ trương một cách lạc quan rằng chúng sanh và Phật
không sai cách: không nhận chân được lư trùng trùng duyên khởi, sự
sự vô ngại pháp giới, là chúng sanh; giác ngộ được chân lư trên là
Phật.
V.- Kết
Luận
Hoa-Nghiêm
tôn v́ y theo bộ kinh cao nhất của Phật mà thành lập, nên được liệt
vào hạng viên giáo, nghĩa là giáo lư hoàn toàn viên măn. Và cũng v́
là viên giáo cho nên phải cần một căn trí thông lợi mới tu theo
được.
Vậy hành
giả, trước khi muốn lựa con đường này để tiến bước cần phải cân nhắc
cho kỹ lưỡng, nhất là cần phải t́m nghiên cứu thêm cho thấu đáo. Nếu
thấy nó khó hiểu quá cao đối với căn cơ của ḿnh, th́ tốt hơn, nên
t́m một con đường khác, bởi v́ con đường nào, cuối cùng cũng đưa đến
giải thoát cả.
Nhưng nếu
quư vị nào nhận thấy căn cơ của ḿnh có thể theo kịp giáo lư huyền
diệu của tôn này,th́ đó cũng là một diễm phúc lớn. Trí tuệ quư vị sẽ
nếm được hương vị thanh cao nhất của đạo nhiệm mầu, và sự tu hành
của quư vị cũng mau đến đích, v́ quư vị đă trèo theo con đường thẳng
đứng để lên đỉnh núi "giải thoát". Bao giờ con đường thẳng đứng cũng
khó trèo, nhưng mau đến đích hơn những con đường ṿng quanh cọ.
Trong vấn đề tu hành cũng vậy.
8.-
Tam
Luận Tông hay là Tánh Không Tông
I.- Duyên
Khởi Lập Tông
Tôn này
căn cứ vào ba bộ luận sau đây mà thành lập, nên gọi là Tam Luận
tôn.
1.- Bộ
Trung luận, gồm có bốn quyển, do Ngài Bồ tát Long Thọ làm ra, mục
đích chính phá chấp của Tiểu Thừa và kèm một phần phụ đă phá sai lầm
của ngoại đạo.
2.- Bộ
Bách luận, gồm có hai quyển do Ngài Bồ tát Đề Bà làm ra, mục đích
chính là phá chấp của ngoại đạo và kèm một phần phụ phá chấp của
Tiểu Thừa.
3.- Bộ
Thập Nhị Môn luận, gồm có một quyển, cũng do ngài Long Thọ làm ra,
mục đích phá cả Tiểu Thừa và ngoại đạo.
Tóm lại,
ba bộ luận trên đây, đều phá sự thiên chấp sai lầm của Tiểu Thừa và
ngoại đạo và mục đích cuối cùng là làm sáng tỏ nghĩa lư sâu xa, mầu
nhiệm của Đại Thừa.
Tôn này
được thạnh hành ở Trung Hoa trong đời Dao Tần do công đức hoằng
dương của ngài Cưu Ma La Thập, và trong đời Đường do công đức của
ngài Đại sư Gia Tường.
II.- Tôn
Chỉ Và Giáo Lư căn bản
Như chúng
ta đă thấy trong nội dung của ba Bộ luận căn bản nói trên, chủ
trương của tôn này là phá các điệu tà chấp, nêu bày chánh lư.
Theo Tam
luận tôn, là chấp có bốn loại:
1. Tà chấp
của ngoại đạo: ngoại đạo tức là những học phái hay tôn giáo khác với
Đạo Phật. Ngoại đạo v́ không thấu rơ lư ngă không và pháp không, nên
theo chấp chặt tà kiến, như tà nhơn, tà quả, không nhơn mà có quả,
có nhơn mà không quả...những cái chấp nầy cần phải đả phá.
2. Chấp
trước của Tiểu Thừa Tỳ đàm tôn: Tiểu Thừa Tỳ đàm tôn tức là Câu xá
tôn. Tôn này chủ trương lư ngă không, pháp hữu, nghĩa là cho rằng
cái ngă nơi thân người là không có, nhưng các pháp là có. Quan niệm
sai lầm về pháp hữu ấy cần phải phá trừ.
3. Chấp
trước của Thành thật tôn: Tôn này, tuy chủ trương ngả pháp đều không,
nhưng lại chấp cái "không" ấy là thật "có" (thật có một cái không),
chứ không biết rằng cái "không " ấy cũng không hoàn toàn là không,
cho nên cần phải phá trừ.
4. Chấp
trước của người tu về Đài thừa: Người tu về Đại Thừa không c̣n những
chấp trước mê lầm về ngă, pháp của ngoại đạo và Tiểu Thừa,đă đoạn
trừ những thành kiến chấp có, chấp không, chấp đoạn, chấp thường,
nhưng c̣n có một số người ôm chặt cái sở đắc của ḿnh, nghe nói "có"
th́ sa vào có, nghe nói "không" th́ trệ vào không, nghe nói "trung
đạo" th́ chấp trước về trung đạo. Cho nên cần phải phá trừ những
chấp trước ấy.
Có người
hỏi: Tam luận tôn chủ trương phá tà như trên, có thể gọi là đầy đủ
lắm, nhưng c̣n phần hiển chánh th́ như thế nào?
- Xin thưa:
Phá hết tà, tức là hiển chánh. Phá cũng tức là lập. Trừ mê tức là
ngộ. Như vậy tà chấp đă bị phá, thời chánh lư tự bày, ngoài sự phá
tà, không có chánh lư nào riêng nữa.
Trong bộ
"tam luận huyền nghĩa" có nói: Sự phá tà hiển chánh phân làm bốn
loại:
1. Phá mà
không thâu, nghĩa là trước một đối thủ nói không hợp đạo, th́ chỉ
phá mà không thâu.
2. Thâu mà
không phá, nghĩa là đối với người chủ trương hợp với chân lư th́ chỉ
cần thâu mà không phá.
3. Cũng
phá mà cũng thâu, nghĩa là đối vơi người học đạo mà c̣n đầy ḷng mê
chấp, th́ phải phá trừ chỗ mê chấp và thâu lại giáo nghĩa mà họ đă
hiểu lầm.
4. Không
thâu mà cũng không phá, đây là trường hợp khi đă tiêu trừ ba loại
nói trên, quy về một chơn thật tướng: đến đây th́ đă xa ĺa nói phô,
bặt dứt niệm lự, không thể nói rằng phá, không thể nói rằng thâu.
Chủ trương
phá phá tà hiển chánh trên này có thể cô đọng trong bốn chử sau
đây:"Trung đạo bát bất".
Trung đạo
tức là đao lư viên dung cũng gọi là đệ nhứt nghĩa đế, nghĩa là cái
chơn lư cùng tột, không ǵ hơn.
Bát bất
tức là tám cái "Bất" ( chẳng phải):
Bất sanh,
bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất lai, bất xuất.
Hiểu rơ tám cái "Bất" ấy, tức là nhận chân được nghĩa lư của Trung
đạo. Chúng ta hăy nghe bài kệ sau đây trong "Trung đạo" th́ rơ:
Bất sinh,
diêc bất diệt
Bất thường,
diệc bất đoạn
Bất nhất,
diệc bất dị
Bất lai,
diệc bất xuất
Năng
thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt
chư hư luận
Ngă khể
thủ lễ Phật
Chư thuyết
trung đệ nhất
Giảng rộng
đoạn văn trên này, ông Phan Văn Hùm, trong quyển Phật Giáo triết học
đă viết như sau:
"Nhất
thiết vạn hửu trong hiện giới đều sinh diệt vô thường". Sinh diệt vô
thường như thế, nguyên là v́ không có tự tánh, mà bởi nhân duyên mê
vọng nên sinh ra giả hữu.
Thế tục v́
vọng kiến, nên chấp lấy cái giả hữu đó. Chân trí thời phủ định giả
hữu mà nhận thấy là không ...siêu việt được tất cả hữu và vô là cái
quan niệm tuyệt đối ấy, phải biết rằng chư pháp đều do nhân duyên
sinh ra.
Chư pháp
tuy là hữu nhưng mà là phi thường hữu. Hữu, mà phi thường hữu là giả
hữu. Giả hữu tuy là hữu mà phi hữu. Hữu mà phi hữu, thời cùng với vô
có khác ǵ? Cho nên chư pháp tuy là vạn hữu, nhưng uyển nhiên là
không .
Lư thể của
chân như, tuy là không tịch, bất sinh diệt, mà bởi nó sanh ra chư
pháp, cho nên nó là căn của giả hữu. Đă là căn của gỉa hữu, thời mặc
dù lư thể của chân như là không, thật ra nó là phi không. Như thế,
chân như là không mà không thật là không cho nên cùng với hữu có
khác ǵ? V́ thế, rốt lại, chân như tuy là không tịch, mà nó uyển
nhiên là hữu.
Hữu, không,
hai cái toàn nhiên cùng nhau hỗn hiệp.
Trung đạo
ra ngoài chổ chấp hữu cùng chấp không.
III.- Ba
Thời Giáo Lư
Trong phần
tôn chỉ và giáo lư căn bản nói trên, chúng ta thấy Tam-luận tôn bác
tất cả các tôn phái của Tiểu Thừa và một phần của Đại -thừa. Nhưng
dù Tiểu Thừa hay Đại -thừa, cũng là dựa trên Giáo lư của Đức Phật cả.
Vậy, bác các tôn phái trong các đạo Phật, tức là gián tiếp, bác giáo
lư của Phật chăng?
Thật ra,
không phải thế. Tất cả lời dạy của Đức Phật chỉ có một chất chung là
sự giải thoát, như tất cả nước đại dương chỉ có một mùi vị là mặn.
Phật nói ra các pháp môn, đều để đối trị những phiền nảo của chúng
sanh. Người lương y giỏi tùy theo chứng bịnh mà cho thuốc, thuốc
không cao cấp, lành bịnh là hay. Cũng thế, căn cơ chúng sanh không
đồng nhau, cho nên pháp môn cũng tùy theo đó mà có sai biệt.
Theo Tam-Luận
tôn, th́ giáo lư của Đức Phật chia làm ba thời kỳ:
-Thời kỳ
thứ nhứt, tại vườn Lộc-Giả v́ các bậc căn trí hẹp ḥi, Phật nói pháp
Tiểu Thừa, tâm cảnh đều có. Trong thời kỳ này v́ cần phải phá cái
chấp về tự tách, thần ngă của ngộ đạo, nên Phật nói "pháp duyên sanh",
xác định là thật có.
-Thời kỳ
thứ hai, Phật vị các bậc căn trí bậc trung, nói "pháp tướng Đại-thừa",
chỉ rơ đạo lư Duy-thức "cảnh không tâm có" (thế giới hiện tượng
không thật có nhưng tâm thức thật có). Cũng trong thời kỳ này, Phật
lần hồi phá trừ chổ chấp của Nhị-thừa về lư duyên sanh thật có, mà
nói lư duyên sanh ấy chỉ là giả dối tuồng như có mà thôi, v́ họ sợ
về chổ chơn không , nên phải để "giă hữu" lại đễ d́u dắt họ.
-Thời kỳ
thứ ba, Phật vị các bậc thượng căn thượng trí nói ra giáo lư "vô
tướng Đại-thừa ", biện bạch tâm cảnh đều không, một mực b́nh đẳng
là chơn liểu nghĩa. Đến thời kỳ này mới thật là chổ rốt ráo của Đại
-thừa, chủ trương duyên sanh ấy tức là tánh không, một mực b́nh đẳng,
viên dung cả hai đế (chơn đế, tục đế) không ngại.
Tóm lại,
thời kư thứ nhất, phá trừ ngoại đạo, chỉ dạy Tiểu-thừa với giáo lư
tâm cảnh đều có. Thời kỳ thứ hai, thông cả Tiểu-thừa và một phần của
Đại -thừa, (Tam thừa) với giáo lư cảnh không, tâm có. Thời kỳ thứ ba,
chỉ có Nhất thừa, với giáo lư tâm cảnh đều không, nhưng cái không
đây tức là chơn "chơn không, diệu hữu".
IV.-
Phương Pháp Tu hành
Chúng ta
đă thấy ở các phần ở trên, chủ trương của Tam-luận tôn là phá tà, và
do chổ phá tà ấy là hiển chánh. Vậy th́ phương pháp tu hành của tôn
này là làm sao nhận rơ được những chổ sai lầm chấp trước của ngoại
đạo là các tôn phái khác, tức là chứng ngộ. Muốn vậy, tức phải thực
hành pháp quán "bát bất trung đạo".
Bát bất
tức là: Bất sinh, bất diệt; Bất đoạn, bất thường; bất nhứt, bất dị;
bất khứ, bất lai. Không ngộ được tám món ấy tức là không rơ chơn đế
và tục đế; mà không rơ được chơn đế và tục đế th́ cũng không thể nào
nhận thấy được ư nghĩa của trung đạo.
Pháp quán
này có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn quán về một phần của "bát bất
"; chẳng hạn giai đoạn thứ nhứt quán về "bất sinh, bất diệt"; giai
đoạn thứ hai quán về "bất đoạn, bất thường..." .
Trong mỗi
giai đoạn như thế phải quán năm câu:
1.- Câu
thứ nhứt: "thật có sinh, thật có diệt".
Ấy là giả thiết thật có
sanh diệt như thế gian thường chấp, để mà bát. Chấp như thế gọi là
đơn tục (đứng riêng về mặt thế tục), tức nhiên là thiên chấp (chấp
một bên), chưa hiệp với trung đạo.
2.- Câu
thứ hai: "không sanh không diệt". Ấy là chấp không sanh không diệt
làm thật, để mà bát. Chấp như thế gọi là đơn chơn, cũng là thiên
chấp, không hiệp với trung đạo.
3.- Câu
thứ ba: "giả sanh giả diệt".
Ấy là giả lập có sự sanh diệt phát
xuất từ nơi bất sanh bất diệt. Đây tức là trung đạo về thế tục.
4.- Câu
thứ tư: "giả bất sanh giả bất diệt". Nếu sanh diệt đă giả, thời sự
bất sanh bất diệt cũng là giả. Ấy là trung đạo về chơn đế.
5.- Câu
thứ năm: "không phải sanh diệt, mà cũng không phải là không sanh
diệt". Đây là dung hiệp cả tục đế và chơn đế mà t́m ra lư trung đạo.
Thật vậy, thật tướng của pháp giới không sanh diệt , mà cũng không
phải không sanh diệt. Đến đây là cắt dứt lời nói phô, tâm niệm lự,
mà chỉ nhờ trực quan mới đạt tới.
Trong năm
câu này, th́ ba câu cuối (từ câu thứ ba đến câu thứ năm) thường gọi
là tam trung (ba lư trung đạo). V́ thế cho nên trong pháp
quán này,
người ta thường nói: dùng năm câu và ba lư trung đạo để quan sát.
Trên đây
là chỉ đưa ra một số thí dụ về một giai đoạn trong pháp "pháp trung
đạo bát bất". Sau khi quán hết giai đoạn thứ nhất "bất sinh, bất
diệt", hành giả tiếp tục giai đoạn thứ hai là "bất đoạn, bất
thường". Và cứ như thế mà quán cho đến hết tám cái "bất".
Đây là
pháp quán riêng biệt của tam luận tôn. Ngoài ra trên đường tu hành,
hành giả c̣n tùy theo căn cơ mà tu các pháp môn khác như Lục độ vạn
hạnh.
V. Quả Vị
Tu Chứng
Giáo lư đă
có phân chia thành chơn đế và tục đế, th́ quả vị tu chứng cũng đứng
về hai phương diện mà xét.
1. Chơn đế: Nếu đứng về phương diện chơn đế mà xét th́ không có vấn đề chứng hay
không chứng, thành Phật hay không thành Phật, v́ mê ngộ vốn không,
nhiễm tịnh đều b́nh đẳng, hết thảy chúng sanh xưa nay là Phật rồi.
2. Tục đế: Nếu đứng về phương diện tục đế, th́ căn cơ chúng sanh không giống
nhau, nên sự tu chứng cũng có chậm có mau. Với những căn cơ rất lanh
lợi, th́ trong một niệm có thể thành tựu "chánh quán bát bất", chứng
được quả Phật. Trái lại, với những căn cơ chậm lụt, th́ trải qua ba
đại kiếp tu hạnh lục độ vạn hạnh, mới được thành Phật. Nếu tuần tự
mà tiến th́ phải trải qua 52 quả vị. Trong các tôn khác quư độc giả
cũng thường nghe nói đến 52 quả vị, nhưng chúng tôi chỉ nêu danh mà
không nói rơ nội dung, đến Tam luận trong này, nên chúng tôi tưởng
nên tŕnh bày rơ một lần về các quả vị ấy, và để sau nầy, khi qua
các tôn khác, nếu quư độc giả có gặp lại 52 quả vị này, cũng sẽ
không c̣n bỡ ngỡ. 52 quả vị ấy là:
Thập tín (mười
bậc lấy đức tin làm gốc):
1. Tín tâm
2. Tinh tấn tâm
3. Niệm
tâm 4. Định tâm
5. Huệ tâm
6. Thí tâm
7. Giới
tâm 8. Hộ tâm
9. Nguyện
tâm 10. Hồi hướng tâm
Thập trụ: Trụ là an trụ. Các vị Bồ tát khi mới phát tâm, an trụ nơi mười bực
này mà tu hành, trên cầu chứng được quả Phật, dưới hóa độ chúng sanh.
Thập trụ là:
1. Pháp
tâm trụ 2. Trị địa trụ
3. Tu hành
trụ 4. Sanh quư trụ
5. Phương
tiện trụ 6. Chánh tâm trụ
7.- Bất
thối trụ 8. Đồng chơn trụ
9. Pháp
vương tử trụ 10. Quán đảnh trụ
Thập hạnh: Mười bực này chú trọng tu hạnhl ục độ nhiều hơn các hạnh khác,. Nên
gọi là hạnh. Mười hạnh là:
1. Hoan hỷ
hạnh 2. Nhiêu ích hạnh
2. Vô nhuế
hạnh 4. Vô tận hạnh
5. Ly si
loạn hạnh 6. Thiện hiện hạnh
7. Vô
trước hạnh 8. Tôn trọng hạnh
9. Thiện
pháp hạnh 10. Chơn thiện hạnh
Thập hồi
hướng: Hồi nghĩa là xoay về, Hướng tức là xu hướng. Hành giả đem
mười hạnh này mà quy hướng về ba nơi sau đây:
a/ Xoay sự
về lư, lấy chơn như thật tế mà làm chỗ chứng.
b/ Xoay
nhơn về quả, lấy đạo vô thượng Bồ đề làm chỗ sở cầu.
c/ Xoay
ḿnh về nơi người, một ḷng b́nh đẳng, phổ độ chúng sanh.
