|
Bài Thứ 6
Mười Tông
Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa
Không phải
riêng ǵ Đạo Phật, tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, theo với
thời gian và sự phát-triển, đều có chia ra nhiều tôn phái. Sự phân
phái ấy là một lẽ đương nhiên phải có để cho các căn cơ và
hoàn cảnh
khác nhau đều có thể thích hợp được. Nếu không, th́ đạo không thể
phát-triển được về bề sâu cũng như bề rộng. Hơn một tôn giáo nào cả,
Đạo Phật không có những giáo điều thần khải, không có một tinh thần
rắn chắc, g̣ bó trong những h́nh thức hẹp ḥi, câu nệ, mà trái lại,
rất phóng khoáng, tự do, dễ khoan ḥa, dung hiệp, nên Đạo Phật đi
đến đâu cũng có thể phát-triển đúng theo căn cơ và
hoàn cảnh riêng
biệt ở địa phương ấy. Do đó, mà Đạo Phật có rất nhiều màu sắc riêng
biệt khi lan tràn trên các nước.
Riêng ở
Trung Hoa, Đạo Phật đă có chia mười tôn phái. Trong mỗi tôn phái đều
có đặc điểm riêng, nhưng không bao giờ vượt ra ng̣ai giáo pháp của
Phật cả. Những tôn phái này cũng như những con đường khác nhau, có
đường thẳng đường cong,đường cao đường thấp, đường rộng đường hẹp,
nhưng con đường nào cũng đưa đến một mục đích chung cả. Hành giả tùy
theo tŕnh độ, trí thức, khả năng, sở thích riêng mà lựa chọn con
đường nào thích hợp với ḿnh nhất để tu tập. Có như thế th́ sự tu
hành mới chóng có kết quả.
Mười tôn
phái ở Trung Hoa là: Luật tôn, Tịnh độ tôn, Thiền tôn, Pháp tướng
tôn, Mật tôn, Thiên thai tôn, Hoa nghiêm tôn, Tam luận tôn, Câu xá
tôn và Thành thật tôn.
Trong 10
tôn này, Câu xá tôn và Thành thật tôn chủ trương về Tiểu Thừa; Luật tôn
và Thiền tôn thông cả Đại và Tiểu Thừa, c̣n 6 tôn kia thuộc về Đại
Thừa.
Nghĩa lư
của các tôn rất mầu nhiệm kinh điển cũng rất nhiều, muốn hiểu cho
thấu đáo, cần phải chuyên môn nghiên cứu, công phu trong nhiều
năm trong phạm vi của khóa Phật học phổ thông này, chúng ta không
thể đi sâu vào mỗi tôn được. Ở đây, chúng ta chỉ nên biết qua đại
khái về giáo lư và làm quen với danh từ các tôn ấy, để có chổ nhập
môn mà thôi. Sau này, khi học cao hơn, chúng ta sẽ đi sâu vào từng
tôn phái một và sẽ tùy theo căn cơ sở thích của ḿnh mà lựa một
trong những tôn ấy để tu hành.
I.-
Luật Tông
Duyên
Khởi Lập Tông: Tôn này
dùng luật làm chỗ căn cứ nên gọi là Lụât tôn. Đức Phật khi c̣n tại
thế, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chế ra nhiều lọai giới luật để răn
dạy đệ tử, hóa độ chúng sinh. Sau khi Ngài nhập Niết bàn, các đệ tử
của Ngài,như Ngài Ưu-Ba-Li là vị tinh thông về giới luật đứng trên
pháp tọa trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, đă tụng đọc lại
những giới luận mà Đức Phật đă chế ra. Lần kết tập này chưa biên
chép thành kinh điển, nên Ngài Ưu-Ba-Li phải đọc đi đọc lại đến 80
lần, đến nỗi mỗi người trong hội đều thuộc ḷng. Do đó, mới có tên
là "Bát thập tụng luận". Về sau,tuần tự theo thời gian, nguyên thủy
Phật giáo lần hồi chia ra làm nhiều nhánh, hay bộ phái. Mỗi bộ phái
đều theo một bộ lụât riêng. Trong số các bộ luật này, bộ được nói
đến và áp dụng nhiều nhất là các bộ: Thập tụng, Tứ phần, Tăng kỳ,
Ngũ phần.
Những bộ
luật này được truyền sang Trung Hoa và được phiên dịch ra Hán văn.
Đến đời Đường, Ngài Trí Thủ luật sư chú giải các bộ ấy, và đệ tử của
Ngài là Đạo Tuyên luật sư, nhận thấy trong các bộ ấy, bộ luật Tứ
phần là thích hợp căn cơ người Trung Hoa, nên đă căn cứ vào luật này
để lập ra Luật tôn. Ngài Đạo Tuyên là người ở Chung nam sơn, nên
người đời gọi tôn này là "Chung nam sơn" để phân biệt với các Luật
tôn khác, như của các Ngài Pháp Lệ bên phái Hữu tướng bộ,hay Ngài
Hoài Tố ở Đông pháp.
Trong các
Tôn này, chỉ có Luật tôn của Ngài Chung nam sơn là thịnh hành hơn
hết và được truyền bá cho đến bây giờ, v́ nó trung ḥa cả Đại Thừa
lẫn Tiểu Thừa.
II.-Tôn
Chỉ Và Đặc Điểm Của Luật Tông
Phàm một
tổ chức, một công viếc ǵ đúng đắn cũng đều phải tuân theo những quy
luật nhất định. Hơn tất cả, sự tu hành lại càng phải tuân theo những
giới luật nghiêm minh. Như chúng ta đă biết trong phần giáo lư căn
bản, nghiệp là động lực chính của vũ trụ nhân sinh. Nghiệp định đoạt
tất cả đời sống chúng ta. Nghiệp có ba loại: Nghiệp của hành động,
nghiệp của lời nói và nghiệp của ư nghĩ. Nếu những nghiệp ấy được
thanh tịnh, không tạo ra các điều ác, th́ ta không thọ quả báo sinh
tử luân hồi. Không có quả báo sinh tử luân hồi th́ tất nhiên là được
giải thoát. Muốn các nghiệp được thanh tịnh th́ ta phải giữ ǵn giới
luật, chính là một phương pháp tu hành trong nhiều phương pháp mà
Phật đă chia ra. Phương pháp này rất thiết thực và rất hiệu nghiệm
đối với Phật tử chúng ta:
-Giữ giới
không sát nhơn hại vật, hiện người không làm người hung dữ, khỏi bị
tù tội, về sau khỏi bị đọa trong ba đường dữ là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, và khỏi bị người giết haị, đó là tu.
-Giữ giới
không trộm cướp th́ hiện thời làm người lương thiện khỏi bị giam cầm
xiềng xích, đời sau không mắc quả báo, bị người giựt của cướp nhà, đó
là tu.
-Giữ giới
không tà dâm, hiện thời thành người tốt, gia đ́nh ḿnh và người
không bị rầy rà, đánh đập, khổ sở v́ ghen tương, đó là tu.
-Giữ giới
không nói dối, không nói láo xược, thèo lẽo, thêm bớt, đâm thọc,
không nói hung ác và thô tục, th́ không bị người khinh khi, lại được
sự kính trọng, đó là tu.
-Giữ giới
không cờ bạc, hút xách, rượu chè, th́ khỏi mất tiền, thiếu nợ, khỏi
say sưa, làm điều tội lỗi và khỏi bị người khinh bỉ, trí tuệ tăng
trưởng, đo là tu.
Nói một
cách tổng quát, giữ một giới là ngăn ngừa được một điều tội lỗi,và
thêm được một điều lành; giữ nhiều giới là ngăn ngừa được nhiều điều
tội lỗi và thêm được nhiều điều lành. Bởi thế, nên giữ giới luật
là phương pháp tu không xa thực tế và rất cần thiết cho các Phật tử
cầu đạo giải thoát.
Nhờ giữ
"giới luật" không làm các việc tội lỗi, nên tâm được "định"; do tâm
định nên phát ra "trí huệ sáng suốt". Nhờ có trí huệ sáng suốt nên
phá trừ được vô minh si ám, và được minh tâm kiến tâm thành Phật.
Người tu
tại gia có giữ giới, mới thành Phật tử chơn chính. Người xuất gia
thọ Sa-di, có giữ giới mới phải là chơn tu. Thầy Tỳ-kheo có giữ giới
mới phải là Tỳ-kheo thanh tịnh. Bồ Tát có giữ giới mới phải là chơn
Bồ Tát. Bởi thế nên trong ba món vô-lậu học (giới,định,huệ ), "giới"
đứng đầu tất cả.
Tôn này sỡ
dĩ lập ra là nhằm vào lợi ích thiết thực và chín chắn của giới luật,
như đă tŕnh bày ở trên.