Mười hồi
hướng là:
1- Cứu độ
chúng sanh; ly chúng sanh tướng hồi hướng; nghĩa là cứu giúp chúng
sanh mà không chấp trước về sự cứu giúp.
2- Bất
hoại hồi hướng; nghĩa là không bao giờ thối tâm cứu giúp chúng sanh.
3- Đẳng
chư Phật hồi hướng; nghĩa là ḷng từ bi cứu giúp chúng sanh cúng
bằng chư Phật.
4- Chí
nhứt thế xứ hồi hướng; nghĩa là ḷng cứu giúp chúng sanh mỗi việc
đều chu đáo.
5- Vô tận
công đức tạng hồi hướng; nghĩa là chất chứa công đức vô tận.
6- Tùy
thuận nhứt thiết kiên cố thiện căn hồi hướng; nghĩa là thuận theo
hết thảy căn lành bền chặt.
7- Đẳng
tâm tùy thuận nhứt thế chúng sanh hồi hướng; nghĩa là đem tâm b́nh
đẳng tùy thuận hết thảy chúng sanh.
8- Như
tướng hồi hướng; nghĩa là các công đức hồi hướng về tự tánh chơn như.
9- Vô
trước vô phược giải thoát tâm hồi hướng; nghĩa là không chấp trước
không ràng buộc, một ḷng giải thoát.
10- Pháp
giới vô lượng hồi hướng; nghĩa là hướng về pháp giới không cùng tận.
Bốn mươi
quả vị trên này (Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng) nói
về thời gian tu tập tùy thuộc vào Kiếp A-tăng kỳ thứ nhứt.
Thập địa: Mười bực này, v́ tóm thâu các công đức hữu vi và vô vi, dùng làm tự
tánh, cùng làm chỗ nương dựa chắc chắn hơn cả cho sự tu hạnh, nên
gọi là Địa. Mười địa là:
1. Hoan hỷ
địa 2. Ly khổ địa
3. Pháp
quan địa 4. Diệm huệ địa
5. Nan
thắng địa 6. Hiện tiền địa
7. Viễn
hành địa 8. Bất động địa
9. Thiện
huệ địa 10. Pháp vân địa
Trong thập
địa, mỗi địa c̣n có ba tâm: Nhập, Trụ, Xuất. Khi vừa bước vào một
bực nào, gọi là Nhập tâm. Trong lúc ở yên trong bực ấy mà tu, gọi là
Trụ tâm. Sau khi tu tập lâu rồi, cần bước qua bực khác gọi là
Xuất
tâm. Ba tâm ấy đều phải trải qua trăm ngàn số kiếp. Từ khi nhập tâm về
sơ địa (tức Hoan hỷ địa) đến Thất địa (tức Viễn hành địa) phải trải
qua suốt một kiếp A-tăng kỳ thứ hai. Từ Bát địa (tức Bất động địa)
đến Thập địa (tức Pháp vân địa) thuộc về kiếp A-tăng kỳ thứ ba.
Đẳng giác: Khi đă măn quả Thập địa th́ gọi là Đẳng giác, là địa vị đă gần đến
quả Phật.
Diệu giác: Tức là Phật quả, tự ḿnh đă giác ngộ, lại giác ngộ cho người, trí
giác ngộ và công phu tu hành đều được đầy đủ, không thể nghĩ bàn nên
gọi là Diệu gíác. Bực này v́ các lậu nghiệp đă hết sạch và không c̣n
pháp ǵ phải học nữa, nên gọi là Vô-học đạo.
VI.- Kết
Luận
Như chúng
ta đă thấy ở các phần trên, Tam-luận tôn chủ trương "lấy phá làm tập",
phá tất cả những sự chấp trước của đạo ngoại, của Tiểu-thừa Tỳ-đàm,
của thành Phật tôn và của cả một số người tu theo Đại -thừa. Nhận
chân được những sự sai lầm ấy tức là ngộ rồi đấy. Con đường đi đến
chân lư không đâu khác hơn con đường ḿnh đi. Nhưng muốn khỏi lạc
đường và chậm bước, th́ phải dẹp tất cả những h́nh bóng phỉnh-phờ và
những chướng ngại vật trên đường đi ấy. Một khi sự phá dẹp hoàn
thành th́ chân lư tự nhiên hiện bày.
Theo thiển
kiến chúng tôi. Tam luận tôn không phải là một con đường Tu như các
tôn khác, mà đúng hơn là một cữa Ải: Những hành-giả muốn đi từ
Tiểu-thừa hay Đại -thừa Đốn giáo, hay Viên giáo th́ phải đi ngang
cữa Ải Tam luận tôn. Đến cửa Ải này, hành-giả bị lục soát một cách
kỹ lưỡng, nếu ai c̣n mang theo một món hành lư "chấp trước" ǵ, th́
không thể qua cửa Ải này được. Hành-giả khi đi qua cửa
Ải này là
phải thông suốt các vấn đề: có, không, sanh, diệt, thường, đọan,
nhất, dị v.v...
Vậy chúng
tôi mong mỏi quư vị Phật-tử muốn đi xa vào thế giới Trung-đạo hay
Viên giáo th́ hăy nghiên cứu cho kỹ Tam luận tôn.
Chúc quư
độc giả thánh công.
9.- Câu
Xá Tông Hay Là Hữu Tông
I.- Duyên
Khởi Lập Tông
Tôn này
thuộc về Tiểu-thừa, phát xuất từ bộ luận Câu xá của Ngài Thế-Thân.
bộ luận Câu xá lại dựa theo ư-nghĩa của bộ kinh Đại Tỳ-Bà-Sang (Mahavibhasacastra)
mà thành lập. Bộ luận Câu xá được Ngài Trần-Chân-Đế dịch và truyền
sang Tàu rất sớm, nhưng về sau bị thất truyền. Trong giai đoạn đầu
nầy, Câu-xá tôn chưa thành một tôn phái riêng biệt ở Trung Hoa. Chỉ
đến khi Ngài Huyền-Trang đi thỉnh kinh ở Ấn Độ trở về, đem dịch lại
bộ luận. Câu xá và đệ tử của Ngài là Đại sư Phổ Quang dựa theo bộ
luận nói trên mà ra bộ "Câu xá thuật kư", và Ngài Pháp bảo làm bộ "câu
xá luận sớ" th́ Câu xá tôn mới thành một tôn và được thạnh hành ở
Trung Hoa. Nhưng hết đời Đường (từ đầu thế kỷ thứ VII đến cuối thế
kỷ thứ IX) th́ tôn này lại dần dần suy tàn và nhường địa vị quan
trọng cho phái Đại -thừa khác, thích hợp với triết học và tâm lư của
nhưng Trung Hoa hơn.
II.- Tôn
Chỉ Và Giáo Lư Căn Bản
1.- Tôn
chỉ: Tôn này chủ trương "ngă không pháp hữu", nghĩa là không có thật
ngă nhưng có thật pháp.
Đối với
các tôn giáo khác th́ chủ trương có một cái thật ngă, chủ tế thường
nhất, một cái linh hồn trường tồn bất biến, mặc dù mọi sự vật đổi
thay, sống hay chết. Theo Câu xá tôn th́ một cái ngă như thế không
thể có được, v́ mọi sự vật trong vũ trụ, kể cả con người đều giả hợp
mà thành, chứ không có một vật ǵ đồng nhất và bất biến. Đây cũng là
chủ trương chung của các giáo phái khác trong Phật giáo. Điểm sai
khác giữa Câu xá tôn với các tôn phái khác là: Câu xá tôn th́ chủ
trương Pháp hữu, trong khi các giáo phái khác th́ bảo rằng pháp
không. Pháp hữu, nghĩa là bản thể thật tại của các pháp, hay nói một
cách dễ hiểu hơn, nguyên liệu sanh ra các sự vật trong vũ trụ, là
thường có, là có thật. Thí dụ: con người không có thật ngă, nhưng
những nguyên liệu làm ra con người, như ngũ uẩn, tứ đại là thật có.
2.- Vũ trụ
quang: Câu xá tôn phân biệt vũ trụ vạn hữu ra làm hữu vi pháp và vô
vi pháp. Hữu vi pháp chỉ về hiện tượng trong hiện tượng giới, có
sanh diệt, chuyển biến. Vô vi pháp chỉ về cảnh giới thường trụ,
không sanh diệt, chuyển biến, cũng tức là chỉ về lư thể.
Hữu vi
pháp gồm có 72 món, và vô vi pháp gồm có 3 món, cộng tất cả là 75
món, hay 75 pháp.
ĐỒ BIỂU VỀ
75 PHÁP
11 sắc
pháp -Năm căn: Nhăn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân.
Năm cảnh:
sắc, thanh, hương, vị, xúc
và một
vô-biểu sắc
75 PHÁP 72
pháp 1 tâm pháp Nhăn-thức, nhĩ-thức, hay tĩ-thức, thiệt-thức,
hữu vi
tâm-vương thân-thức, ư-thức.
46 tâm-sở
10 Đại-địa pháp.
pháp 10
Đại-thiện-địa pháp.
6
Đại-phiền-năo-địa pháp
2
Đại-bất-thiện -địa pháp
10
Tiểu-phiền-năo-địa pháp
8
Bất-tịnh-địa pháp
14.bất
tương ưng hành pháp
3 pháp vô-vi
Trạch-diệt vô vi
phi-trạch-diệt
vô-vi
Hư-không
vô-vi
Trong phạm
vi nhỏ hẹp của tập sách, chúng tôi không thể đi sâu đễ giải thích
từng pháp một được. Tuy thế đễ có một ư-niệm về các loại pháp ấy,
chúng tôi xin sơ lược đại khái sau đây:
Sắc pháp: phàm cái có thể hư nát và có tánh cách chướng ngại đều thuộc về sắc
pháp. Trong 11 nhóm thuộc về sắc pháp, gồm có năm căn và năm cảnh,
th́ độc giả cũng biết rồi, không cần phải giải nữa; c̣n món thứ 11
là vô biểu sắc cần phải giải thích. Vô biểu sắc là cái sắc pháp
không biểu hiện ra ngoài (pháp trần), đó là đối tượng của ư căn.
Tâm pháp: Cũng gọi là Tâm Vương, v́ nó có năng lực chủ động như ông vua có
quyền chủ trương trong một nước. Tâm vương có ba tên: Tâm, ư và thức.
Theo câu xá luận th́: "nhóm góp các tập quán mà khởi ra gọi là tâm;
nghĩ ngợi gọi là ư; phân biệt gọi là thức".
Tâm sở
pháp:là cái pháp sở hữu phụ thuộc của tâm vương, như các ông quan
phụ thuộc vào quyền sai sử của ông vua, hay các nhân viên phụ
thuộc dưới sư điều khiển của
ông chủ.
Bất tương
ưng hành pháp: Có thể gọi tắt là cái pháp bất tương ưng, nghĩa là các
pháp không thuộc về sắc, mà cũng không hẵn thuộc về tâm, nhưng là
kết quả của sự tiếp xúc giữa tâm và sắc.thí dụ như sự "sự được "
Là một
pháp bất tương ưng. Khi ta được một cái ǵ, "sự được "
ấy không
thuộc về sắc pháp , cũng không thuộc về tâm pháp . "Cái mà ta được "
là sắc pháp ,
"cái nỗi vui mừng"
khi được là tâm pháp , c̣n "sự
được" không thể liệt vào sắc pháp hay tâm pháp được , v́ thế cho nên
gọi là bất tương ưng hành pháp .
Vô-vi-pháp: nghĩa là những pháp không sanh diệt, chuyển biến, vượt
ra ngoài sự đối đăi. Vô vi gồm có ba pháp là: trạch diệt vô vi, phi
trạch diệt vô vi và hư không vô vi.
Bảy mươi
lăm pháp này bao gồm tất cả sự vật trong vũ trụ.
Sự vật
trong vũ trụ chia ra làm hai loại lớn là: hữu t́nh thế gian và khí
thế gian.
-Hữu t́nh
thế gián tức là toàn thể chúng sanh , có sự sống.
-Khí thế
gián tức là hoàn cảnh mà chúng sanh nương vào để sống như đất cát,
núi, sông, nhà, cửa v.v ..
Xét về
phương diện thời gian, th́ vũ trụ là vô thỉ vô chung, nghĩa là không
có lúc bắt đầu và củng là không có lúc chung cục, mà chỉ có sự thay
đổi, biến chuyển thôi. Trong vũ trụ có hằng hà
sa thế giới, thế
giới này thành, th́ thế giới kia hoại, đắp đỗi cho nhau. Tuy thế,
riêng mỗi thé giới, từ khi danh thành cho đến khi tiêu diệt, phải
qua bốn giai đoạn (thành, trụ, hoại, không) gồm một đại kiếp, tức
là một ngàn hai trăm tám chục triệu năm
(1.280.000).
Xét về
phương diện không gian, th́ vũ trụ rộng lớn không thể tưởng tượng
được .Trước tiên đơn vị nhỏ nhất của vũ trụ là thế giới (như thế giới
nhỏ mà ta đang ở đây).
Họp một
ngàn thế giới mới thành một tiểu thiên thế giới; họp một ngàn tiểu
thiên thế giới mới thành một trung thiên thế giới; họp một ngàn trung
thiên thế giới mới thành một đại thiên thế giới. Như thế một đại
thiên thế giới gồm (1.000.000.000) một ngàn triệu thế
giới nhỏ (như
thế giới chúng ta đang ở dây) . nhưng trong vũ trụ không phải có
một đại thiên thế giới mà có vô lượng vô số đại thiên thé giới; cho
nên trong kinh thường nói là: thập phương vi trần thế giới (mười phương
thế giới nhiều như cát bụi) hay thập phương hằng hà
sa thế giới (mười phương thế giới nhiều như cát sông hằng ).
Xét về
phương diện phẩm chất th́ vũ trụ chia làm ba tầng bấc cao thấp khác
nhau, củng gọi là tam giới, hay ba cơi là: dục giới, sắc giới, vô
sắc giới.
Dục giới
là cơi của loài hữu t́nh chư Ấn Độ xa ĺa được dâm dục và thực dục.
Trong dục giới có sáu loại chúng sanh là thiên, nhơn, a-tu-la, súc
sinh, ngạ quỷ,địa ngục.
Sắc giới
là cơi của loài hữu t́nh có h́nh sắc tốt đẹp, đă rời bỏ được dâm dục
và thực dục. Cơi này có bốn bậc là: Ly sanh hỹ lạc địa, Định sanh hỷ
dục địa, Ly hỷ diệu lạc địa và Xă niệm thanh tịnh địa.
Vô sắc giới là cơi không có h́nh sắc .
Các loài hữu t́nh sanh trong cơi này
chỉ có tâm thức mà thôi. Cơi này củng chia làm bốn từng bậc cao thấp,
thông thường gọi là tứ không thiên: không vô biên xứ, Vô sở hữu xứ
và phi tưởng phi phi tưởng xứ.
3.- Nhân
sanh quan: chúng sanh nói chung, và con người nói riêng, do đâu mà
có? Và đời sống chúng sanh có giá trị như thế nào?
a)Theo câu
xá tôn, th́ chúng sanh sở dĩ bị xoay chuyển trong ṿng sanh tử luân
hồi, là do "nghiệp cảm duyên khởi", nghĩa là do mê hoặc mà tạo
nghiệp, do tạo nghiệp mà cảm thọ các quả báo.
Thế nào
gọi là hoặc? Họăc nghĩa là mê mờ, không sáng suốt, không biết đâu là
phải, đâu là trái tức là vô minh, mê vọng. Hoặc có hai loại: bổn
hoặc và tùy hoặc. Bổn hoặc là sự mê lầm cội gốc, củng gọi là căn bản
phiền năo, như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tùy hoặc là những mê
lầm dựa theo bổn hoặc mà phát sinh, cũng gọi là tùy phiền năo.
Trong sáu
bổn-hoặc nói trên, th́ năm hoặc đầu: tham,
sân, si, mạn, nghi, v́
tánh chất chậm-lụt, ăn sâu gốc rễ trong thâm tâm chúng ta, rất khó
dứt trừ, nên gọi là ngũ-độn-sử (sử là sai sử, xúi sử; những hoặc này
sai khiến một cách tiềm tàng, sâu kín loài hữu t́nh làm cho chúng
sanh cứ luẩn quẩn trong chổ mê lầm nên gọi là độn-sử).
C̣n hoặc
thứ sáu là ác kiến, v́ tánh chất nó lanh lẹ, không ăn sâu gốc rễ
trong thâm tâm và dễ dứt trừ, nên gọi là lợi sử.
Ác-kiến hay lợi sử
gồm có năm thứ là: Thâm kiến, Biên kiến, Tà kiến, kiến thủ, và giới
cấm thủ.
Thân kiến:
là chấp một cách sai lầm rằng cái thân do ngũ uẩn giả hiệp này là có
thật ngă.
Biên kiến:
là chấp sai lầm rằng cái thân này chết rồi th́ tiêu diệt hẳn, không
c̣n ǵ cả (đoạn kiến) hay trái lại, chấp cái thân này chết rồi, linh
hồn vẫn c̣n măi măi (thường kiến). Những sự chấp ấy làm mất hẳn lư
trung đạo, nên gọi là biên-kiến.
Tà-kiến:
là chấp những đạo lư mơ hồ tà bậy và bài bác những lư nhơn quả chơn
chánh.
Kiến-thủ:
là chấp chặt kiến giải sai lầm của ḿnh, mà không chịu theo
lời các
bậc hiển thánh.
Giới
cấm-thủ: là giữ giới sai-lầm như những giới khổ hạnh của ngoại đạo
v.v...
Do những
bổn-hoặc và ác kiến nói trên sai sử, chúng sanh tạo ra các nghiệp,
làm nhân quả cho nhau và khiến cho chúng sanh phải xoay vần
măi trong sanh tử luân hồi. Nghiệp có ba thứ: ư-nghiệp, tức là tự
suy nghĩ, hành động của ư niệm; ngữ-nghiệp, tức là sự nói năng; thân
nghiệp, tức là những hành động về thể xác.
Nghiệp có
ba tánh là: lành, dữ và vô kư (nghĩa là trung b́nh, không lành,
không dữ). Nghiệp lành th́ có quả báo lành, nghiệp dữ th́ có quả báo
dữ. C̣n nghiệp vô-kư th́ có quả báo không lành không dữ.
Nghiệp
lành, cũng như nghiệp dữ, đều có mười thứ:
Mười
nghiệp dữ là: giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối gạt, nói thiêu
dệt, nói chia rẽ, nói độc ác, tham lam, giận giữ, si mê.
Mười
nghiệp lành là: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không
nói dối gạt, không nói thiêu dệt, không nói chia rẽ, không nói độc
ác, không tham lam, không giận giữ, không si mê.
Quả-báo
của mười nghiệp lành và mười nghiệp dữ có mau và chậm, nghĩa là có
khi xảy ra trong một đời, có khi hai ba đời sau mới thọ quả-báo.
Khi thời
kỳ cảm quả chịu báo đă xác định, th́ gọi là định nghiệp. Trái lại,
th́ gọi là bất định nghiệp. Bất định nghiệp có hai thứ: một là quả
báo đă định mà thời kỳ chịu quả báo chưa định; hai là cả quả báo và
thời kỳ chịu quả báo đều chưa định.
b). Trên
đây là nói lư do v́ sao có sự hiện diện của chúng sanh trong thế
giới này. Dưới đây, chúng tôi sẽ nói đến giá trị của sự hiện diện ấy
theo quan niệm của Câu xá tôn, tức cũng là quan niệm của Tiểu-thừa
Phật giáo.
Quan niệm
ấy, không xa lạ ǵ đối với chúng ta. Đó là cơi đời là một bể khổ,
trong ấy, chúng sanh đang lặn hụp, trôi lăn, sống chết. Con người
khổ v́ sanh, lăo, bệnh, tử. Con người khổ v́ yêu nhau mà phải xa ĺa,
ghét nhau mà phải chung sống, muốn một đàng mà thực tế đưa đi một
nẻo. Con người khổ v́ tai trời, nạn nước: băo, lụt, chiến-tranh,
trộm cướp v.v...Con người khổ v́ sống trong một hoàn cảnh mê mờ, tối
tăm, không biết đâu là thật, đâu là giả, đâu là hạnh phúc chân thật,
đâu là ảo ảnh giả dối. Con người khổ v́ mong được trường tồn mà cơi
đời lại vô thường, luôn luôn biến đổi, có đó không đó, có đó mất đó,
như một tṛ mộng huyễn. Con người khổ v́ tưởng rằng có một cái
thật-ngă làm nồng cốt cho sự sống, thuần nhất, tự tại, ngờ đâu cái
Ngă ấy là giả dối, không có thật v́ bị hoàn cảnh chi phối làm cho
điêu đứng, đảo điên.
Tóm lại,
cơi đời là một bể khổ làm bằng nước mắt của tất cả chúng sanh.
III.-
Phương Pháp Tu Hành
1.-
Tứ-diệu-đế.
Muốn giải
thoát ra ngoài bể khổ mênh mông của cơi đời, Câu xá tôn chủ trương
phải tu theo pháp "Tứ-diệu-đế". Tứ diệu đế tức là bốn lẽ chân thật
đưa người tu hành từ cảnh mê đến cảnh ngộ, từ cơi Ta bà đau khổ, đến
cảnh giới Niết bàn tịch tịnh.
- Diệu đế
thứ nhất chỉ rơ cho người tu hành thấy cơi đời là đau khổ.
- Diệu đế
thứ hai chỉ rơ cho người tu hành thấy được nguyên nhân của sự đau
khổ trong cơi Ta-bà.
- Diệu đế
thứ ba chỉ rơ cảnh giới an lạc sau khi ra khỏi cơi đời đau khổ.
- Diệu đế
thứ tư chỉ rơ con đường tu hành để đi đến cảnh giới an lạc Niết
bàn.
Bốn Diệu
đé ấy tức là: khổ, tập, diệt, đạo vậy.
2.- Thập
nhị nhân-duyên.
Với những
căn cơ lanh lợi, th́ có thể tu theo pháp Thập-nhị-nhân-duyên.
Thập-nhị-nhân-duyên là 12 nhân duyên kế tiếp theo nhau, làm nhân,
làm quả, khiến cho chúng sanh phải măi măi xoay vần trong bể khổ
sanh tử luân hồi. Mười hai nhân duyên ấy là: vô minh, hành, thức,
danh sắc, lục thập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lăo tử. Mười hai
nhân duyên này như mười hai ṿng xích nối liền với nhau làm thành
một chuổi xích, không biết đâu là đầu, đâu là cuối. Nếu cắt đứt được
một ṿng xích th́ chuổi xích ấy tất phải phải đứt đọan. Đối với kẻ
tu hành, muốn chấm dứt sanh tử luân hồi, th́ cái mắc xích cần phải
bị cắt đứt là ''ái''. Ái ở đây tức là luyến ái. V́ luyến ái nên mới
có thủ cho ḿnh, rồi ''thủ'' sanh ra ''hữu''. Và từ đó, cái ṿng
sanh tử lại tái diễn. Vậy không có ''ái'', th́ không có ''hữu'',
không có ''hữu'' th́ không có ''sanh'', không có ''sanh'' th́ không
có ''lăo tử'', nghĩa là không có khổ đau.
IVQuả Vị
Tu Chứng
1.- Người
tu theo pháp Tứ-diệu đế, nếu mau lắm th́ cũng phải trải qua qua ba
đời, c̣n nếu chậm, th́ phải tải qua 60 kiếp, mới chứng được
A-la-hán, là cơi cao nhất của hàng Thanh Văn.
Trước khi
chứng được quả vị A-la-hán, hành-giả tuần tự chứng các quả dưới đây:
Tu-đà-hoàn,
Tàu dịch là Nhập lưu, hay Dự lưu, nghĩa là bắt đầu nhập vào ḍng
Thánh.
Tư-đà-hàm,
Tàu dịch là Nhất lai, nghĩa là c̣n phải đầu thai vào cơi Dục-giới
một lần cuối cùng nữa, để tu hành cho rốt ráo, trước khi vĩnh viễn
xa rời cơi này.
A-na-hàm,
Tàu dịch là Bât-lai, nghă là không c̣n phải đầu thai vào cơi
Dục-giới nữa. Hết bực này là đến quả vị A-la-hán.
A-la-hán,
Tàu dịch là Ứng-cúng hay Vô-sanh, nghĩa là dứt bỏ được cái điều mê
lầm trong cơi Sắc giới và Vô- sắc giới, không c̣n phiền năo, không
c̣n chịu sanh tử luân hồi, vượt ra khỏi ba cơi, hưởng sự cúng dường
của thiên và nhân. Bậc này gọi là bậc Vô-học, nghĩa là không phải tu
học pháp ǵ nữa.
2.- Đối
với lối tu Duyên-giác, nghĩa là tu theo lối quán 12 nhân duyên, th́
quả vị không có chia ra nhiều tầng bậc, chẳng qua khi đang tu hành
th́ gọi là Duyên-giác hướng, nghĩa là đi lần tới mục đích của sự tu
hành là quả Duyên-giác. C̣n khi tu được đầy đủ, dứt mối mê lầm,
chứng được chân lư, thường hưởng được cái vui giải thoát trong cảnh
Niết-bàn, th́ gọi là Duyên-giác quả. Vị chứng được quả này th́ gọi
là Bích-chi-Phật, tức là vị Phật tự giải thoát cho ḿnh, nhưng chưa
có thể giác tha. Từ khi bắt đầu tu hành cho đến khi chứng quả
Duyên-giác, thời gian dài ngắn khác nhau tùy theo căn cơ của kẻ tu
hành: với căn cơ lanh lợi th́ ít ra cũng phải trải qua bốn đời tu
luyện; với căn cơ chậm lụt th́ phải trải qua 100 kiếp tu hành.
V.- Kết
Luận
Câu xá tôn,
mặc dù chỉ là một tôn phái trong nhiều tôn phái của Tiểu-thừa, nhưng
có thể đại diện một cách gần đấy đủ cho phái Tiểu-thừa Phật giáo.
Bởi thế , Câu xá tôn, chúng ta có thể hiểu một cách khá tường tận
giáo lư căn bản và phương pháp tu hành của hàng Tiểu-thừa trong quá
khứ xa xưa.
Nhưng từ
khi tôn này được thành lập ở Trung Hoa đến bây giờ, thời gian đă
trôi qua hơn một ngàn năm. Trong thời gian ấy, chắc cũng có nhiều sự
biến đổi trong chi tiết. Chúng tôi rất tiếc không có nhiều tài liệu
để nghiên cứu một cách đầy đủ những biến chuyển của tôn này qua thời
gian và sự tồn tại của nó trong hiện tại như thế nào. Do đó, chúng
tôi thành thật đề nghị với quư độc giả hăy xem bài này như một bài
nghiên cứu về một trong mười tôn phái ở Trung Hoa, chứ chưa phải một
''con đường'' hoàn bị, hướng dẩn trực tiếp quư vị vào sự tu luyện.
Chúng tôi muốn nói, nếu quư vị thấy căn cơ ḿnh thích hợp với giáo
lư Tiểu-thừa, mà muốn bắt tay vào sự tu luyện, th́ cũng cần t́m đọc
thêm nhiều nữa và nghiên cứu cho đến nơi đến chốn, để khỏi lạc hướng
sai đường.
10.-
Thành Thật Tông
I.- Duyên
Khởi Lập Tông
Tôn này
thuộc về Tiểu Thừa, y cứ vào ư nghĩa của bộ thành thật luận, do đó
gọi là Thành thật tôn.
Bộ Thành
thật luận do ngài Ha-lê-bạt-ma (Harivarman, Tàu dịch là
Cưu-ma-la-đà (Kumaraladha) thuộc phái Tiểu Thừa Tát-bà-đa làm ra,
vào khoảng 900 năm, sau khi đức Phật Thích Ca nhập niết bàn. Như
chúng ta đă biết qua trong phần lịch sử truyền giáo ở
Ấn độ, sau
khi đức Phật nhập niết bàn, phái Tiểu Thừa chia ra thàngh nhiều nhóm,
giải thích kinh điển của Phật không giống nhau. Nhận thấy nguy cơ có
thể làm cho Phật giáo suy đồi v́ sư không đồng quan điểm`về giáo lư
của các tôn phái ấy, ngài Ha-lê-bạt-ma đă đem hết tâm lực và trí
tuệ uyên bác của ḿnh, rút ra lư tinh tủy trong các bộ kinh luận của
Tiểu Thừa, làm ra bộ thành thật luận. Sở dĩ ngài dùng hai chữ "Thành
thật" để đặt tên cho bộ luận của ḿnh là hàm ư muốn nói rằng: những lư
nghĩa trong bộ luận của ḿnh là chân thật, đúng đắn hoàn toàn với
giáo lư căn bản trong ba tạng kinh điển của Phật . mà thật như thế,
bộ Thành thật luận là bộ luận có thể tiêu biểu một cách trung
thực giáo lư của Tiểu Thừa. Và củng v́
giá trị chân chính ầy mà bộ Thành thật luận được truyền sang Trung
Hoa và được Ngài Cưu-ma-laThập trong đời
Giao Tần dịch ra văn Tàu,
gồm có tất cả 16 cuốn, chia ra làm 202 phẩm. Nhưng mặc dù được người
đời hâm mộ, bộ luận này phải đợi đến đời Nam Bắc triều mới thành lập
một tôn riêng tức là "Thành thật tôn".
II.-Tôn
Chỉ Và Giáo Lư Căn Bản
Tôn này
chủ trương "nhân không , Pháp không ".
Như chúng
ta đă biết, theo Câu-xá-tôn th́ nhơn không nhưng pháp lại có. Thành
thật tôn, đi xa hơn, cho rằng nhơn không thật, mà pháp củng không
thật.
Để giải
thích chủ trương "hai không" này, Thành thật lập ra hai môn là: Thế
giới môn và Đệ nhất nghĩa môn.
1.- Thế
giới môn: Môn nghĩa đen là cửa; Thế giới môn tức là cửa của Thế
giới; nói một cách thông thường như ngày nay thường nói, "thế giới
môn" tức là đứng về "phương diện thế tục, phương diện tương đối" mà
quan sát suy luận.
Xét về
phương diện tương đối, th́ nhơn cũng có mà pháp cũng có. Thật vây,
theo sự nhận xét thông thường, th́ ta có một cái thân; ta đi, đứng,
nằm, ngồi; ta có một cái tâm để suy xét, phân biệt, nhớ chuyện quá
khứ, tính chuyện tương lai? Thế mà bảo mà không có ngă th́ thật là
vô lư. Lại trong kinh cũng thường nói: ta thường tự ngăn ngừa và tụ
giữ lấy ta, làm lành tự ḿnh được hưởng điều lành, làm dữ, tự ḿnh
chịu hưởng quả dữ. Vậy nếu bảo rằng không có người, không có ta, th́
thật là trái với nhận xét và lư luận thông thường.
Xét về các
pháp cũng vậy, bảo rằng không th́ cũng là vô lư. Nếu không có sắc
pháp th́ làm sao có thân ta, có cảnh giới chung quanh ta? Ừ, th́
thân ta, do ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, giả hợp mà
thành. Những thứ này cũng là pháp cả. Thí dụ nếu ta chia chẻ cái sắc
pháp ra thành nhỏ măi, th́ cuối cùng, dù nhỏ đến không thể chia chẻ
được nữa, cũng vẫn là sắc, chứ sắc không thể chia ra mà thành
"không" được . Ngược lại, nếu đă là không , th́ không thể đem cái
"không" ấy nhân lên măi mà thành "có" được. Cũng như trong toán học,
dù có nhân bao nhiêu lần với con số không (zero), th́ không cũng
vẫn là không .
2.- Đệ
nhất nghĩa môn: Đệ nhất nghĩa môn, hay chơn đế, là nói về phương
diện tuyệt đối. Đứng về phương diện này mà xét, th́ Ngă và Pháp điều
là giả có, chứ không thật có. Khi năm uẩn ḥa hợp th́ tạm gọi là ta;
khi năm uẩn tan ra th́ cái thấy không c̣n nữa. Vă lại cái ta
thấy,
trong lúc c̣n sanh tiền, th́ mỗi phút, mỗi giây cũng đều có thay
đổi, biến chuyển chứ không thuần nhất là bất biến.
Các pháp
cũng vậy, tương đối mà nói th́ có, nhưng tuyệt đối mà xét th́ cũng
không thật có. Các pháp cũng do nhân duyên ḥa hiệp mà tạm gọi là có,
chứ không thể có một cách tuyệt đối, nghĩa là không thuần nhất và
bất biến. V́ thế cho nên Phật dạy: "các pháp đều là như huyễn như
hóa". Kinh Bát nhă cũng nói: "sắc chẵng khác ǵ không , không chẵng
khác ǵ săc, sắc tức không , không tức sắc"...Tóm lại, đứng về đệ
nhất nghĩa môn mà xét, các pháp rốt ráo là chơn-không . Chơn-không
là thế nào? Chơn-không có nghĩa là: chơn pháp của các pháp trong vũ
trụ vốn là chơn thật, nhưng không phải là có các h́nh tướng như các
h́nh tướng giả dối mà người đời thường thấy ở chung quanh. Cái "có"
và cái "không " ở trong đời, đối với chân đế, hay đệ nhất nghĩa đế,
đều giả dối, không thật.
Nên biết
cái "không " hiểu theo nghĩa chơn đế, khác với "không" hiểu theo
nghĩa tục đế. Cái "không" của Chơn đế th́ gọi là Chơn không; c̣n cái
không của Tục đế là cái "không" đối đăi với cái "có" mà thành, đó là
không giới. Chơn không thường vắng lặng tịch diệt ra ngoài cái đối
đăi của "có" và "không" phàm tục. C̣n không giới chẳng qua là cái sắc
đối với nhăn căn đó thôi. Chơn không không phải là sắc; không giới
mới là sắc. Chơn không, không thấy được.
Chơn không không đối tượng;
không giới thuộc về đối tượng. Chơn không là vô lậu. Không giới là
hữu lậu. Chơn không là vô vi, Không giới là hữu vi.
3.- Tương
quan giữa Thế giới môn (Tục đế) và Đệ nhất nghĩa môn(Chơn đế): Theo đệ nhất nghĩa môn th́ chơn lư của vũ trụ vốn Chơn không tịch
diệt,vắng lặng; theo thế giới môn th́ có ta và người, có sắc và
không, nghĩa là có ngă và pháp. Vậy th́ giữa Thế giới môn và Đệ nhất
môn có tương quan ǵ với nhau không? Làm sao mà Chơn không tịch tịnh
lại phát sanh ra ngă và pháp, nghĩa là từ chổ Chơn không lại phát
sanh ra chúng sanh và sơn hà đại địa?
Thành thật
tôn cắt nghĩa: đó là vô minh. Các pháp trong vũ trụ, thể tánh vốn
vắng lặng, tịch diệt, nhưng v́ do tâm vọng tưởng phân biệt mà có rối
loạn, lăng xăng. Nói một cách rơ ràng hơn, bản tánh của vũ trụ vốn
là không có ngă, không có pháp nhưng v́ "hai món chướng" mà thấy có
ngă và pháp. Hai món chướng ầy là:
a) Phiền
năo chướng: tức là các nghiệp chướng về Kiến hoặc, Tư hoặc. Chướng
này v́ chấp cái ta mà thiệt có, nên mới sanh các phiền năo, rối loạn
thâm tâm, chướng ngại đạo Niết bàn tịch tịnh. Chướng này, trong Câu
xá luận, th́ gọi là
"tánh nhiễm ô vô tri".
b) Sở tri
chướng: cũng gọi là trí chướng. Căn bản của chướng này, là chấp các
pháp thật có, làm che lấp cái tánh vô điên đảo đối với các cảnh ḿnh
hay biết, làm chướng ngại đạo Bồ đề. Chướng này trong câu xá luận
gọi là "bất nhiễm ô vô tri" (không nhiễm ô nhưng vẫn thuộc về si mê
không biết, v́ làm cho ḿnh không chứng rơ được chơn lư).
4.- 84
pháp: Như chúng ta đă thấy trong Câu xá tôn, những hiện tượng của
nhơn sanh và vũ trụ, được phân thành 75 pháp. Theo Thành thật tôn,
th́ nhân sanh, vũ trụ lại được chia thành 84 pháp. C̣n Pháp tướng
tôn lại chia thành 100 pháp. Như thế, chúng ta nên hiểu rằng sự phân
chia ra ít hay nhiều pháp chỉ là một vấn đề tương đối, chứ không có
nghĩa nhất định. Sự phân loại các pháp này, chỉ có một mục đích là
để nghiên cứu cho rơ ràng nhân sanh, vũ trụ mà thôi. 84 pháp mà
Thành tật tôn đă phân loại là:
14 Sắc
pháp: 5 Căn, 5 Trần, 4 Đại. 50 Tâm
pháp: 1 Tâm vương, 49 Tâm sở (so với Câu xá tôn, th́
có ba Tâm sở
là Hân (tánh hớn hở), Yểm (tánh nhàm chán) và Thùy miên và Câu xá
tôn ghép thành một Tâm sở, c̣n Thành thật tôn th́ chia làm hai là
Thùy và Niêm).