III.- Các
Loại Giới Luật
Giới luật
có nhiều lọai từng bậc, tùy theo căn cơ, tùy theo giới tu sĩ, tùy
theo sự phát nguyện của kẻ tu hành mà áp dụng. Nhưng nói một cách
tổng quát th́ giới luật có thể phân chia làm hai lọai lớn là:
Giới
lụât của Đại Thừa và
giới luật của Tiểu Thừa.
-Những
giới luật nào có tánh cách tiêu cực, tự lợi, chỉ có mục đích chính
là tránh tội lỗi cho riêng ḿnh là thuộc về giới Tiểu Thừa. Tất
nhiên trong khi giữ giới cho riêng ḿnh, th́ người khác cũng được
lợi như giữ giới không trộm cướp, th́ ḿnh được lợi là kềm giữ ḷng
tham, mà người khác cũng được lợi là khỏi phải bị cái khổ v́ tiếc của
đă mất. Mặc dù thế, giới không trộm cướp cũng chỉ liệt vào giới
Tiểu-thừa, v́ trong khi giữ giới, mục đích chính, trực tiếp là giữ
cho ḿnh; c̣n cái lợi cho người chỉ ảnh hưởng gián tiếp của giới ấy.
Những giới như: Ngũ giới (5 giới do Phật chế cho người tại-gia),
Bát-quan-trai giới (8 giới Phật chế cho người tại gia-tập sống như
người xuất gia), Sa-di giới và Sa-di-nhiều giới (10 giới Phật chế
cho người mới xuất gia), Thức-xoa (6 điều nữ học giới), Tỳ-kheo giới
(250 giới), và Tỳ-kheo nhiều giới (348 giới) là những giới thuộc về
phái Tiểu-thừa.
Những giới
luật nào có tánh cách tích cực, nhắm vào mục đích lợi tha hơn tự lợi
t́ thuộc về Đại-thừa giới. Những giới thuộc về Đại-thừa giới như 10
giới trong 48 giới khinh của Bồ Tát, Tam-tụ tịnh giới (gồm có:
Nhiếp-luật-nghi giới là giới không làm việc ác, Nhiếp-Thiện-Pháp
giới là giới làm việc lành, Nhiêu-ích hữu-t́nh giới là giới làm ích
lợi cho chúng sanh, như làm các việc có tánh cách từ thiện xă hội
v.v..).
Nếu đứng
về phương diện hành tŕ mà phân loại, giới-luật có thể chia làm hai
phần lớn: một phần thuộc về chỉ tŕ, nghĩa là ngăn đứt ác nghiệp,
một phần thuộc về tác tŕ, tức hành động theo thiện-nghiệp.
1.-Về chỉ
tŕ: có hai bộ giới bổn:
a.-Tỳ-kheo
giới bổn, gồm có 250 giới, chia làm 8 loại là: 1.- Ba-la-di (4
giới), 2.-Tăng-tàng (13 giới), 3.-Bất-định (2 giới), 4.- Xă-đọa (30
giới), 5.- Đơn-đọa (90 giới), 6.- Đề-xà-nhiều (4 giới), 7.-
Chúng-học (100 giới), 8.- Diệt-tránh (7 giới). Hai trăm năm mươi
giới này có thể chia làm tám loại (ngũ thiên), sáu loại (lục tụ) hay
bảy loại (thất tụ).
b.-Tỳ-kheo-nhiều giới bổn, (giới của Tỳ-kheo-nhiều
giới gồm có 348 giới,
chia làm 7 loại là:
1.-Ba-la-di (8 giới), 2.- Tăng-tàn (17 giới), 3.-Xả-đọa (30 giới),
4.-Đơn-đọa (178 giới), 5.-Đề-xà-nhiều (8 giới ), 6.-Chúng-học (100
giới), 7.-Diệt-tránh (7 giới). Ba trăm mươi bốn tám giới này, có thể
chia là bảy loại như trên, nhưng củng có thể làm tùy nghi chia làm
năm loại, sáu loại ,bảy loại như bên tăng (1).
Giới
Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-nhiều trên này gọi là Cụ-túc giới, nghĩa là những
giới đem lại cho người thọ vô lượng giới-hạnh, phước đức. Nhưng 250
hay 348 giới, chưa phải là nhiều. Đó chỉ là giới tóm thâu những
giới-luật chính, làm giềng-mối cho sự tŕ phạm mà thôi. Nếu kể cho
hết giới-luật th́ về "lượng" sánh đồng hư-không, về "cảnh" lại nan
khắp cả pháp-giới. Nếu kể về bậc trung, th́ bên tăng có đến 3.000
oai nghi, 80.000 tế-hạnh; bên Ni có đến 80.000 oai-nghi và 120.000
tế-hạnh.