17 Phi sắc
phi- tâm pháp (tức là Bất tương ưng hành pháp). Về loại này, Thành
thật tôn hơn bên Câu xá tôn ba pháp: Thành thật tôn hợp ""Mạng căn "
và "Đồng phận" lại là một, nhưng lại thêm: Lăo, Tử, Phàm phu và Vô
tác (tức là Vô biểu sắc bên Câu xá tôn).
3 Vô-vi
pháp (như bên Câu xá tôn) Trạch diệt vô-vi, Phi trạch diệt vô-vi và
Hư không vô-vi.
III.-
Phương Pháp Tu Hành
Phương
pháp tu hành của Thành thật tôn cũng gần giống như của Câu xá tôn;
nhưng v́ Câu xá tôn chủ trương "nhơn không pháp hữu"; c̣n Thành thật
tôn th́ chủ trương "nhơn không pháp không ", nên về phương pháp tu
hành của Thành thật tôn, đặc biệt có hai pháp quán là: Ngă không quán
và Pháp không quán.
1.- Ngă
không quán và Pháp không quán:
a) Ngă
không quán: như quán trong cái b́nh không có nước, th́ gọi là Không.
Quán thân ta do năm uẩn ḥa hợp giả tạm mà có, chứ không có một cái
ta chân thật. Pháp quán này mục đích là nhận rơ lư ngă (nhơn) không,
nên gọi là " Ngă không quán".
b) Pháp
không quán: như sau khi quán cái b́nh không có nước, lại quán thêm
một tầng nữa để thấy rằng, thể chất của b́nh cũng không chân thật.
Áp dụng pháp quán này trong thân người, hành giả đi đến kết luận
rằng: không những cái ta là không thật, do ngũ uẩn tạo thành; mà
chính các pháp tạo ra ngũ uẩn cũng không chơn thật.
Ấy là pháp quán
về pháp không.
2.- Ba tâm
và diệt đế: Phương pháp này cũng gần giống như hai pháp quán trên,
nhưng đi xa hơn một tầng, nghĩa là không chấp có, nhưng cũng không
chấp không. Ba tâm là:
a) Giả
danh tâm: tức là cái tâm chấp những giả danh, như chấp người ta là
có thật. Đối với sự chấp trước này, hành giả dùng trí huệ mà quan
sát, biết nó đều là nhơn duyên ḥa hợp mà sanh, tức chứng được lư
nhơn không.
b) Pháp
tâm: là cái tâm chấp pháp thể năm uẩn là thực có. Đối với sự chấp
trước này, hành giả dùng trí Chơn không mà trừ bỏ, thấy được pháp
không.
c) Không
tâm: là cái tâm chấp cái "không " là thật có, nghĩa là đă quán biết
được nhơn ngă, Pháp ngă đều không, mà lại chấp cái "không" là thật.
Như thế, chấp "có" đă là sai, mà chấp "không" lại càng sai hơn. Vậy
phải quán Ngă, Pháp đều không, mà cái không ấy cũng không có tướng
nắm bắt, nhận thấy được, như không giới. Rốt lại chỉ c̣n cái "Chơn
không " là chơn lư tuyệt đối, ngoài cái "có" và "không" của phàm tục.
Đến đây tức là Diệt đế.
IV.- Quả
Vị Tu Chứng
Về quả vị
tu chứng, tôn này cũng giống như Câu xá tôn, có 27 từng bực, tức là
27 vị Hiền Thánh.
a) Dự lưu
hướng: Dự lưu hướng, nghĩa hướng tới ḍng thánh; nói một cách nôm na,
hành giả đang đi dần đến để nhập vào ḍng thánh, như chiếc thuyền
dang đi trên ḍng sông con, để vào con sông cái. Dự lưu hướng gồm có
3 bực sau đây:
1.- Tùy
tín hành: Tùy tính nghĩa là nghe theo lời dạy của các bậc đă chứng
quả, rồi tin và tu tập theo.
2.- Tùy
pháp hành: Vị này không c̣n đợi có những lời dạy bảo của các bực
thánh hiền, nhưng chỉ thuận theo chánh pháp mà tự tu hành.
3.- Vô
tướng hành: Là bậc kiến đạo, thấy được chơn lư của lư diệu đế, trí
vô lậu đă phát sanh.
b) Dự lưu
quả: Tức là quả tu đà hoàn. Bực này đă dứt hết những kiến hoặc trong
ba cơi, dự vào ḍng thánh đạo.
c.) Nhứt
lai hướng: Bực này đă dứt được năm phẩm tư hoặc ở cơi Dục giới, đang
hướng đến quả Nhứt lai.
d.) Nhứt
lai quả: Bực này đă dứt được phẩm tư hoặc thứ sáu ở cơi Dục giới,
nhưng c̣n phải trở lại một lần cuối cùng (nhứt lai) ở cơi Dục
giới.
đ) Bất
hoàn hướng: Bực này đă dứt được hai phẩm tư hoặc thứ bảy và thứ tám
ở cơi Dục giới, và đang tu hành để hướng đến quả Bất hoàn, là quả
thoát ra ṿng Dục giới và không c̣n trở về Dục giới nữa.
e) Bất
hoàn quả: Bực này đă hoàn toàn dứt được 9 phẩm tư ở cơi Dục giới,
cho nên không trở về cơi Dục giới nữa. Quả này gồm có 11 bực như
sau:
1.- Trung
ban: Bực này, sau khi ở cơi Dục giới vừa chết, sắp sanh lên cơi Sắc
giới, cái thân trung ấm tuy c̣n ở vào khoảng trung gian mà đă dứt
trừ các mê lầm phiền năo của cơi Sắc giới, nên vào ngay Niết bàn.
2.- Sanh
ban: Bực này sau khi lên cơi Sắc giới, chẳng bao lâu th́ vào Niết
bàn; ấy là do sự siêng năng về đường tu đạo mà mau tới vậy.
3.- Hứu
hành ban: Bực này sau khi sanh về cơi Sắc giới, tu hành tinh tánh
măi không nghỉ, mà vào được Niết bàn.
4.- Vô
hành ban: Bực này trái lại, sau khi sanh vào cơi Sắc giới, v́ trễ
năi đường tu hành, nên thành quả dù chậm đến, nhưng cuối cùng cũng
vào Niết bàn.
5.- Lạc
huệ ban: Bực này sau khi sanh vào cơi Sắc giới, lại lần được sanh
vào Sắc cứu kính là cơi cao nhất ở cơi Sắc giới mới vào Niết bàn.
Cơi trời Sắc giới có định, có huệ, bực này lấy huệ làm vui nên gọi
là "Lạc huệ".
6.- Lạc
định bàn: Bực này không chịu vào Niết bàn nơi cơi Sắc giới, mà c̣n
muốn chuyển sanh lên cơi Hữu đảnh là cơi cao của Vô sắc giới, mà vào
Niết bàn. Trong cơi Vô sắc giới này, chỉ có định mà không có huệ,
hành giả lấy định làm vui, cho nên gọi là Lạc định.
7.- Chuyển
thể: Bực này sau khi ở cơi Dục giới, chứng được quả Dự lựu và Nhất
lai, đáng lẽ sanh về cơi Sắc giới hay Vô sắc giới, nhưng hành giả
lại chuyển sanh vào cơi Dục giới mà tu hành, chứng được quả Bất hoàn
rồi vào thẳng ngay Niết bàn.
8.- Hiện
ban: Bực này không sanh vào cơi Sắc giới, Vô sắc giới, cũng không
cần chuyển sanh, chỉ tu tập trong một thời kỳ, chứng luôn ba quả,
rồi đi thẳng từ cơi Dục giới vào Niết bàn.
9.- Tín
giới: Bực này, v́ căn cơ hơi chậm lụt, nên chỉ tin theo lời dạy bảo
của kẻ khác mà tu hành, chứng được quả Bất hoàn.
10.- Kiến
đắc: Bực này, trái lại với bực Tín giới ở trên, chứng được quả Bất
hoàn là nhờ có căn cơ lanh lợi, tự nương theo trí huệ của ḿnh mà
thôi.
11.- Thân
chứng: Bực này là bực lợi căn tột độ, chứng được Diệt tận định. Mười một
bực Bất hoàn quả kể trên này, không phải có thứ bậc tuần tự mà hành
giả phải vượt qua. Đây chỉ là 11 trường hợp khác nhau trong quả Bất
hoàn, do căn cơ lanh lẹ, hay chậm lụt, do sở nguyện hay hoàn cảnh,
tâm tính khác nhau mà ra. Nhưng dù sao, th́ cũng là ở trong quả Bất
hoàn cả, không có cao và thấp hơn và kém, và đều gọi là A la hán
hướng, nghĩa là đang hướng đến quả A la hán.
Nếu kể từ
bậc đầu tiên là: Dự lưu hướng cho đến bậc Bất hoàn quả, gồm cả thảy
18 bậc, th́ gọi là bậc Hữu học.
C̣n chín
bậc cuối cùng sau đây là chín bậc A la hán quả, cũng gọi là bậc
Vô học.
g) A la
hán quả: Quả vị này gồm có 9 bậc, cũng gọi là Vô học, nghĩa là không
cần phải học hỏi ǵ nữa.
1.- Thối
pháp tướng: Thối nghĩa là thối lui. Thối lui ở đây không có nghĩa là
thối lui về sanh tử, làm chúng sanh, mà thối lui về cảnh thiền định
đă đặng, như các bậc độn căn La hán.
2.- Thủ hộ
tướng: Thủ hộ là ǵn giữ bảo hộ. Thủ hộ tướng tức là bậc La hán ǵn
giữ bảo hộ cảnh thiền định đă được, không mất.
3.- Tử
tướng: Là bực La hán rất nhàm chán thế gian, lại sợ thối mất chỗ
chứng ngộ của ḿnh, nên muốn vào liền cơi Niết bàn.
4.- Trú
tướng: Là bực La hán, căn cơ không thể tu tới mà cũng không đến nỗi
thối lui, chỉ giữ về bực trung mà thôi.
5.- Khả
tấn tướng: Khả tấn là có thể tiến thêm nữa. Đây là bực La hán đă
chứng được bực thiền định, mà c̣n tu tới măi.
6.- Hoại
tướng: Đây là bực La hán,căn cơ chậm lụt, nhưng vẫn giữ được không
thối lui, mặc dù gặp phải duyên trở ngại.
7.- Huệ
giải thoát: Bực La hán này đă chứng được Diệt tận định, được chơn
trí vô lậu, đă giải thoát các phiền năo, nhưng chưa ly được sự
chướng ngại về cảnh thiền định.
8.- Cầu
giải thoát: Đây là bực La hán đă giải thoát được cả huệ chướng và
định chướng; nghĩa là không c̣n bị trí huệ hay thiền định làm chướng
ngại nữa.
9.- Bất
thối tướng: đây là bực La hán có căn cơ lanh lợi, bao nhiêu công đức
trí huệ đă tu tập đều không thối lui hay là tiêu mất được .
Tóm lại,
mặc dù quả vị tu chứng của yôn này có chia ra đến 27 bậc, nhưng đó
là muốn chia chẻ một cách rốt ráo của từng trường hợp, chứ đại khái
cũng giống như quả vị tu chứng trong Câu xá tôn. Thật vậy, nếu chúng
ta đem so sánh quả vị của hai tôn Câu xá và Thành thật, th́ sẽ thấy
như sau:
Câu Xá
Tông
1.-
Tu-đà-hoàn (hay
Nhập-lưu)
2.-
Tu-đà-hàm
3.- A-na-hàm (hay
Bất-lai).
4.- A-la-hán (hay
Vô-sanh Vô-học)
Thành Thật
Tông:
1.-
Dự-lưu-hướng và Dự-lưu-quả.
2.-
Nhứt-lai-hướng và Nhứt-lai-quả
3.-
Bất-hoàn-hướng Và Bất-hoàn-quả
4.- A-la-hán
(Vô-sanh, Vô-học).
V.- Kết
Luận
Thành-thật
tôn, cũng như Câu xá tôn, đều thuộc các tôn phái của Tiểu-thừa Phật
giáo. Giáo lư căn bản của hai tôn cũng gần giống nhau, chỉ có khác ở
điểm: Câu xá tôn th́ chủ trương "nhơn không pháp hữu" , c̣n
Thành-thật tôn th́ chủ trương "nhơn không pháp không ". Như thế,
Thành thật tôn đă bước thêm một bước lại gần Đại-thừa Phật giáo hơn.
Đó là một điểm chứng-minh rằng theo với thời gian, Tiểu-thừa và Đại-thừa càng xích lại gần nhau hơn. Với cái đà ấy, chúng ta hy vọng
rồi đây, giữa biên giới hai phái lớn của Phật giáo sẽ được xóa hết,
chỉ c̣n lại một danh từ, một cái đạo chung cho cả thế giới là Đạo
Phật.
Hoài bảo
ấy, hiện tổng hội Phật giáo thê giới đang cố gắng thực hiện qua nhiều
quyết nghị trong các đại hội Phật giáo thê giới. Và ở Việt nam hoài
bảo ấy được thể hiện trong những ngày đầu năm 1964, dưới danh hiệu
Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất. Trong giáo hội này, các giáo
phái Đại Thừa đều thề nguyện chung sức chung ḷng để phát huy nền
Phật giáo Việt nam mỗi ngày thêm rạng rỡ.
Tổng
Kết Về Mười Tông
Chúng ta
đă có một cái nh́n tổng quát vê mười tôn. Chúng ta đă hiểu sơ qua
sự
thành lập tôn chỉ và giáo lư căn bản, sự tu hành và chứng quả của
mười tôn. V́ đây là những bài học phổ thông, nên chúng ta không thể
đi sâu vào chi tiết,và phạm vi cũng như thời
gian không cho phép chúng
tôi nói nhiều hơn nữa. Nếu quư vị đọc giả nào muốn hiểu rơ ràng hơn,
hăy t́m các kinh sách nói về mười tôn ấy.
Mặc dù vắn
tắt, qua những bài học này, chúng ta có thể nắm được những điểm
chính căn bản của mỗi tôn.
Mỗi tôn,
tuy có một tôn chỉ một chủ trương riêng, nhưng tôn nào cũng thờ đức
Phật Thích Ca làm giáo chủ, và dựa trên các kinh điển của ngài đă
nói mà lập tôn.
Sự sai
khác chẵng qua là cách giải thích vũ trụ hữu hạn và phương pháp tu
hành. Chứ c̣n những điểm chính căn bản, th́ mọi tôn phái công nhận
giống nhau, là: có một chân như trong suốt, linh diệu bên trong vũ
trụ hện hữu, làm nền móng cho mọi hiện tượng ở thế gian này. Chúng
sanh không công nhận được cái chân như ấy, v́ chúng sanh bị vô minh
che ám; nhưng với phương pháp tu hành mà đức Phật Thích ca đă dạy
bảo, chúng ta sẽ giác ngộ và thể nhập với các chân như ấy.
Nếu sự
giải thích vũ trụ vạn hữu có nhiều cách, và phương pháp tu hành có
nhiều lối là v́ xu hướng và tŕnh độ và căn cơ của chúng sanh không
đều; cũng như phương pháp chữa bệnh, phải tùy bệnh nặng nhẹ, phải
tùy người mà cho thuốc, làm sao cho bệnh nhân lành bệnh là lương y
giỏi.
Chúng ta
rất không may, ở vào thời kỳ mạt pháp, không có lương y giỏi. Nhưng
sự giải thích căn bệnh và phương pháp chữa bệnh của các bậc đại
lương y là giáo lư của các tôn phái, đang c̣n đó. Chúng ta hăy tự
nghiên cứu lấy căn bệnh của chúng-ta, và hăy lựa phương thuốc nào
thích hợp với bệnh của chúng ta mà uống th́ chắc chắn chúng ta sẽ
lành bệnh.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 9
Vũ Trụ
Quan Phật Giáo
A.- Mở
Đề:
Một câu
nan giải nhất của nhân loại:
"Vũ trụ từ
đâu mà có"?
Từ xưa đến
nay câu hỏi này đă làm cho bao nhiêu đầu óc phải vô cùng bối rối,
thắc mắc, và có khi đến cuồng loạn. Bao nhiêu mực đă chảy, bao nhiêu
giấy đă chất chồng, bao nhiêu bọt mép đă khô cạn để thuyết minh về
vấn đề trên. Nhưng cuối cùng nhân loại vẫn chưa thấy được thỏa măn.
Về phía
các triết gia, người th́ cho vũ trụ do nước tạo thành, người th́ cho
do không khí, người cho do hơi nóng, người cho do tứ đại ...tạo
thành.
Về phía
các tôn giáo, th́ hầu hết đều tin vũ trụ do một Tạo vật chủ dựng nên.
Tạo vật chủ ấy tùy theo các tôn giáo mà có tên khác nhau: hoặc
Brahma, hoặc Ngọc Hoàng thượng đế, hoặc Chúa trời, hoặc Jéhovah ...vậy
vấn đề này, do Phật trả lời như thế nào?
B.-Chánh
Đề:
I.- Đặt
Vấn đề Tiên Quyết.
Phật giáo,
khác với các tôn giáo khác, không tin có Tạo vật chủ. Đối với Phật
giáo, th́ vũ trụ vạn hữu sanh ra, không nhờ một đấng nào, hay một
phép nào ở ngoài nó cả, mà chỉ do tự kỷ nhân quả tiếp nối mà thành.
Cái quả bây giờ là do cá nhân ở trước, các cái nhân ở trước là do
cái quả ở trước nữa; cứ như thế đi ngược trở lên măi, nhân này quả
nọ, không bao giờ cùng. Như thế, đối với Phật giáo; vũ trụ là vô thỉ
(không có cái ban đầu). Mà đă vô thỉ th́ làm sao có cái duyên nhân
đầu tiên?
Sở dĩ
người đời tin phải có một sự bắt đầu, là v́ với sự nhận xét có giới
hạn của ḿnh, thấy vật ǵ cũng có cái bắt đầu cả. Thí dụ: cái bàn,
trước khi chưa có thợ mộc đóng th́ nó không có; hay con gà, sanh ra
là do mẹ nó...tương đối mà nói, th́ cái bàn hay con gà có một sự
sanh thành; nhưng nếu chúng ta đừng cắt xén thời gian và không gian
ra từng khoảng một như thế, th́ chúng ta thấy rằng trước cái bàn
không phải là không có ǵ hết mà phải có gỗ, trước gỗ là cây, trước
cây là hạt...Con gà cũng như thế, trước con gà, có con gà mẹ; trước
con gà mẹ, th́ nó là con, do một con gà mẹ khác sinh ra...
Nguyên
nhân thứ hai làm cho người đời tin có một sự bắt đầu của vũ trụ vạn
hữu là ư niệm sai lầm về quan niệm "có và không ".với con mắt trần
nông cạn và hẹp ḥi, khi chúng ta thấy một khoảng trống th́ gọi là
không; khi thấy một vật có màu sắc; h́nh dáng, trọng lượng...th́ gọi
là có. Và cũng do sự quan sát hẹp ḥi, nông cạn, chúng ta thường có
quan niệm rằng: "cái không" có trước "cái có". Thí dụ: một khoảng
đất kia, thường ngày chúng ta đi ngang qua nó, nhận thấy trên ấy
không có nhà cửa ǵ cả, ta gọi là đất trống. Bặt đi một dạo độ 6
tháng, ta không đi ngang qua dó nữa. Bây giờ có việc đi qua đó lại,
ta thấy một ṭa nhà đồ sộ cất lên, ta tự bảo khoảng đất ấy hết trống
rồi. Trước là không có bây giờ là có. Ta phóng đại ư nghĩ ấy ra và
cho rằng: "cái không" có trước "cái có", hay "cái có" bao giờ cũng
đến sau "cái không". Và chúng ta dẫn ra suy luận ấy đi xa hơn để kết
luận rằng "cái không": mà thành cái có được, tất nhiên phải có một
cái khác tạo ra.
Nhưng
chúng ta đă suy luận sai, và cái sai lầm ấy bắt đầu từ quan niệm về "có" và "không".
Trước
tiên, chúng ta quên rằng: khoảng đất kia không phải là trống không,
hoàn toàn không có ǵ cả, mà trống ở đây có nghĩa là không có nhà.
Và cái "có" sau này là có nhà, chứ không phải là hoàn toàn có, v́
một ngày kia nó cũng sẽ tan ră, và trở thành không.
Cái "có"
và "không" ở đây là "có", "không" tương đối. "Có" là một cái ǵ,
"không" cũng là một cái ǵ. C̣n nói một cách tuyệt đối, th́ trong vũ
trụ này chưa bao giờ có một cái không hoàn toàn không cả. Cũng như
cái có mà ta thường thấy chung quanh ta cũng không phải hoàn toàn,
vĩnh viễn có. "Có, không" đều tương đối, nghĩa là dựa vào nhau mà
thành. Hoặc trong một chỗ này có th́ chỗ khác không, hoặc đắp đổi
nhau trong thời gian có trước rồi không sau, hay không trước rồi có
sau. Khi ấy lấy riêng ra từng pháp mà xét, th́ thấy tuần tự có
thành, trụ, hoại, không, nhưng xét toàn thể th́ phút giây này cũng
đồng thời có thành, có trụ, có hoại, có không cả.
Như thế,
để kết luận: không phải cái không xuất hiện trước
cái có."Không và
có" đều có một lần. Và v́ thế, cho nên không thể có nguyên nhân đầu
tiên của cái có.
Trong hiện
tượng giới ta thấy có sanh diệt, có thể có, chúng ta cho là vô
thường. Nhưng nếu xét toàn thể vũ trụ, đứng về thật tại giới, th́
chẳng có sanh diệt mà vạn hữu là thường trụ.
Như trên
đă nói, không có nguyên nhân đầu tiên. Và do đó, ta sẽ đặt sai vấn
đề, nếu ta hỏi: "nguyên nhân đầu tiên là ǵ"? và ta lại càng đi xa
hơn nữa trong sự sai lầm, khi hỏi: "Ai sáng tạo ra vũ trụ vạn
hữu"?.
Phải đặt
câu hỏi này mới đúng: "Thật thể của cái có và cái không tương đối
(tức là vũ trụ vạn hữu) là như thế nào? hay thật tại của vũ trụ như
thế nào?".
Đó là câu
hỏi thứ nhất, nhắm mục đích t́m hiểu thật thể, thật tánh, thật
tướng, hay nói theo danh từ triết học, nhắm mục đích t́m hiểu thật
tại của vũ trụ vạn hữu.
Câu hỏi
thứ hai là: "Phát nguyện từ thật tại, vũ trụ vạn hữu đă h́nh thành
và biến chuyển bởi nguyên nhân ǵ, và như thế nào?".
Đây là hai
câu hỏi chính, sau đó, chúng ta có thể thêm vào những câu hỏi phụ
như: "Vũ trụ rộng hay hẹp, có cùng hay không cùng?"...
Trả lời
câu hỏi thứ nhất đạo Phật có Thật tướng luận; trả lời câu hỏi thứ
hai; đạo Phật có Duyên khởi luận; trả lời câu hỏi thứ ba: Phật dạy:
Vũ trụ hay thế giới là vô lượng vô biên vô cùng vô tận.
Dưới đây,
chúng ta lần lượt tŕnh bày những vấn đề trên.
II.-
Thật Tướng Luận
Thật tướng
luận là lư thuyết giải bày vê thật thể của vũ trụ. Thật thể hay thật
tướng của vũ trụ, đạo Phật thường gọi là chơn như. Chơn như nghĩa là
chơn thật, không giả dối. Như là luôn luôn như thế, không biến đổi,
không sanh diệt, không c̣n mất, vô thỉ vô chung. Vậy chơn như là một
thật thể không biến đổi, không sanh diệt, không c̣n mất, vô thỉ vô
chung, sáng suốt, có đủ tất cả những diệu dụng đức tánh.
Để chỉ
chơn như nhiều khi Phật giáo, tùy theo mỗi trường hợp, cũng gọi bằng
những danh từ như: Chơn tâm, Viên giác, Thắng nghĩa, Phật tánh, Giác
tánh, Pháp tánh, Như như, Nhứt như...
Thật ra
th́ khó mà kể cho hết những danh từ chỉ cho Chơn như. Nhưng dù có kể
hết, th́ cũng chỉ là kể danh từ, chứ không thể nhận thấy được Chơn
như, chỉ có những vị giác ngộ mới trực nhận, mới thể nhập, hay thể
chứng mà thôi.
Ngôn ngữ,
văn tự chỉ có thể diễn tả được hiện tượng giới; c̣n khi muốn tŕnh
bày về thực tại, th́ trở thành bất lực. Và càng bám vào, càng y như
cái nhất thiết vào văn tự, ngôn ngữ lại càng đi xa thật thể, chân
như. Một triết gia Pháp, ông Bergson đă nói rất đúng rằng: ngôn ngữ,
danh tự đă cắt xén Sự Sống (thật tại) ra thành manh mún. Thật thế,
mỗi tên gọi, mỗi chữ đều có một phạm vi, một nội dung nhất định của
nó. Đồng một cái có hạn lượng để đo lường, ḍ xét một cái không hạn
lượng, vượt ra ngoài không gian và thời gian, th́ chắc chắn là phải
sai lầm.
Cho nên
thái độ đúng đắn nhất, để trực nhận thật thể chân như là im lặng,
ĺa xa văn tự, ngôn ngữ. Đó là thái độ mà đức Phật đă áp dụng lần
đầu tiên sau khi chứng đạo dưới cây Bồ đề.
Nhưng nếu
không nói ǵ cả th́ làm sau cứu độ được chúng sinh, làm sao đưa nhân
loại đến bờ giác. Cuối cùng đức Phật phải nói. Nhưng khi nói đến cái
khó nói nhất là "Thật tại" hay "Chơn như", th́ đức Phật không thể
dùng một lối như thông thường được. Do đó, mà chúng ta thấy trong
kinh điển Phật giáo, có những cách nói mới nghe th́ rất vô lư, gàn
dở như: cũng có, cũng không, không phải không, không phải có, không
phải đồng, không phải khác, cũng đồng cũng khác, không phải
một,không phải nhiều, không phải nhớp, không phải sạch, vân vân và
vân vân...
Nhưng, mặc
dù đă nói như thế rồi, đức Phật vẫn sợ người đời chấp vào những câu
nói ấy mà cho là thật, nên Ngài lại rào đón thêm nữa: "Chân lư như
mặt trăng, giáo lư ta dạy như ngón tay để chỉ mặt trăng cho các
người thấy. Đừng nhận lầm ngón tay ta là mặt trăng". Hay: "Những
điều ta biết như lá trong rừng, và cái ta nói như nắm lá trong tay
này". Hay: "Y theo kinh điển giải nghĩa th́ oan cho tam thế chư
Phật, nhưng lià kinh ra một chữ th́ lại đồng với ma thuyết ". Hay:
"Suốt đời, Như lai chưa nói một câu nào".
Tóm lại,
mục đích của Thật tướng luận là muốn cho chúng ta nhận chân rằng:
Thật tại, hay Chơn như không thể dùng ngôn ngữ văn tự mà thấy được;
trái lại, phải bỏ tất cả danh tướng mà trực nhận. Nhưng để có
một ư niệm thô thiển về Chân như, hăy tự bảo rằng: "Chân như là cái
ǵ trái hẳn với hiện tượng giới". Hay: "Hiện tượng giới là mặt trái
của Chơn như".
Nhưng, khi
nói đến hai chữ "mặt trái" đừng liên tưởng rằng có một "bề mặt" như
bao nhiêu bề mặt ta thường thấy trong hiện tượng giới.
III.-
Duyên Khởi Luận
Duyên khởi
luận tức là những lư thuyết nói về nguyên nhân hay lư do sanh khởi
của hiện tượng giới.
Duyên khởi
luận trong Phật giáo có nhiều thuyết; những thuyết này không trái
ngược nhau, mà chỉ khác nhau về phương diện sâu cạn, rốt ráo hay
chưa mà thôi. Vậy chúng ta hăy tuần tự đi từ cạn đến sâu:
1.- Nghiệp
cảm duyên khởi: Nghiệp cảm duyên khới luận là chủ trương của
Tiểu-thừa nguyên thỉ Phật giáo. Lư thuyết này rút ra từ trong "Tứ
diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên". Như chúng ta đă học về "Tứ diệu
đế", Phật dạy nguyên nhân của đau khổ, của sanh tử luân hồi là do
"hoặc nghiệp". Hoặc tức là mê vọng; có hành động sai lầm, v́ hành
động sai lầm nên chịu quả đau khổ...và cái ṿng nhân quả luân hồi cứ
tiếp tục măi, tạo ra có chánh báo là thân ta và y báo tức là sơn hà
đại địa. Sơn hà đại địa sở dĩ có là có một cách tương đối với thân
ta mà thôi. Khi nghiệp nhân biến đổi th́ nghiệp quả cũng biến đổi và
do đó chánh báo và y báo cũng biến đỗi theo. Người khi tạo những
nghiệp nhân làm người th́ đời sau đầu thai lại, chánh báo vẫn là
người và y báo vẫn là sơn hà, đại địa như người đă nhận thấy. Nhưng
nếu tạo những nghiệp nhân dữ, th́ chánh báo ở đời sau sẽ là loài súc
sinh hay ngạ quỷ, và y báo, tức là cảnh giới ở chung quanh cũng
không c̣n giống như cảnh giới của người nữa, nghĩa là vũ trụ, vạn
hữu sẽ biến đổi theo tầm mắt và sự hiểu biết của các loài ấy. Do đó
mà gọi là "nghiệp cảm", nghĩa là do nghiệp như thế nào, thí cảm thọ
cái thân và cảnh như thế ấy. Nói một cách tổng quát, do nghiệp lực
mà có thân (chánh báo) và thế giới (y báo). Chánh báo và y báo có
thể thế này hay thế khác, tốt hay xấu, là do nghiệp lành hay dữ.
Nhưng dù sao, hễ c̣n nghiệp là c̣n có hiên tượng giới. Dứt trừ được
nghiệp là trở về với Chân như, là nhập Niết bàn.
2.- A lại
da duyên khởi: Thuyết này thuộc về Đại Thừa Thỉ giáo, đi sâu hơn
thuyết trên một tầng. Trong thuyết nghiệp cảm duyên khởi, chỉ nói có
sáu thức là nhăn, nhỉ, tỹ, thiệt, thân, ư. Sau khi chết, ngũ uẩn tan
ră, nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai. Nhưng dẫn dắt cái ǵ? Lục thức
hay ư thức sanh diệt vô thường, biến chuyển luôn luôn, th́ nghiệp dù
c̣n, mà lấy ǵ giữ ǵn cái nghiệp quả, khiến cho nó triển chuyển
không dứt?
Đại Thừa
thỉ giáo, bổ khuyết cho thuyết trên, t́m thấy trên hai thức nừa
là Đệ
thất thức hay Mạt na thức, và Đệ bát thức hay A lại da thức.
Mạt na
nghĩa là cầm bắt lấy chỗ thấy biết, nghĩa là tự nhận có một cái ngă,
và ǵn giữ cái ngă ấy. Nhưng làm sau giữ được cái giả ngă ấy, trong
lúc ngũ uẩn, lục thức đều sanh diệt vô thường hợp ly măi măi?
Vậy
th́ dưới Mạt
na thức, tất phải có một thức khác thường tại, trùm
chứa tất cả chủng tử của các pháp mới được.
Đó chính
là thức thứ Tám, hay A lại da thức, hay tạng thức (thức trùm chứa).
Thức này không phải vô thường như ngũ uẩn, mà là hằng khởi, thường
tại. Nó có hai công năng: một là thâu nhiếp tất cả các pháp, hai là
sinh khới tất cả các pháp. Khi chúng ta gây thiện nghiệp hay ác
nghiệp, th́ những chủng tử được dồn chứa vào Tạng thức, đến khi đủ
nhân duyên th́ những chủng tử ấy phát ra hiện hành.
Bởi
A-lại-da thức bao gồm hết thảy chủng tử của chư pháp, nên nó phát
hiện được hết năng lực vô hạn của vạn tường. Khi căn thân của ta vừa
phát sanh là nó bao gồm hàm khách quan giới (tức là vạn vật). Khách
quan giới thiên sai vạn biệt là do trong chủ quan giới có ư thức tác
động mà ra.
Tóm lại, A
lại da thức là cái căn bản của hiện tượng giới. Từ vô thỉ, A lại da
thức đă bao gồm chủng tử. Hiện tượng giới do chủng tử này mà phát
hiện. Hiện tượng đă phát hiện th́ kích thích phát sinh duyên mới,
dẫn đến chỗ tác dụng. Như thế, chủng tử cùng hiện tượng, nhân quả
nhau măi, mà làm cho hiển hiện vạn hữu, và làm nền móng qua bao kiếp
nhân quả luân hồi.
Nhưng, nếu
A lại da thức là nền móng của nhân quả luân hồi, th́ A lại da thức
cũng là căn nguyên của giải thoát, v́ trong A lại da thức có đủ cả
chủng tử hữu lậu và chủng tử vô lậu. Chủng tử hữu lậu là những hạt
giống phát sanh ra thiên sai vạn biệt, tức là hiện tượng giới; c̣n
chủng tử vô lậu, đối với ngoại giới biết có hư vọng, cho nên không
để cho tâm vọng đọng, do đó có thể đưa đến sự giải thoát.
3.- Chân
như duyên khởi: Thuyết này là của Đại Thừa Chung giáo. Theo Đại Thừa
Chung giáo th́ chân như tùy duyên sanh ra muôn pháp; hay nhất thiết
duy tâm tạo. Tâm bao gồm tất cả và có hai phương diện: về phương
diện động, th́ tâm là cái cửa của Chân như.
Nhưng v́
sao, cũng một tâm mà có hai phương diện tương phản như thế?
Ấy bởi
vô minh. Chân như vốn là thường trụ, bất động, nhưng bởi vô minh làm
duyên, khiến cho nó vọng động, làm ra thiên sai vạn biệt. Vô minh
không phải là vật có thật, nó dựa vào tâm thể mà có. Nó là một vọng
niệm, cho nên trong kinh thường nói: "hốt nhiên niệm khởi, gọi là vô
minh". Do cái vọng niệm ấy mà thấy có chủ quan, có khách quan, có tự
ngă, có phi ngă, có vũ trụ, vạn hữu.
Nhưng vạn
hữu không phải ngoài tâm mà tồn tại được. Chân như tuy bị vô minh
kích thích mà diêu động, nhưng trong động có tịnh, trong tịnh có
động, cũng như nước và sóng ở trong biển: Đứng về phương diện nước
mà nh́n , th́ tất cả sóng đều là nước: đứng về phương diện sóng mà
nh́n, th́ tất cả nước đều là sóng. Tâm dụ cho biển, Chân như dụ cho
nước, và vạn tượng giới dụ cho sóng. Chúng sanh, v́ vô minh che lấp
nên chỉ thấy có vạn tượng giới; Bồ tát và Phật v́ đă trừ vô minh nên
thấy vạn tượng là chân như: Tịnh là chân như, Động là vạn tượng.
Động, Tịnh không rời nhau, không cùng là một, nhưng cũng không phải
là khác nhau. Đó là hai phương diện của Tâm. Để chỉ hai phương diện
này, trong kinh thường có câu: "Tùy duyên bất biến, bất biến tùy
duyên". Tùy duyên tịnh, sanh ra tứ thánh, tùy duyên nhiễm sanh ra
lục phàm. Từ tịnh trở thành động là đi vào cửa của sanh diệt, và đó
cũng là nguyên nhân phát triển của vũ trụ vạn hữu. Từ động trở về
tịnh là đi ra cửa chân như, và đó cũng là nguyên nhân của giải thoát.
4.- Lục
đại duyên khởi: Lục đại duyên khởi là chủ trương của Mật tôn hay
Chơn ngôn tôn. Lục đại là: địa, thủy, hoả, phong, không (tức là
không gian) và thức. Năm đại trước thuộc về sắc pháp (tức là vật),
đại thứ sáu thuộc về tâm pháp (tức là tâm). Sáu đại này mỗi mỗi đều
dung thông, ngăn ngại nhau, và tùy duyên sanh khới ra vũ trụ vạn
hữu.
Chia ra
vật và tâm là trí thức của ta phân biệt ra như thế, chứ bản thể của
thật tại vẫn là một, vẫn không thể phân chia được. Vật là h́nh
tướng, tâm là lực hoạt động. Lực không ĺa được h́nh. Ĺa h́nh th́
lực chẳng tồn tại được. C̣n h́nh nếu không nhờ lực th́ không phát
hiện được. Vật và tâm là hai phương diện ủa bản thể nhứt như.