V́ sao
Phật lập ra nhiều giới-luật như thế?
- V́ mỗi
một giới là ngăn ngừa tội lỗi, mà con người chúng ta là phàm phu, từ
tâm niệm cho đến hành vi, có không biết bao nhiêu điều tội lỗi, nên
phải có vô số giới luật để ngăn ngừa.
2.- Về tác
tŕ, gồm có 20 kiền-độ.
Kiền độ
nghĩa là phẩm loại, điều luật (Khanda).
20 Kiền độ
là:
Thọ giới
Kiền độ
Thuyết
giới Kiền độ
An cư Kiền
độ
Tứ tự Kiền
độ...
Sự chia ra
chủ tŕ và tác tŕ là cốt lơi đễ phân biệt trong khi giữ giới, chứ
thật ra nói một cách rốt ráo th́ trong ''chỉ'' có ''tác'', trong
''tác'' có ''chỉ'', không thể nói một cách dứt khoát được.
(1) Chúng
tôi chỉ giới thiệu những danh từ của các giới luật tăng, ni chứ
không nói rơ hơn, v́ theo luật Phật, người thọ giới ở cấp bực nào
th́ chỉ biết giới luật của cấp ấy mà thôi.
IV.-Các
Danh Từ Và Phương Pháp Thực hành
Như chúng
ta đă thấy ở trên, giới-luật của Phật chế ra rất nhiều; do đó, danh
từ chuyên môn và cách thức giữ giới cũng rất phức tạp. Vậy muốn giữ
giới được kết quả, trước tiên phải biết những điều sau đây:
1.-Sao gọi
là ''danh, chủng, tánh, tướng''?.
a.-Danh là
tên (danh từ) nghĩa là tên chỉ mỗi giới, như giới bất sát sinh, giới
bất thâu đạo.v.v...
b.- Chủng
là chủng loại, hay nhóm; như chúng ta đă thấy ở phần chia các giới
của Tăng, Ni: Ba-la-di, Tăng tàng.v.v..
c.-Tánh là
tâm tánh, là tánh chất ở bên trong; như người giữ giới, trong tâm
niệm không nghĩ tưởng đến việc sát, đạo, dâm, vọng v.v.. hoặc thấy
người phạm giới cũng không sanh tâm vui mừng hay liên tưởng đến. Giữ
ǵn tâm tánh ở bên trong được thanh tịnh như vậy, gọi là ''giới
tánh''.
d.- Tướng
là h́nh tướng ở bên ngoài; như bên trong đă không nghĩ đến sát sanh,
trộm cướp (tánh giới) .v.v.. mà bên ngoài cũng không làm những điều
ác ấy, gọi là ''giới tướng''.
Tóm lại,
mỗi khi phạm một điều tội lỗi, người giữ giới phải biết tội ấy là ǵ
(danh), sát hay đạo .v.v..? thuộc về loại nào (chủng), Ba-la-di hay
Tăng tàng.v.v..? thuộc về nội tâm (tánh) hay ngoài thân (tướng)? Và
cuối cùng hành giả phải biết tôi ấy, theo luật phải trị phạt thế nào
mới được thanh tịnh?
2.- Sao
gọi là '' khai, giá, tŕ, phạm ''?
a.- Khai
là mở, cho làm.
b.- Giá là
cấm, không cho làm.
Như khi
Phật c̣n tái thế, Ngài cấm các vị Tỳ Kheo leo lên cây, đó là ''Giá"
. nhưng về sau có vị Tỳ Kheo đi vào rừng, bị ác thú rượt, Ngài không
dám leo lên cây để tránh, v́ sợ phạm giới, và cuối cùng bị ác thú
hại. Từ đó, Phật dạy: ''nếu có duyên sự th́ được leo cây'', như thế
gọi là ''Khai''.
Một thí dụ
thứ 2: người Phật tử phải giữ giới không uống rượu. Đó là ''Giá''.
Nhưng khi bị bịnh nặng, nếu cần rượu để ḥa với thuốc, uống mới lành
bệnh, th́ tạm được dùng. Đó là ''Khai''. Nhưng trước khi uống, phải
bạch với chư tăng.
c.- Tŕ là
giữ ǵn; như khi đă thọ giới rồi mà giữ ǵn cho được thanh tịnh th́
gọi là ''Tŕ''.
d.- Phạm
là vi phạm; như đă thọ giới rồi mà không giữ ǵn giới th́ gọi là
''Phạm''.
Tóm lại,
trong khi tu hành giữ giới-luật, hành giả luôn luôn quan sát mỗi
hành vi hàng ngày của ḿnh xét xem một cách sáng suốt, thế nào là
''Tŕ'', thế nào là ''Phạm''; trong trường hợp nào, và giới nào được
''Khai''; Trong trường hợp nào, và giới nào không được
''Khai''.v.v.. nói một cách tổng quát khi đă thọ giới rồi th́ phải
''Tŕ''. Nếu không ''Tŕ'' là ''Phạm''. Tuy thế nếu v́ ḷng từ bi,
v́ lợi ích chung, hay v́ trí huệ thúc đẩy, th́ có thể ''Khai'' mà
không phạm tội. Nhưng nếu v́ tâm nhiểm ô, v́ phiền nảo thúc đẩy mà
''Khai'' là ''Phạm''.
3.-Sao gọi
là ''chỉ tŕ, tác phạm và tác tŕ chỉ phạm''?
a.- Chỉ
tŕ là nói về phương diện các điều ác, quyết giũ ǵn không gây tội
lỗi.
b.- Tác
phạm là nói về phương diện các điều ác, đáng lẽ phải giữ ǵn, mà lại
không giữ được, cho nên phải phạm tội lỗi.
c.- Tác
tŕ là nói về phương diện các điều thiện, cần phải làm, là
không phạm
giới.
d.- Chỉ
phạm là nói về phương diện các điều thiện, nếu đ́nh chỉ không làm,
là phạm giới.
Thí dụ: về
tội ăn trộm, nếu không làm là chỉ tŕ, nếu làm tác phạm. Trái lại,
về hạnh bố thí, nếu làm là tác tŕ, nếu không làm là chỉ phạm.
4.- Sao
gọi là '' tánh tội và giá tội, hay tánh giới và giá giới''?.
a). Tánh
tội là tội sẳn có trong bản tánh chúng sanh, như sát, đạo, dâm,
vọng. Bốn tánh này có sẳn trong tâm tánh chúnh sanh từ vô thỉ đến
nay, hể có chúng sanh lá có chúng nó. Mỗi người, không cần ai dạy
bảo, không cần học tập, mà ai cũng đều biết sát, đạo, dâm, vọng. V́
thế cho nên gọi là tánh tội.
b). Giá
tội là tội không sẵn có trong bản tấn nhưng do hoàn cảnh, do tập
nhiễm mà phát sinh; như tội uống rượu chẳng hạn. Nói một cách tổng
quát, ngoài bốn tánh tội là sát, đạo, dâm, vọng, c̣n bao nhiêu tội
khác là giá tội cả.
c). Tánh
giới là để ngăn ngừa bốn tánh tội là sát, đạo, dâm, vọng. Giới này
rất quan trọng, nhưng củng rất khó giữ. Giữ được bốn giới này th́ sư
tu hành tất sẽ kết quả và con đường giải thoát chắc chắn sẽ chờ đón
hành giả.
d). Giá
giới là giới để ngăn ngừa tội lỗi do hoàn cảnh là huân tập mà phát
sinh. Những giới này ít quan trọng hơn tánh giới nói trên. Nhưng
muốn giữ được tánh giới một cách ít khó khăn, phải cần giữ giá giới.
Như người muốn đốn cây lớn, trước tiên phải chặt ngành ngọn; như
người dùng binh giỏi, trước khi muốn chiếm một đô thị lớn, phải ngăn
chặn các con đường đi vào đo thị ấy.
V.-Kết
Luận
Như chúng
ta đă rỏ, mục đích của giáo pháp mà Đức Phật chỉ bày cho chúng ta
là để được minh tâm, kiến tánh, và thành Phật. Tất cả các tôn phái,
mặc dù có chủ trương và đặc điểm khác nhau, nhưng mục dích cuối cùng
đều là một: Giác-ngộ và thành Phật.
Luật tôn
củng không đi ra ngoài mục đích trên, mặc dù phương pháp có khác
phần nhiều các tôn khác th́ phải hiểu rồi mới tu; Luật tôn trái lại
chủ trương; hăy tu đi rồi sẽ hiểu, hảy giữ ǵn giới luật phải nghiêm
chỉnh, th́ tâm sẽ định tĩnh, thanh tịnh; tâm đă thanh tịnh th́ trí
huệ sẽ sáng suốt, chân tâm sẽ hiện bày, Phật tánh sẽ phát lộ.
Thật là
một chủ trương rất thiết thực, mà kết quả lại chắc-chắn !