Ta có dây
là do Lục đại kết hợp mà ra. Lục đại ly tán th́ ta không c̣n. C̣n
mất chẳng qua là một cuộc đổi thay của Lục đại mà thôi. Lục đại kết
hợp và ly tán làm thành vũ trụ hoạt động. Đứng về phương diện tổng
quát mà nh́n, th́ vũ trụ là một sự hoạt động không ngừng của Lục đại.
Chân như
là thực thể của lục đại, mà lư tánh của ta trừu tượng được. Ĺa hiện
tượng không có thật thể được, ĺa vật không có lư được.
Thánh,
phàm khác nhau, thiện, ác khác nhau ở chỗ biết hay không biết phân
biệt chân như với hiện tượng.
5.-
Pháp-giới duyên khởi: Pháp giới duyên khởi là chủ trương của Đại
-thừa viên-giáo (Hoa-nghiêm tôn). Thuyết này cho rằng pháp-giới (tức
là vũ trụ vạn-hữu) là một duyên khởi rất lớn nghĩa là các pháp làm
nhân, làm duyên cho nhau, nương tựa, tương phản, dung thông
nhau mà
thành lập.
Cái năng
lực chủ động của pháp-giới duyên khởi không phải thuộc về "nghiệp
lực" của chúng sanh, không phải ''tạng thức'' sai biệt sanh diệt của
A-lại-da, cũng không phải cái "lư tánh b́nh đẳng " bất sanh bất diệt
của chân như, mà chính là do vạn pháp, pháp này dung thông với pháp
kia, pháp kia dung thông với pháp này, cùng nhau làm duyên khởi, mỗi
lớp mỗi lớp không cùng tột, cho nên gọi là "vô tận duyên khởi" hay
"trùng trùng duyên khởi".
Như thế,
vũ trụ vạn hữu là một cuộc đại hoạt động của hiện tượng, từ vô thỉ
đến vô chung, nối tiếp và lan tràn vô cùng tận, như những đợt sóng.
V́ có hoạt động nên mới có sanh diệt chuyển biến, tức là không có
vạn tượng, không có vũ trụ.
Sở dĩ các
pháp làm nhân, làm duyên ḥa hợp, dung thông nhau được là do mười
đặc tánh kỳ diệu mà Đại -thừa viên giáo gọi là "mười món huyền môn ".
lại do mười môn "huyền môn " này, mà trong pháp-giới, Sự, (chỉ cho
sự tướng sai biệt), Lư (chỉ cho lư tánh b́nh đẳng) Lư-sự và Sự-Sự
được dung thông vô ngại (xem lại bốn "pháp-giới " và mười "huyền
môn" trong bài nói về Hoa Nghiên tôn).
Trong
duyên khởi luận của Phật giáo, chúng ta thấy có năm thuyết. Đó là:
Nghiệp-cảm duyên khởi, A-lại-da duyên khởi, chân như duyên khởi,
Lục-đại duyên khởi và pháp giới duyên khởi. Có người ngạc nhiên tự
hỏi: tại sao cũng là Phật dạy cả, mà lại bất nhất như thế? Khi th́
Phật dạy chúng sanh và thế giới do Nghiệp-cảm mà phát sanh, khi th́
dạy do A-lại-da thức, khi th́ do chơn-như, khi th́ do Lục-đại, khi
th́ Trùng Trùng duyên khởi, vậy th́ viết theo lư thuyết nào đúng?
-Sự sai
khác đó là v́ căn cơ của chúng sanh không đồng, phải dắt dẫn dần dần
từ thấp đến cao, chúng sanh mới hiểu được.
Đối với
hàng Tiểu-thừa th́ Phật nói: "nghiệp", v́ hàng Tiểu-thừa chưa nhận
được tạng thức, chúng tử....lần lên đến Đại -thừa Thỉ-giáo, các bậc
này v́ mới hướng về Đại -thừa, chưa rơ chơn như tùy duyên sanh ra
các pháp, nên Phật chỉ nói về "A-lại-da thức". Đến Đại-thừa Đốn
giáo v́ hạnh này chưa nhận được lư "Trùng Trùng duyên khởi", nên
Phật nói "Chơn như tùy duyên sanh ra các pháp ". Đến Đại-thừa Viên
giáo, th́ các bậc Bồ Tát căn cơ đă thuần thục, nên Phật mới nói đến
"Lục đại " và "Trùng Trùng duyên khởi".
Sự sai
khác ở đây, chỉ là sai khác về tầng bậc, chứ không phải sai khác về
nội dung; sai khác về khía cạnh đứng nh́n và tầm mắt rộng hẹp, chứ
không phải sai khác về bản chất.
Nh́n một
cách nông cạn và nhỏ hẹp th́ chỉ thấy có nghiệp lực; nhưng nh́n sâu
hơn và rộng hơn tí nữa th́ thấy: dưới cái nghiệp lực, là A-lại-da
thức. Nh́n sâu và rộng hơn nữa th́ thấy dưới A-lại-da thức là
Chân-như.
V́
Chân-như tùy duyên mà sanh ra hiện tượng. Trước th́ bảo rằng có
A-lại-da thức mới phát khởi ra hiện tượng. Đây th́ tự Chơn-như tùy
duyên mà hiện tượng phát khởi. Khi đă
khám phá ra Chân-như rồi, nếu nghiên cứu kỹ lưỡng tường tận hơn nữa,
th́ nhận thấy Chân như không phải là một cái ǵ xa lạ, mà chính là
chân-như nằm ngay nơi vạn tượng. Chân-như là khía cạnh Tịnh, mà vạn
tượng là khía cạnh Động của một cái gọi là "Nhất như" hay "Tâm".
Nhưng nếu đi sâu hơn nữa, th́ Tịnh và Động không phải là hai khía
cạnh riêng rẽ, mà chính ngay trong Động có Tịnh, trong Tịnh có Động.
Động là "sự" (vạn tượng), Tịnh là "lư" mà ta trực nhận được qua "Sự"
qua cái "Trùng Trùng duyên khởi" của vạn hữu.
Đến "Chân
như duyên khởi" luận là ta đă t́m đến cái căn nguyên của vũ trụ vạn
hữu. Nhưng nếu c̣n phải nói đến "Lục đại duyên khởi" và "Pháp-giới
duyên khởi" là muốn t́m hiểu cái hành tướng, cái then máy của vạn
tượng để trực nhận chơn như. "Lục đại duyên khởi'' luận là dựa trên
kinh nghiệm mà suy diễn chân như . Hai luận này không khác nhau về
nội dung hay từng bực, mà chỉ khác nhau về luận pháp mà thôi. Một
bên đi từ Sự đến Lư, một bên đi
từ lư đến sự.
Nếu có thể
dùng một ví dụ để chứng minh một cách cụ thể những lư lẽ vừa nói đến
trên đây, chúng tôi xin mạn phép dùng một thí dụ thô sơ sau đây,
nhưng xin thưa trước rằng thí dụ không phải là lư lẽ, mà chỉ nói lên
một khía cạnh nào của lư lẽ mà thôi. Chúng ta
đi vào xem một rạp hát kỳ lạ, khi đèn đă tắt và không biết trên sân
khấu người ta đă bắt đầu tŕnh diễn từ lúc nào. Rạp hát tối ṃ, trên
sân khấu cũng không sáng mấy, mà chúng ta đứng ở đàng sau xa. Trước
sân khấu, nhiều lớp màn mỏng buông xuống (dụ cho vô minh). Khi chúng
ta vào th́ một tấm màn từ từ kéo lên. Chúng ta thấy lờ mờ những cánh
tay, những cái chân và cái miệng của một con nộm nhân đang múa máy,
ca hát trên sân khấu. Chúng ta đoán chắc ở phái trong, ở đàng sau
con nộm nhân ấy có một động lực (dụ cho nghiệp cảm duyên khởi) làm
cho con nộm nhân kia múa máy, ca hát.
Một cái
màn nữa vén lên và ta tiến tới thêm một mức nữa để nh́n. Chúng ta
thấy bóng dáng một người đang đứng sau con nộm nhân kia (dụ cho A-lại-da
duyên khởi). Một cái
màn nữa vén lên và ta tiến tới gần sân khấu hơn nữa. Ta thấy rơ ràng
hơn. Th́ ra con người và nộm nhân là một: con người mang lớp nộm
nhân và đă múa máy ca hát (dụ cho Chơn như duyên khởi). Một bức
màn nữa được kéo lên, và ta đi sát đến sân khấu, ta nh́n thấu suốt
đến hậu trường. Ta thấy rơ mỗi vật, mỗi người, từng chi tiết một
trên sân khấu, sự liên lạc giữa vật này với vật kia, giữa người làm
tṛ, người kéo màn, người đạo diễn v.v....(dụ cho Lục đại duyên
khởi).
Sau khi đă
quan sát kỹ lưỡng sân khấu, ta xây mặt lại nh́n khán giả, và ta đă
khám phá một bí mật vô cùng quan trọng: sự liên lạc mật thiết giữa
người đóng tṛ và khán giả. Người đóng tṛ vui th́ khán giả vui,
người đóng tṛ than thở th́ khán giả buồn. Ngược lại, khán giả cũng
ảnh hưởng rất nhiều đến người đóng tṛ: người đóng tṛ tuân theo ư
muốn của khán giả, khi đóng hay th́ khán giả vổ tay hoan hô và bắt
buộc diễn viên phải đóng lại; khi diễn dở, th́ khán giả la ó, phản
đối ...Diễn viên và khán giả, hậu trường và tiền trường, tất cả một
rạp hát đều liên lạc mật thiết với nhau, làm nhân duyên cho nhau,
ảnh hưởng mật thiết lẫn nhau (dụ cho Pháp-giới duyên khởi).
Để kết
luận về chương Duyên Khởi luận này, chúng ta có thể tóm tắt như
sau:
-Nghiệp
cảm Duyên Khởi, muốn nói nghiệp lực và nguyên nhân của hiện tượng
giới. Nghiệp bỡi mê hoặc mà có.
-A-lại-da
Duyên Khởi, muốn nói: căn nguyên của hiện tượng giới là a-lại-da
thức. A-lại-da bao trùm tất cả chủng tử hữu lậu mà phát sanh vũ trụ
vạn hữu. Muốn giải thoát khỏi hiện tượng giới th́ phải hành, tập và
làm phát hiện chủng tử vô lậu.
-Chân như
Duyên Khởi, là muốn nói: chân như v́ duyên với vô minh mà diêu động
và làm phát sanh ra vũ trụ vạn hữu.
- Lục đại
Duyên Khởi và Pháp-giới Duyên Khởi là hai thuyết mường tượng giống
nhau, đều thuyết minh hai phương diện hiện tượng và thật thể của
nhất-như. Bất tri bất giác là cái nguyên nhân của hiện tượng. Tri
giác được th́ giải thoát được.
Những
thuyết trên này đều có những điễm giống nhau: mỗi thuyết đều công
nhận có chơn như là bản thể của vũ trụ vạn hữu. Cái nguyên nhân làm
sanh khởi vũ trụ vạn hữu là mê vọng hay vô minh. Muốn giải thoát th́
phải trừ cho được mê vọng.
IV.-
Không Gian Và Thời Gian Của Pháp Giới
Chúng ta
đă nói về nguyên nhân sanh khởi của vũ trụ, vạn hữu. Đến đây chúng
ta hăy nghe Phật dạy về sự rộng lớn vô biên và sự tồn tại vô cùng
của vũ trụ, hay pháp giới.
1.- Không
gian: Theo lời dạy của các kinh, th́ vũ trụ hay nói theo danh từ của
Phật giáo: pháp-giới rộng lớn vô cùng vô tận. Thế-giới mà chúng ta ở
đây không phải là một, mà nhiều như cát sông Hằng. Cứ một ngàn thế
giới nhỏ hiệp thành một Tiểu-thiên thế giới; hiệp một ngàn
Tiểu-thiên thế giới thành một Trung thiên thế giới; hiệp một ngàn
Trung thiên thế giới thành một Đại -thiên thế giới, hay "tam thiên
đại thiên thế giới". Mỗi tam thiên đại thiên thế giới gồm có một
ngàn triệu thế giới của chúng nhỏ như thế giới ta. Hơn nữa, vũ trụ
không phải chỉ có một Đại-thiên tam thiên đại thiên thế giới, mà
gồm có vô số Đại-thiên tam thiên đại thiên thế giới.
2.- Thế
gian: Phật đă dạy: "các pháp hữu vi, bất cứ một pháp nào cũng đều bị
bốn thời kỳ chi phối, tức là thành, trụ, hoại, không". Thế giới cũng
vậy, không thể thoát ra ngoài cái luật: thành, trụ, hoại, không ấy
được. Nhưng biết v́ trong pháp giới có không biết bao nhiêu thế giới,
nên sự thành, trụ của một thế giới này là sự hoại
không của một thế
giới khác, cứ như thế mà xoay ṿng không dứt.
Nếu lấy
riêng ra một thế giới để đo lường thời gian, th́ chúng ta sẽ có một
con số như sau: Mỗi một thế giới đều có bốn thời kỳ hay bốn trung
kiếp; mỗi trung kiếp có hai mươi tiểu-kiếp, mỗi tiểu kiếp có mười
sáu triệu (16.000.000) năm. Như thế một thế giới từ khi thành lập,
đến khi tiêu diệt, phải trải qua: 4x20x16.000.000 = 1.280.000.000.
Nhưng chúng ta đă biết thế giới nhiều như cát sông Hằng, th́ sự tồn
tại của Pháp-giới lâu dài không thể suy tính, nghĩ bàn được.
Ỏ đây,
chúng ta không có ư nêu lên một con số như trên đễ đo lường đích xác
sự rộng lớn và sự dài lâu của Pháp-giới là bao nhiêu. Chúng ta chỉ
có mục đích là nêu lên những con số để có ư niệm về "sự vô cùng cô
tận, vô thỉ, vô chung" của Pháp-giới mà thôi.
Ư-niệm ấy, ngày nay
cũng được khoa học tán đồng.
C.- Kết
Luận:
Pháp-giới
tuy rộng lớn vô cùng vô tận, nhưng như chúng ta đă thấy trong đoạn
nói về "Duyên khởi luận", pháp-giới và nhân sanh ảnh hưởng trực tiếp
lẫn nhau. Hơn nữa, như trong nghiệp cảm duyên khởi đă nói: vũ trụ
do nghiệp lực của chúng sanh chiêu cảm kết thành; nghiệp lành chiêu
cảm th́ thân căn được viên măn, mà vũ trụ cũng tốt đẹp; c̣n nghiệp
dữ chiêu cảm th́ thân căn xấu xa mà vũ trụ ô uế, lắm tai họa.
C̣n theo
như A-lại-da duyên khởi đă nói: do chủng tử trong A-lại-da thức huân
tập và hiện hành mà chúng ta có căn thân về thế giới như thế này hay
thế khác. Nếu chúng ta huân tập chủng tử hữu lậu th́ chúng ta quay
cuồng măi trong cảnh giới đau khổ, ô trược; nếu chúng ta huân tập
chủng tử vô lậu, th́ chúng ta sẽ thoát ra khỏi cảnh giới khổ đau này.
Theo tŕnh
độ, căn cơ của chúng ta hiện tại th́ hai thuyết trên này thích hợp
với chúng ta hơn; c̣n ba thuyết dưới th́ v́ cao quá, khó mà thực
hành cho được.
Vậy chúng
ta hăy nghe lời của Phật dạy trong hai thuyết "Nghiệp cảm duyên khởi"
và "A-lại-da duyên khởi" mà cải tạo vũ trụ và nhân sinh.
Trong hai
pháp này, về nghiệp th́ chúng ta nên dứt trừ "sự hoặc" và "lư hoặc"
cải tạo các nghiệp dử đổi lại các việc lành, tức là ta chiêu cảm lấy
quả báo đời sau được thân thể và vũ trụ rất trang nghiêm tốt đẹp,
không c̣n bị khổ quả như hiện nay nữa.
Về chủng
tử, th́ hằng ngày chúng ta nên cẩn thận trong sự huân tập. Bởi v́
công việc hằng ngày đều ghi vào tạng thức chúng ta, không khi nào
mất được. Ta phải huân tập những điều chân lẽ chính của thánh hiền.
C̣n về phần tu tập, chúng ta phải quán tất cả các pháp đều do Duy
thức tạo, và phải phá trừ ngă chấp và pháp chấp.
Làm được
như thế, chắc chắn chúng ta sẽ cải tạo thân thể và vũ trụ xấu xa này
trở thành trang nghiêm tôt đẹp
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 10
Nhân Sinh
Quan Phật Giáo
A.- Mở
Đề:
Đă là
người không ai không băn khoăn tự hỏi ḿnh do đâu mà có? Sự hiện
diện của ḿnh trên cơi đời này như thế nào? Hoàn cảnh của ḿnh sống
như thế nào? v.v...Thật là bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu câu hỏi làm
người ta băn khoăn, thắc mắc, ăn không yên, ngũ không yên.
Để giải
quyết các vấn đề trên, các triết học và tôn giáo đều có đưa ra những
lời giải đáp hay biện minh về "vấn đề sống" ấy, gọi là nhân sinh
quan.
Là một tôn
giáo, có một triết học rất cao, đạo Phật tất nhiên cũng có dành một
phần lớn để nói về nhân sinh quan.
Nhân sinh
quan ấy như thế nào? Đó là một vấn đề mà mỗi Phật tử chúng ta không
thể không biết đến được. Sự hiểu biết này có thể giúp chúng ta nhận
chân được những ưu điểm và khuyết điểm của con người và giúp chúng
ta sắp đặt cuộc đời và sống một cuộc sống có ư nghĩa và lợi lạc cho
ḿnh và cho xă hội.
B.-
Chánh Đề:
I.-
Nhân Sinh Quan Do Đâu Mà Có?
Trước tiên,
vấn đề làm chúng ta thắc mắc nhiều nhất là:
Con người
do đâu mà có?
Để giải
đáp vấn đề này, đạo Phật có thuyết "mười hai nhân duyên".Trong mười
hai nhân duyên ấy, vô minh là căn bản. Vô minh là ǵ? Tức là đối với
sự lư, không rỏ biết được đúng như thật. Do đó mà sanh ra mê lầm,
thật cho là giả, giả cho là thật, điên đảo hư vọng chấp ngă, chấp
pháp, phân biệt ḿnh, người; rồi theo cảnh thuận nghịch mà theo cảnh
phiền năo, nên củng gọi là "hoặc". Từ mê hoặc mà tạo tác ra các
nghiệp, hoặc thiện hoặc ác. Sự tạo tác ấy gọi là "Hành", chi thứ hai
trong mười hai nhân duyên.