Những kẻ
học rộng biết nhiều mà không giữ giới củng chẳng khác ǵ
đèn trước gió,
có thể sáng lắm, nhưng không biết sẽ tắt khi nào. Trái lại kẽ học ít
biết hẹp mà giữ giới một cách chân thật, th́ củng như ngọn đèn có
ống khói, khi mới thắp th́ lu, nhưng không tắt th́ càng cháy lâu
cáng sáng tỏ.
V́ những
lí lẽ tŕnh bày ở trên, Luật tôn đều phải thích hợp với mọi căn cơ,
nhất là với những căn cơ chậm lụt.
Ở đời chúng ta thường thấy phần
nhiều những người có căn trí lanh lẹ, hiểu nhanh biết lẹ, nhưng v́
hay ỷ sức ḿnh , không chịu đặt ḿnh vào khuôn phép kỷ luật, nên
cuối cùng, chẳng thu hoạch được kết quả ǵ tốt đẹp cả. Trái lại,
những kẻ có căn trí tầm thường, nhiều khi chậm lụt nữa , nhưng lại
dễ thành công trên đường đời củng như trên đường đạo, v́ họ biết thủ
phận chịu khó khép ḿnh vào kỷ luật, không tự măn, tự cao. Những đệ
tử của Phật, có ai có một địa vị xă hội hạ tiện (đi gánh phân) và
một căn trí thấp thỏi như Ngài Ưu-Ba-Li !Thế mà Ngài Ưu-Ba-Li lại
trở thành một đệ tử của Phật, đă thành một bậc hiền thánh, chỉ v́ đă
nghiêm tŕ giới luật! Chúng ta đây, địa vị xă hội và căn trí chắc
chắn không kém Ưu-Ba-Li, lẻ nào chúng ta không thu hoạch được thành
quả tốt đẹp như Ngài , nếu chúng ta củng tập nghiêm tŕ giới-luật
như Ngài .
2.-Tịnh
Độ Tông
Tôn này
thuộc về Đại- thừa, chủ trương dạy người chuyên tâm niệm Phật để
được cảnh văng sanh về Tịnh độ của Phật A-DI-Đà. Do đó, tôn này mới
có tên là Tịnh độ tôn.
Đây là một
trong nhiều pháp môn của Phật, mà đặc điểm là dể tu, dể chứng, rất
thích hợp với đại đa số quần chúng. Với pháp môn này, bất luận hạng
người nào, trong thời gian nào, hoàn cảnh nào, củng có thể tu hành
được cả. Nếu so sánh với con đường đi, th́ tôn này là môt đại lộ
bằng phẵng ,rộng răi, mát mẽ, hành giả dễ đi mà mau đến, không sợ
gặp nguy hiểm chướng ngại giữa đường.
Bởi những
lẻ ấy, nên từ xưa đến nay, đă có không biết bao nhiêu người chọn lựa
pháp môn này để tu hành. Riêng ở Việt nam chúng ta, ngày xưa củng
như hiện nay, có biết bao nhiêu người là môn đồ của tôn này. Đó là
lư do thúc đẩy chúng tôi gấp rút biên soạn bài này để giới thiệu "con đường tu thứ hai" trong mười tôn phái của Phật Giáo.
I.- Duyên
Khởi Lập Tông
Tịnh độ
căn cứ vào những kinh điền ǵ để thành lập? Kinh điển mà Tịnh độ tôn
đă y-cứ th́ rất nhiều. Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu lên một ít bộ
kinh căn bản, thường được nói đến thôi. Đó là các bộ:
1.-Kinh vô
lượng thọ: Kinh này được chép lại 48 lời thề nguyên của đức A-Di-Đà
, khi c̣n là một vị Tỳ kheo tên là Pháp Tạng. Nội dung của 48 lời
thệ nguyện ấy là: sau khi thành Phật, ngài sẽ lập ra một quốc độ hết
sức trang nghiêm thanh tịnh, để tiếp dẫn chúng sanh trong mười
phương Thế giới về đó, nếu những chúng sanh ấy thường niệm đến danh
hiệu Ngài và thường cầu được văn sanh về cơi tịnh độ của Ngài.
2.- Kinh
Quán Vô lượng thọ: Kinh này chép rơ 16 Pháp quán và 9 Phẩm, để dạy
người cầu được văng sanh về cơi Tịnh độ.