Do nghiệp
lành dữ huân tập chứa nhóm thành ra "nghiệp thức". Nghiệp thức này
theo chổ huân tập thuần thục rồi thác sanh vào thai mẹ, đó là món "Thức",
chi thứ ba trong mười hai nhân duyên.
Trong thai
mẹ, gom tinh huyết làm nhục thể, tâm thức cùng nhục thể ḥa hiệp gọi
là "Danh sắc" đó là chi thứ tư rong mười hai nhân duyên, (Danh: Tâm
thức; Sắc: Nhục thể).
Từ Danh
sắc lần lần tượng đủ sáu căn, gọi là "Lục nhập". Đó là chi thứ năm
trong
mười hai
nhân duyên.
Sau khi ra
khỏi thai, sáu căn xúc đối với sáu trần, biết nóng, lạnh, đau, êm...nên
gọi là "Xúc", chi thứ sáu trong mười hai nhân duyên.
Do sự cảm
xúc ấy, mà tâm dần dần sanh niệm phân biệt, rồi có những giác thọ
vui, khổ ...Đó là "Thọ", chi thứ bảy trong mười hai nhân duyên.
Do sự cảm
thọ vui ,khổ, khởi niệm ưa ghét, chấp đắm ấy mà sanh ra có "Ái", chi
thứ tám trong mưởi hai nhân duyên
V́ tham ái
nên t́m cầu nắm lấy cái hay cái tốt, cái ưa thích. Đó là "Thủ" chi
thứ chín trong mười hai nhân duyên.
Muốn cho
thỏa măn những chổ nhiễm trước, ưa thích của "Ái" và "Thủ", nên phải
tạo nghiệp. Nghiệp này có thể chiêu cảm quả báo vị lai, nên gọi là "Hữu"
, chi thứ mười trong mươi hai nhân duyên.
Đă có "Hữu"
là cái mầm giống, th́ thế nào cũng có "Sanh" là chi thứ mười một
trong mười hai nhân duyên.
Đă có "Sanh"
th́ phải có "Lăo và Tử" là chi thứ mười hai trong mười hai nhân
duyên.
Trong mười
hai nhân duyên. "Vô minh" thuộc về "hoặc" và "Hành" thuộc "nghiệp".
Đó là nhơn quá khứ mà có năm quả "Khổ" hiện tại là: Thức, Danh sắc,
Lục nhập, Xúc và Thọ.
Do quả "Khổ"
hiện tại nói trên mà khởi ra "Hoặc" là ái thủ và tạo "Nhgiệp" là hữu,
để làm nhơn cho quả "Khổ" sau là sanh và lăo tử ở vị lai.
Như thế ,
từ nhơn quá khứ, sang quả hiện tại, làm lại nhơn cho quả tương lai,
ba đời cứ nối tiếp xoay vần măi măi không dứt, như một bánh xe lăn
tṛn, lên xuống, xuống lên không nghỉ.
Cứ đó mà
suy ra th́ biết rằng, người chẳng những sống một đời trong hiệi tại
này, mà trước kia, về quá khứ đă trải qua không biết bao nhiêu đời
sống rồi. Và sau này, trong vị lai, cũng sẽ c̣n vô lượng đời sống
nữa. Người hiện sống đây để rồi chết, mà cái chết lại là cái nhơn
làm thành đời sống vị lai.
Như thế,
sống, chết nối tiếp theo nhau không bao giờ dứt, như những làn sóng,
cái này tan đi để hiệp lại cái khác, không bao giờ hết, nếu c̣n gió.
Con người, nếu gió vô minh c̣n thổi th́ ḍng sanh mạng c̣n lưu
chuyển, lăn trôi, ch́m nổi măi.
II.-
Thân Người Như Thế Nào?
Sau khi
chúng ta đă biết nguyên nhân gây tạo ra sự hiện diện của người trên
cơi thế này rồi, một câu hỏi khác hiện đến trong đầu chúng ta là:
Thân con người như thế nào? đẹp đẽ hay xấu xa, có thật hay giả, đáng
quư hay đáng khinh?
Để giải
đáp vấn đề này, đạo Phật có nhiều thuyết, tuy theo Tiểu Thừa hay Đại
Thừa, tôn phái này hay tôn phái khác. Những thuyết ấy, mặc dù
khác nhưng
không trái chống nhau, mà chính là bổ khuyết cho nhau, làm cho vấn
đề này được tŕnh bày trong nhiều khía cạnh, từ hẹp đến rộng, từ cạn
đến sâu, từ ngoài đến trong, từ tướng đến thể, từ biệt tướng đến
tổng tướng...
Dưới đây
chúng tôi xin tuần tự tŕnh bày các quan niệm ấy từ Nhơn thừa đến
Thiên thừa, qua Nhị thừa rồi cuối cùng đến Đại Thừa, để quư độc giả
có một quan niệm đầy đủ đến vấn đề này:
1.- Quan niệm Nhơn thừa: Thân người ḥa hợp, do tinh huyết cha mẹ cùng thần
thức, góp bốn chất: Cứng, ướt, nóng, động mà thành. Chủ động trong
ấy là thức (nghiệp thức). Bởi nghiệp thức người nhóm các duyên hội
họp làm thân người. Nghiệp thức ấy có ra do bởi sự gây tạo v́ đời
trước huân tập nơi tự tâm kết thành công năng có tánh cách người, có
thể cảm đặng thân người. Như vậy là từ nơi tự tâm tạo tác hạnh
nghiệp, các hạnh nghiệp ấy trở lại huân tập thành công năng nghiệp
người nơi tự tâm, cho đến khi công năng nghiệp thức ấy thuần
thục, gặp đủ các trợ duyên, chiêu cản hiện ra có thân người. Vậy
thân thể không phải tự nhiên không nhân mà có, cũng không phải ai
khác làm ra, mà chính do tự tâm tạo, tự tâm biến hiện, nên có câu:
"Tâm tạo nhứt thế" và câu "Tam giới hữu t́nh, giai tuần nghiệp hữu".
Thân thể theo nghiệp nhơn mà có, nghiệp nhơn hữu hạn, nên thân thể
có lúc ră rời. Trong khi thân thể c̣n, từ nơi tự tâm tạo tác các
hạnh nghiệp để gây thành công năng chiêu cảm thân sau, và thân sau
này sẽ thành hiện tại; khi thân trứơc đă theo nghiệp báo mà tiêu
diệt. Cho nên Phật giáo đối với sự chết, chỉ là sự xoay biến của
nghiệp nơi tự tâm, để thay thân cũ, lấy thân mới.
Trong khi
mọi người, v́ sự hiểu biết cạn hẹp đă lầm tưởng thân thể thoạt nhiên
sanh, và sau khi chết hoàn toàn tiêu diệt.
Chết để
thay đổi thân mới, sanh để thế thân cũ, xoay vần nơi ṿng chết
và sanh, sanh và chết, thay thân cũ lấy thân mới, lấy thân mới để thế
thân cũ, như người thay y phục.
Vậy thân
thể của người hiện nay, chỉ là một thân trong vô lượng thân. Người
đă thay bỏ không biết bao nhiêu thân về trước, sau này người cũng sẽ
phải đổi thay không biết bao nhiêu thân nữa, nếu không một niệm "hồi
quan phản chiếu".
Sự sanh
hiện tại, chỉ là một lần sanh trong vô lượng lần sanh; và sự chết
ngày nay cũng chỉ là một phen chết trong vô lượng lần chết.
Phật giáo
đối với sự sanh, không tham câu, v́ nó là vô thường không lâu không
bền; đối với sự chết, không sợ hăi, v́ nó không phải mất hẳn đi, mà
chỉ là sự thay củ đổi mới. Không tham cầu, không hăi sợ, nên Phật
giáo đối với thân thể khác hẳn với thường t́nh trong đời.
Người ta
thấy nơi người đă thật hiểu Phật giáo, khi chết như khi sống, lúc
đau như lúc mạnh vẫn an ḥa b́nh tĩnh.
Thân hiện
có đây, là cái quả của nghiệp thân đă tạo ra từ trước và thân sẽ có
sau này là do sự tạo nghiệp bây giờ, nên người trong Phật giáo đương
thọ lănh báo thân hiện tai, dầu khổ hay vui đều nhận chịu một cách
vui vẽ và nhẫn nai, v́ có kêu cầu chán nản thế nào không thể làm ǵ
được một khi đă kết quả, mà nhứt là chỉ lo lắng trau dồi cá nhân, là
đều có thể đổi xấu ra tốt, để hưởng lấy quả báo tốt đẹp ở tương lai,
tức là tu tập các pháp lành, cùng dẹp trừ tâm niệm hành vi bạo ác.
Cơi người
thuộc về đường lành, mặc dầu chưa khỏi khổ, nhưng có thể tu tạo
nghiệp nhơn để hưởng lấy nhiều hạnh phúc ở thân người. Người ta sẽ
bảo, hoặc sẽ cảm thấy sự vui thú, sự hạnh phúc ở nơi người xinh đẹp
khỏe mạnh, đầy đủ tất cả nhu dụng, và sự khổ năo, sự tai hại ở người
xấu xí, đau yếu, thiếu thốn các vận dụng.
Trong hội
nói pháp ở Ta Kiệt La Long Cung, đức Phật đă chỉ cho đại chúng biết
sự sai khác nơi thân thể của mọi loại, như thiên thân thể tốt đẹp uy
nghiêm, hàng Bát bộ sức hùng mạnh mẽ, loài rồng cả thân h́nh thô bỏ
xấu xa, bọn cua trạnh tanh hôi hèn yếu. Đều là thân thể, tại sao có
tốt xấu khác nhau? Đó là lúc b́nh sanh nơi thân, khẩu, ư thi thố
lành hay gây tạo dữ. Nghiệp lành cảm thân tốt đẹp; nhơn dữ chiêu cảm
quả xấu xa, do tự tâm tạo rồi tự thọ. Muốn chúng sanh được thân thể
tốt đẹp khỏe mạnh, để hưởng hạnh phúc trong cơi người, trong kinh
Thiện sanh đức Phật cặn kẽ chỉ dạy cách ăn ở hợp pháp trong gia đ́nh
về nhơn đạo, lấy năm giới cấm làm căn bản. Bất sát sinh để gây tạo
thiện nhân, cảm thành quả thể xinh đẹp khỏe mạnh sống lâu ở tương
lai. Không trộm cắp gian tham để làm thành nghiệp lành, hưởng quả no
ấm đầy đủ cho thân thể tốt đẹp. Trừ tà dâm để chiêu cảm thân h́nh
đoan trang, cùng hưởng phúc gia đ́nh. Tránh vọng ngữ để được giọng
nói điều ḥa, trong trẻo. Và kiêng rượu để khỏi phạm mấy điều trên,
cùng gây dựng ở hiện tại và vị lai, bộ trí óc sáng suốt.
2.- Quan
niệm Thiên thừa: Trọn vẹn năm giới cấm, nhân đạo đă hoàn thành, đào
tạo chắc chắn nghiệp chủng người tốt lành nơi tự tâm, và sau này khi
thuần thục sẽ cảm lấy thân thể làm người tốt đep mạnh khỏe, trường
thọ, giọng hay, óc sáng để hưởng hạnh phúc nơi cơi người. Trên cơi
người c̣n có các cơi Trời, về thân thể, mọi phương diện đều hơn
người; không như thân người phải thai sanh nhớp nhúa, khổ sở v́ các
vị Trời được hóa sanh. Thân thể cực kỳ xinh đẹp, cao lớn giống nhau,
các căn đầy đủ, thấy suốt, nghe xa, được thần thông tự tại theo ư
muốn, đồ nhu dụng tự nhiên có, cho đến khỏi tất cả bệnh tật. Thân
thể thường khỏe mạnh luôn, vẫn măi trẻ trung không già; không như
thân người đều không tránh khỏi nỗi đau khổ v́ bịnh hoạn, bức bách
v́ già yếu. Thân thể các loài trong thế gian, chỉ có thân Trời là
hơn hết, từ những điều tốt đẹp của thân, nhẫn đến sự thọ dụng.
Từ đâu
Chiêu cảm được sự thù thắng ấy? Cũng như đă nói ở trước, tạo nghiệp
nhơn ǵ th́ tự tâm sẽ ǵn giữ nghiệp nhơn ấy, và sẽ chuyển hiện ra
quả đúng như vậy.
Như vậy
ngay ở dưới ánh sáng mặt trời, th́ bóng của vật ấy thẳng; trái lại,
vật ấy bóng ác cong, muốn được bóng thẳng th́ phải sửa sang cho vật
ấy thật ngay. Cũng như muốn được hưởng thân Trời, phải vun trồng
nhiệp nhơn Trời. Phật dạy 10 điều lành gọi là "thập thiện nghiệp"
tức là các đức tánh tốt, phát sanh từ thân, khẩu, ư tưởng, thật hành
hoàn toàn 10 nghiệp lành. Tự tâm trong sạch, th́ nghiệp chủng có
công năng tốt đẹp, sẽ cảm thọ thân thù thắng, không bịnh tật, khỏi
già nua, trường thọ ở cơi Trời.
Đức Phật
dạy những nguyên nhân và quả báo cùng sự tu hành, để khỏi bị những
thân xấu xa, khổ sở và được cảm hiện những thân cường tráng, vui vẽ
tốt tươi của người và Trời; chính là "Nhơn thừa Phật giáo" cùng "Thên
thừa Phật giáo" đối với thân thể.
Mặc dù vui
vẻ ở thân người, song thân người c̣n phải bị tám điều khổ lụy. Dầu
thù thắng ở thân Trời, song thân Trời chưa khỏi nạn vô thường, khi
nghiệp nhơn đă măn (ngũ suy tướng hiện).
V́ Trời và người đều c̣n là
phàm phu trong tam giới, vậy thân người và thân Trời chưa phải là
chổ đáng ham, nên trong Phật giáo c̣n có ba Thừa siêu thoát ngoài
ṿng khổ lụy của ba cơi, tức là: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và
Bồ tát thừa.
3.- Quan
niệm Nhị thừa:
a).Thân
bất tịnh:- Lấy con mắt của hàng Nhị thừa xem nơi thân thể, chỉ là
một giống nhơ nhớp, do nhiều chất nhơ uế ḥa hiệp. Các Ngài chỉ cảm
thấy nó là hiện tượng của muôn điều khổ sở, buộc ràng không có mảy
may chi đáng gọi là vui thú, nên có câu "thân vi khổ bổn". Và thân
thể là chổ nhơ, góp tất cả sự nhơ nhớp, cùng để rồi ră rời tan át,
nên có câu "thị thân bất tịnh, cách nang xú uế", và ""thị thân vô
thường, tất quy tán diện". Thử nghiệm xem những sự thống khổ ở trong
thế gian từ đâu mà có? -Phải chăng do nơi thân thể; các sự thống khổ
như: lạnh,nóng, đói, khát, mỏi, khổ, đau, nghịch trái...Đều thuộc nơi
về nơi thọ, mà thọ có ra là bởi lục căn tiếp xúc với lục trần, thân
thể là chổ nương của lục căn, nên sự khổ thọ lấy thân làm gốc. Vả
lại, người đời không ǵ khổ bằng: lúc sinh đau đớn kêu la, khi già
lụm cụm run rẩy, lúc ốm đau, yếu đuối bức rức, khi chết giăy giụa
hăi hùng, bốn việc đại khổ ấy, lại là cái khổ sanh, trụ, dị, diệt,
của thân thể.
Xưa bốn
thầy Tỳ kheo cho ở đời sự sợ sệt, sự nóng giận, sự dâm dục cùng sự
đói khát là khổ nhứt. Đă bị Phật quở trách v́ chưa xét đến thân là
gốc của muôn điều khổ. Không thân th́ các sự khổ: sợ, giân, dâm, đói
từ đâu mà có. Thấu đáo thay cho câu "thân vi khổ bổn" và câu "thân
như oan thù". Sự nhơ nhớp hôi hám của thân thể không thể tả xiết.
Người ta không nhớ quá khứ, không nghĩ đến vị lai, chỉ ḍm nơi hiện
tại và dùng nào là quần áo phủ che, nào là xạ hương xông ướp, để tự
làm mê hồn ḿnh, trước đồng hôi tanh bất tịnh.
Thử nh́n
đến các chất như cửu khiếu (9 lỗ cống) trong thân chảy ra, tự ḿnh
cũng đă quá gớm của ḿnh, chưa nói đến thân thể của người khác, nên
trong kinh có câu " chư khổ lưu bất tịnh".
Làn da
mỏng là một cái đăy mà trong đó chứa đầy những: máu, mủ, thịt, xương,
đàm dải và đại tiểu tiện v.v...C̣n ǵ ghê tởm bằng khi một thân
người bị lột cả da và bị banh xé. Câu "Cách nạn xú uế" đă từ miệng
Phật thốt ra để cảnh tỉnh kẻ say đắm. Thân nhơ nhớp hiện tại từ đâu
mà có?- Từ ngày trước: điểm tinh, giọt huyết ḥa lẫn trong khi
nghiệp thức vọng tưởng mê cuồng với sự giao hợp của cha mẹ mà kết
thành. Sự dơ dáy của tinh huyết, sự đáng nhờm của bào thai, thật
không bút mực nào tả hết, cho đến sau này nghiệp thức đă xa ĺa,
thâh thể sẽ xanh cứng, sẽ śnh chương, sẽ nứt nở ra lần để làm ổ cho
đám gịi tửa, làm chỗ cho ruồi kiến bu đậu, và để tiết ra những chất
nhơ nhớp nhứt và hôi tanh nhứt. Lúc mới kết hợp: vọng tưởng tinh
huyết bất tịnh; khi to lớn,: đàm đạnh, phân đái máu mủ bất tịnh. Lúc
chết tan ră hôi tanh bất tịnh. Như vậy thân người là một vật bất
tịnh nhứt trong các vật bất tịnh. Từ đầu đến cuối, khi mới tượng
sanh đến lúc hư mất, thảy đều toàn là bất tịnh.
Trong thân
nhơ nhớp bất tịnh, đáng ghê tởm nhớp ấy, c̣n có một sự mà e nếu thấy
hiểu, người ta sẽ không c̣n ham muốn ǵ về thân thể. Từ lúc nào đến
lúc nào, bao giờ cũng ráp ranh đến chỗ tiêu diệt. Đang trẻ trung,
thắm thoát đă già nua. Từ cái mạnh mẽ tươi tắn, không bao lâu đổi
thành yếu đuối, mệt nhọc, nhăn nheo. Trong khoảng thởi gian ấy,
không biết bao nhiêu sự đổi thay vô thường. Thân năm trước không
phải là thân năm nay, thân tháng trước không phải là thân tháng tới,
thân ngày nay không phải là thân hôm qua,cho đến từng giờ từng phút,
từng sát na cũng đă đổi khác. Đă có đổi thay, tất phải có lúc tiêu
diệt, không ai có thể dừng được sự thay đổi nhanh chóng của thân, và
không có ǵ bảo đảm được cái họa trạng hấp tấp mà mọi người đều sợ:
"cái chết". Mạng sống không khác chỉ mành treo chuông, chỉ chực đứt
dây là rớt bể, nên có câu: "nhơn mạng tại hô hấp gian". Một hơi thở
ra mà không hít vào, tức là đời sống của thân không c̣n, giờ tan ră
sắp đến. Than ôi! Thân là cội khổ, thân là bất tịnh, thân là vô
thường, có ǵ đáng sợ, có ǵ chán bằng thân.