3.- Kinh
tiểu bổn A-Di-Dà: Kinh này lược tả cơi tiên giới Cực Lạc, trang
nghiêm (Tịnh độ) khiến người sanh ḷng ham mộ, phát nguyện tu theo
pháp môn ''tŕ danh niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn'' để được
văng sanh về cơi ấy.
Ba kinh
trên này là ba bộ kinh chính; cổ nhân thường gọi là ''ba kinh Tịnh
độ''. Ngoài ra c̣n có các kinh khác như:
Kinh Bửu Tích chép việc đức Phật v́ vua Tịnh phạn và bảy vạn người trong thân
tộc, nói pháp môn ''tŕ danh niệm Phật'' để cầu sanh về Thế giới Cực
lạc.
Kinh đại
bổn A-Di-Dà, Kinh Thập Lục Quán, kinh Ban châu niệm Phật, kinh
Bi-Hoa, kinh Phương Đẳng, kinh Hoa nghiêm.v.v..
Giáo điển
về Tịnh độ truyền qua Trung Hoa rất sớm, nhưng đến đời Đông-Tấn nhờ
Ngài Huệ-Viễn đại sư ra công hoằng hóa, nên tôn này mới bắt đầu
thịnh hành. Ngài là vị tổ đầu tiên ở Trung Hoa. Sau đó, các vị đạo
sư danh tiếng như Ngài Đàm Loan, ngài Đạo Xước, ngài Thiện-Đạo.v.v..
đều dùng pháp môn này mà tu chứng và hóa độ rất nhiều người và măi
lưu truyền cho đến ngày nay.
II. Bốn
Cơi Tịnh Độ.
Tịnh độ
không phải chỉ có một cơi, mà rất nhiều cơi. Đứng về phương diện
phân tích, từ tế đến thô, có thể chia làm 4 cơi Tịnh độ sau đây:
1.- Thường
tịch quang Tịnh độ: đây là cảnh giới mà Pháp thân Phật an trụ.
''Thường'' là không thay đổi, không sanh diệt, tức là Pháp thân
Phật; ''Tịch'' là xa ĺa các phiền năo vọng nhiễm, tức là đức Giải
thoát của Phật; ''Quang'' là chiếu sáng khắp cả mười phương, tức là
đức Bát-nhă của Phật. Như thế là cơi Tịnh độ này đủ cả ba đức quư
báu của Phật là Thường, Tịch và Quang, cho nên gọi là ''Thường tịch
quang Tịnh độ''.
Cảnh Tịnh
độ này không có h́nh sắc mà chỉ là chơn tâm. V́ bản thể chơn tâm,
hay tánh viên giác ''thường vắng lặng, chiếu soi và thanh tịnh'',
nên gọi là ''Thường tịch quang Tịnh độ''. Chư Phật khi đă chứng được
cảnh giới này rồi th́ thanh và độ không hai, song v́ căn cứ theo ba
loại Tịnh độ sau đây mà gọi là có Thân, có Độ. Chứng đến chỗ này,
nếu đứng về Thân th́ gọi là ''Pháp Thân'', c̣n về độ, th́ gọi là
''Thường tịch quang Tịnh độ''.
Kinh Tinh
danh, về lời sớ có chép: Tu nhơn hạnh về viên giáo, khi nhơn viên
quả măn, thành bực Diệu giác (Phật) sẽ ở cơi ''Thường tịch quang
Tịnh độ''.
2.-
Thật-báo trang nghiêm Tịnh độ: hành giả trải qua ba số kiếp tích
công lũy đức do phước báu tu hành nhiều đời dồn chứa lại, làm trang
nghiêm cảnh giới chơn-thật nên gọi là ''Thật-báo trang nghiêm Tịnh
độ''. Cảnh giới Tịnh độ này là chỗ ở của Báo thân Phật. Kinh
Quán-Vô-Lượng Thọ về lời sớ có chép: ''Tu-tập chơn-thật'', cảm đặng
quả báo tốt đẹp, cho nên gọi là ''Thật báo trang nghiêm''. Bên
Đại-thừa Viên giáo th́ cơi này là của các bậc Tam hiền (Trụ, Hạnh,
Hướng); c̣n bên ngoài Đại-thừa Biệt-giáo, th́ đây là cơi các bậc từ
Thập địa cho đến Đẳng giác Bồ Tát.
3.-Phương
tiện hữu dư Tịnh độ: Cảnh Tịnh độ này không phải là cứu cánh rốt
ráo, mà chỉ là phương tiện. Đây là cơi Tịnh độ của hàng Nhị thừa.