Ỏ nơi thân không có
mảy mún gi để chỉ có thể tạm gọi là đáng tŕu mến, đáng thương tiếc!
Người tu
hạnh Nhị thừa, quán sát thấy thân như vậy, nên nhàm chán nơi thân,
ghê sợ sanh tử vô thường, gớm nhờm hôi tanh nhớp nhúa, do đó nên gấp
lo tự lợi, vội mong thoát ly thân, mà tu các pháp môn tu siêu diệt
thoát ly tam giới. Có người thấy rơ thân là khổ sở dơ dáy vô thường
như trên, rồi sợ quá, quá nhờm, bèn vội vàng t́m cách xa ĺa mau
chóng: "tự tử". Mấy kẻ lầm to. Họ tự tử để chóng ra khỏi thân, mà họ
không biết rằng chính họ đang bồi đắp cho thân được chắc chắn lâu
dài. V́ thân có ra là do nghiệp nhơn, thân là quả của nghiệp nhơn,
muốn khỏi quả phải trừ nhơn, nay nhơn cứ tạo, cứ gieo mà muốn đừng
có quả, quyết hẵn không thể được. Không khác nào người sợ bóng ḿnh,
muốn bóng ḿnh không hiện, mà cứ chạy trong ánh nắng. Khi Phật c̣n
tại thế đă có một người có ư tưởng sai lầm này, dó là ông Phước Tăng
Tỳ kheo, ghét thân già yếu đau khổ, toan thoát thân bằng cách treo
cổ trên bờ suối, bèn bị Ngài Mục Kiền Liên quở trách là khờ dại,
cùng giải bày chánh lư cho nghe. Sợ già, đau, sống, chết mà quyên
sinh, thật là trở lại gây tạo sự già đau sống chết. Người ta có thể
dứt bỏ thân hiện tại, song không thể rời bỏ muôn ngàn thân sẽ có ở
vị lai, khi nghiệp hoặc hăy c̣n. Nghiệp hoặc c̣n th́ khi thân này hư,
tất lại tạo thành thân khác, có thân khác tất phải có già, đau, sống,
chết, khổ sở như vậy. Muốn thoát hẵn khổ lụy v́ thân thể, phải đoạn
trừ cội gốc hiện ra thân, tức là phải dứt hoặc chướng cùng nghiệp
nhơn.
b). Thân
giả hợp: Cái gốc "hoặc nghiệp" đă trừ, th́ cái ngọn là "thân" tức
nhiên phải khổ mục. Nhơn đă không c̣n th́ quả cũng tự mất. Thân sau
không c̣n chiêu cảm th́ các khổ lụy không nương đâu mà có, tức là an
vui giải thoát. Dứt được nghiệp hoặc th́ vô lậu huệ sanh, thành bựt
Nhị thừa Thánh nhơn. Đến đây thân thể các bực này không c̣n thiệt
thân thể, mà chỉ là sự kết cấu của ngũ ấm, hay thập nhị xứ. Trong
khi người thường nhận là thiệt có thân thể, có đầu mặt tay chân, có
h́nh dung động tác, mà với huệ chứng của các Ngài thấy là sắc, là
thọ, cho đến là thức; hay thấy là: nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư;
mỗi món có phần vị riêng, không có cái ǵ có thể gọi là thân thể?
khác nào như ở xa có thấy một cụm rừng liền lạc um tùm, mà khi đến
gần kề, th́ chỉ thấy cây cối rời rạc, thể của rừng không c̣n là
thật. Cảnh giới ấy đối với người chưa chứng đến, thật khó nhận hiểu,
thán chỉ không thiệt có, nó có chỉ là có đối với nghiệp thức của
chúng ta thôi. Nó đẹp, nó đáng ưa, cũng chỉ là phụ hợp với t́nh vọng
ô nhiễm, xinh đẹp đối với người
này , chưa chắc hẵn đă xinh đẹp
với người khác. Nàng Tây Thi người đời ca tụng là đẹp , là đáng yêu,
mà chim gặp chim sợ bay xa, cá thấy cá sợ lẫn trốn. Nên thân Nàng
Tây Thi chắc thiệt là đẹp đáng yêu, th́ sao chim cá lại phải sợ hăi?
Phải chăng sự đẹp ấy, chỉ là do đồng nghiệp của loài người .
Cho đến
thân thể h́nh dáng tác dụng, chỉ có con mắt thường của người . Một
mỹ nhân cực kỳ lộng lẫy, nếu ta dùng quang tuyến mà xem, th́ mỹ nhân
không c̣n, mà chỉ hiển hiện bộ xương hồng trắng, và nếu ta dùng kính
chiếu đại gấp trên ngàn lần, th́ ta chỉ thấy đó là một đống da thịt
rời rạc, cách nhau từng khoảng. Nếu mọi người đều mang con mắt quang
tuyến, cùng kính chiếu đại gấp ngàn lần, th́ thử
hỏi giữa đây, c̣n
có cái ǵ thiệt là thân như trước.
Huệ nhăn
của các vị Nhị thừa Thánh nhơn củng thế. Đối với người thường là
thân thế xinh đẹp,với các ngài th́
thân thể c̣n không có, huống nữ là xinh đẹp. Chẳng phải là duyên
cảnh khác, mà chổ thấy có sai khác. Cũng đồng một cảnh, song v́ thức
trí khác nhau, nên chổ nhận thấy thành kkhông đồng. Do không c̣n
thấy là thật có thân thể, nên các Ngài không c̣n sanh ḷng luyến
ái nơi thân không c̣n có niệm: thân ḿnh, thân người , v́ tất cả đều
là ngủ ấm, là lục căn, lục trần; dưới huệ nhăn của các ngài, và hơn
nữa đều đồng là tứ đại giả hợp: da, thịt, gân, xương, tóc, móng
toàn là địa đại; tinh, huyết, đàm, nhớt, nước mắt, mồ hôi,
toàn về
thủy đại; nhiệt độ thuộc về thủy đại; nhiệt độ thuộc về hỏa đại;
cùng sự chuyển động thuộc về phong đại. Tứ đại nếu trái nhau, th́
thân thể làm sao đặng có. Rơ biết thân thể là hư vọng, th́ cả thảy
phiền năo tự trừ, v́ thân là căn bản của ái nhiễm khi bấy giờ vô ngă
trí phát sinh vĩnh viễn thoát ly sanh tử trong ba cơi, tức là rốt
ráo được Nhị thừa Phật giáo.
4.- Quan
niệm Đại thưa:
a) Thân
như huyễn hóa: Mở rộng tầm quan niệm, thân thể đối với hàng tu quán
Đại Thừa, là một giả pháp do sự kết cấu của sắc tâm và không rời
ngoài thức. Do danh ngôn, ngă chấp, hữu chi ba món huân tập nơi tự
thức, tọa thành danh và sắc công năng, khi đủ duyên bèn chuyển hiện,
thành thân thể, rồi bám lấy sắc thân, làm tự thể sanh giác thọ, và
cùng với thân đồng an đồng nguy; khi thức không c̣n cháp tŕ, th́
thân hoại diệt. Thân không tự có, do thức tự chuyển biến mà có, thân
không tự thể, lấy thức làm thể, toàn thân là thức, ngoài thức không
thân. Thân có là do thức công năng biến hiên, công năng hiện thân,
bởi các nghiệp duyên huân tập nơi thức mà thành. Nghiệp duyên có ra,
lại nương nơi thân mà phát khởi nên thân thể là pháp hư giả, do thức
biến hiện. Song từ nơi thân thể tạo nghiệp nhiễm hay tịnh, làm duyên
huân tập nơi tự tâm, khiến tự tâm chuyển thành công năng nhiễm hay
tịnh. Thân thể cùng công năng xoay chuyển làm nhơn duyên cho nhau,
có không phải thiệt có, không không phải thiệt không, thật đồng
huyễn hóa. V́ đó nên với quán trí của Đại Thừa th́ thân thể như
huyễn hiện. Bởi như huyễn không thật có, nên không sa vào lỗi tăng
ích của phàm phu, cùng lỗi vọng chấp thường c̣n của ngoại đạo. Bởi
như huyễn, giả có chẳng phải không hẵn, nên khỏi bị lỗi tổn giảm của
Nhị thừa và chấp đoạn diệt của tà giáo.
Bồ tát
nương nơi huyễn thân, tu như huyễn pháp môn, nhứt huyễn ái kiến, độ
huuyễn hữu
t́nh, chứng huyễn Thánh quả. Do thấy thân như huyễn hóa,
toàn hư vọng, không c̣n ái trước nơi thân, nên phiền năo không sanh.
Không ái trước nơi thân, th́ khỏi vị thân mà phải thối thất đạo
hạnh. Thọ vô lượng thân, tu hành trải qua vô lượng kiếp, mà với Bồ
tát, không có một mảy may niệm tưởng là có thọ thân, cùng có sả
thân.
Mảy niệm
c̣n không, huống ǵ có tiếp số, nên có câu: "thọ thị khổ...kiếp số
phi kiếp số". V́ thân tùy duyên như huyễn sanh, sanh tức vô sanh;
thân tùy duyên như huyễn diệt, diệt tức vô diệt, nên có câu: "chúng
duyên giả hiệp, hư vọng danh sanh, chúng duyên ly tán, hư vọng danh
diệt". Không sanh không diệt tức là "thật-tướng". Cổ đức có câu:
"huyễn thân bổn tự không tịt, sanh dụ như cảnh h́nh tượng. Giác liễu
nhứt thế không, huyễn thân tu dụ chứng thật tướng". Đó là từ nơi
thân, quán "giả" nhập "không", chứng "trung đạo".
b) Thân
ḿnh và vũ trụ là một: Thêm lên một từng nữa, Bồ tát quán thân ḿnh
tức là toàn thể vũ trụ, là toàn thể chúng sanh. V́ sao? Tất cả các
pháp đều đắp đổi làm duyên, đối đăi với nhau. Một pháp này có ra, là
do đối đăi với các pháp kia, các pháp kia có ra, là do đối đăi với
pháp này. Thân thể hiện có, là nhờ vũ trụ đối đăi làm duyên, vũ trụ
trở lại là do sự đối đăi của thân thể mà có. Duyên nơi vũ trụ mà có
thân thể , th́ thân thể là vũ trụ. Duyên nơi thân thể mà có vũ trụ,
th́ vũ trụ là thân thể. Vũ trụ và thân thể không hai không khác.
Thân ḿnh và toàn thể vũ trụ, thân người cũng toàn thể vũ trụ. Cho
đến thân của tất cả hữu t́nh, cũng đều là thân thể vũ trụ. Toàn thể
vũ trụ là thân ḿnh, mà toàn thể vũ trụ cũng là thân của tất cả hữu
t́nh, và thân hữu t́nh là toàn thể thân ḿnh. Vũ trụ thể tánh viên
măn, th́ thân ḿnh là thân tất cả hữu t́nh, thể tánh cũng đều viên
măn.
III.-
Thân Phận Của Con Người Đáng Chán Hay Không Đáng Chán
1.- Hoàn
cảnh là địa vị của con người trong vũ trụ như thế nào?
Như trong
phần vũ trụ quan đă có nói, thế giới có chia ra ba từng bậc là: Dục
giới, Sắc giới và vô Sắc giới. Sống trong Dục giới là những sanh vật
c̣n bị ḷng dục sai tử, điều khiển, như thực dục, dâm dục. Những
loài sống trong Dục giới là: súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, a tu la,
người và chư thiên.
Như thế
nào là người cũng sống cùng một cảnh giới với các loài vừa kể trên.
Vẫn biết trong sáu loài ấy th́ địa vị con người được xếp vào hạng
nh́, nhưng dù sao th́ cũng không sống trong một hoàn cảnh không sáng
sủa ǵ, v́ là hoàn cảnh là chủ tể là ḷng Dục. Cho nên Phật thường
dạy: "Nước mắt chúng sanh nhiều hơn bốn biển" là thế! Ḷng dục đ̣i
hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm
ái ân...Nói tóm lại là muốn được thỏa măn những khoái lạc về ngũ
quan. Nhưng đâu đă hết! Con người c̣n ham muốn được thỏa măn những
nhu cầu về tinh thần: ham muốn chiếm đoạt, ham muốn về chế ngự, ham
muốn phô trương...nghĩa là tham danh tham lợi.
Nhưng nếu
tham mà được thỏa măn tất cả, th́ cũng đở khổ.
Ở đây, trái lại,
ḷng dục không bao giời được thỏa măn cả. May ra th́ c̣n cỏ thể thỏa
măn tạm thời trong chốc lát. Và như thế lại càng nguy hiểm, v́ chẳng
khác ǵ người khát mà uống nước mặn, càng uồng càng khát.
Loài người
bị trói buộc vào ḷng dục, như con ngựa bị buộc vào cổ xe, cứ phải
kéo chạy măi, không bao giờ được yên nghỉ. Hơn nữa,
ḷng dục ấy chính là cái mầm xung đột giữa loài này với loài khác:
ai cũng mong được thỏa măn ḷng dục của ḿnh, cho nên sanh ra vị kỷ,
làm khổ cho người khác và loài khác để ḿnh được vui. Do đó, mỗi
chúng ta sanh là một kẻ địch thù của mỗi chúng sanh khác, và cơi đời
này là một băi chiến trường, mà trong mỗi phút mỗi giây, có không
biết bao nhiêu là chiến sĩ bị ngă gục. Do đó cơi chiến trường ấy
cũng là một băi tha ma rộng lớn vô cùng. Theo Phật dạy th́ đó là một
biển khổ mênh mông!
Biển khổ
mênh mông sóng lụt trời,
Khách trần
chèo một chiếc thuyền trôi,
Thuyền ai
ngược gió, ai xuôi gió?
Xét lại,
cùng trong biển thảm thôi
2.- Tánh
chất vô thường và vô ngă của con người: Con người khổ v́ ḷng dục,
con người c̣n khổ hơn nữa v́ hai tánh chất căn bản sau đây:
a) Vô
thường: Mọi vật ở đời không đứng yên một chỗ, mà biến chuyển di động
luôn luôn trong từng phút, từng sát na. Thân phút trước, không phải
là thân phút sau. Cứ trong mỗi phút giây, bao nhiêu triệu tế bào
trong người đang chết và bị thay thế. Con người th́ tham được sống,
mà con người cứ bị kéo dần về cơi chết. Càng muốn được sống chừng
nào, lại càng sợ chết chừng ấy. Sự chuyển biến mau lẹ, từ tóc xanh
đến bạc đầu, chẳng khác ǵ một giấc chiêm bao.
b)Vô ngă:
Con người cũng như mọi vật, sở dĩ có là do nhân duyên ḥa hợp. Con
người chỉ là một cái tên, là một giả danh để gọi cái hợp của
năm uẩn là: sắc, thọ, yưởng, hành, thức. Khi đủ nhân duyên chúng nó
tập hợp lại th́ gọi là sống, khi nó tan ra th́ chết. Trong năm uẩn
ấy, có cái ǵ chủ tể, thuần nhất đâu? Vả lại, ngay trong năm uẩn ấy
cũng không có cái nào gọi là thuần nhất, mà cũng lại do sự tập hợp
của lục đại.
Không
thường mà tưởng là thường, không ngă mà tưởng là có ngă. Đó cũng tức
là cái mê mờ lớn nhất của con người. Và cũng chính do cái mê mờ ấy
mà con người đau khổ lại càng đau khổ thêm.
3.- Khả
năng của con người: Xét như trên, th́ thân phận con người thật là
đáng chán. Vậy th́ chúng ta đành thất vọng, buông xuôi tay mà than
khóc để chờ chết hay sao? Ta c̣n niềm tin ǵ ở con người nữa chăng?
Tất nhiên
là có! Phật dạy: "Chúng sanh đều có khả năng thành Phật". Nói một
cách khác, con người, mặc dù sống trong đau khổ, nhưng đều có Phật
tánh. Với cái Phật tánh ấy, con người có thể thoát ra khỏi hoàn
cảnh tối tăm của ḿnh. Để thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy, con người
không cần phải quỳ lụy, cầu xin một đấng nào khác, mà do tự lực và
hành động của ḿnh. Chỉ có ḿnh mới giải thoát cho chính ḿnh được
mà thôi. Con người, chính là vị sáng tạo của đời ḿnh. Khi mê th́
con người tự ḿnh làm cho ḿnh đau khổ, nhưng khi biết ḿnh mê mà
t́m cách thoát ra khỏi cảnh mê, th́ con người chính là kẻ tự gầy
dựng hạnh phúc cho ḿnh.
Đó là ưu
điểm của con người, đó cũng là niềm tin tưởng lớn của con người.
Đứng về một phương diện, th́ thân phận của con người thật là đáng
chán. Nhưng đứng về một phương diện khác, th́ con người thật đáng
phấn khởi.
Cho nên
bảo rằng nhân sinh quan của đạo Phật là bi quan cũng không đúng hẳn.
Lạc quan hay bi quan c̣n tùy thuộc ở phương diện quan sát của ḿnh.
C.- Kết
Luận:
Rút những
nhận xét trên, chúng ta có thể nào kết luận rằng: Khi trong mê, th́
thân phận con người thật là bi đát. Nhưng khi bắt đầu nhận được ḿnh
mê, th́ con người có thể hoán cải được hoàn cảnh và cuộc sống của
ḿnh.
Nhưng làm
thế nào để hoán cải? Làm thế nào để chuyển mê thành ngộ? Làm thế nào
để chuyển khổ thành vui? May thay! Giáo lư của dức Phật có đấy,
người chỉ dẫn phương pháp chuyển mê thành ngộ, chuyển khổ thành vui
c̣n đó.
Chúng ta
chỉ c̣n gia công tụ tập, th́ thế nào cũng chuyển đổi được hoàn cảnh
buồn thảm của chúng ta. Cho nên đức Phật thường dạy: Cảnh Ta bà này
cũng tức là cảnh Phật. Người cũng là Phật.
▲
Trở Lên |
| |