Các vị này tuy đă dứt được kiến-hoặc và tư-hoặc trong ba cơi
(Dục-giới, Sắc giới và Vô-sắc-giới), nhưng c̣n dư lại hai hoặc là:
vô-minh hoặc và trần-sa hoặc chưa trừ được, nên gọi là ''hữu-dư ''.
Đă là ''hữu-dư '' tức là chưa phải hoàn toàn cứu-cánh, nên gọi là
cơi Tịnh độ này là '' Phương-tiện hữu-dư Tịnh độ ''.
4.- Phàm
thánh đồng cư Tịnh độ: Đây tức là cơi Tịnh độ của Đưc Phật A-Di-Đà ở
Tây-phương. Đă gọi là Tịnh độ, hay Cực-lạc, tuy nhiên có đủ các đức
thanh tịnh trang-nghiêm, không có bốn ác thú. Nhưng đây v́ Phật, Bồ
Tát và các vị thượng thiện nhơn (thánh) cùng sống chung với chúng
sanh mới văng-sanh, chưa chứng được quả thánh (phàm) nên gọi là
''Phàm thánh đồng cư Tịnh độ ''.
V́ phần
đông tín-đồ Phật Giáo Việt-Nam và Trung Hoa trong khi tu về pháp môn
Tịnh độ, đều nguyện sanh về cơi Tịnh độ này, tức là cơi Cực-lạc của
Phật A-Di-Đà, nên ở đây, chúng tôi xin căn cứ theo kinh ''Tiểu bổn
A-Di-Đà'' thuật lại lời Đức-Phật Thích Ca đă tả về cảnh giới của cơi
Tịnh độ này: ''...Từ cơi Ta-bà này, cứ về hướng Tây, cách đây hơn
mười muôn cơi Phật, có thế giới tên là Cực-lạc. Vị Giáo-chủ ở
Thế-giới ấy là Phật A-di-đà, thường hay nói pháp. Cơi ấy có 7 lớp
câu-lơn (tường-hoa) bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây xinh đẹp, có hồ
thất bảo đầy nước tám công đức. Đáy hồ toàn là cát vàng. Bốn phía bờ
hồ đều cẩn vàng ngọc, châu báu. Trong hồ có hoa sen bốn màu lớn bằng
bánh xe, hương thơm ngào ngạt, màu nào cũng có hào quang chiếu sáng.
Quanh hồ, vươn lên những ṭa lâu đài nguy nga, xinh đẹp làm toàn
bằng thất bảo.
Trên không
trung ḥa lẫn những bản nhạc thiêng, có những tiếng chim báu, do
Phật hóa hiện ra, để thuyết pháp luôn trong sáu thời cho dân chúng
nghe. Người nghe rồi liền phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Không những chỉ có tiếng chim, mà cho đến tiếng nước chảy, gió thổi,
cây reo, cũng đều phát ra tiếng pháp nhiệm mầu.
Cảnh giới
Cực-lạc tốt đẹp, trang nghiêm như thế là do công đức của Phật
A-Di-Dà (1) là vị giáo chủ của cơi ấy và các vị Bồ tát, Thánh chúng
chung nhau tạo thành.
(1) Chữ
A-Di-Đà, người Trung Hoa dịch là "vô lượng thọ" hay "vô lượng
quang", nghĩa là Đức Phật này sống lâu không lường và hào quang chói
sáng cũng không lường
III.- Ba
Yếu Tố Để Cầu Sanh Tịnh Độ
Muốn được
văng-sanh, về cơi Tịnh độ nói trên, hành giă phải chuẩn bị ba yếu tố
sau đây là: Tín, Nguyện và Hành. Ba yếu tố này thường được gọi là ba
món tư-luơng (Lương phạn đi đường). Nếu thiếu một món ăn nào,
hành-giả củng không thể tu hành có kết quả được.
1.-Thế nào
là ''Tín''? -Tín là đức tin vững chắc, không ǵ lay chuyển được. Đức
tin rất quan trọng và cần thiết cho người tu hành. Kinh Hoa-Nghiêm
có dạy: '' Tin là mẹ sanh ra các công đức ''. Nhờ đức tin mà quả
Bồ-đề có thể thành tựu được.
Tin có ba
phần:
a). Tin
Phật: Tin rằng Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, biết các việc sáng
suốt, biết các việc quá khứ, hiện tại và vị lai, thấy hết thảy hằng
sa thế giới, hiểu biết các pháp một cách rơ ràng. Tin rằng do
ḷng từ-bi muốn cứu khổ sanh-tử luân hồi cho chúng sanh, mà Phật
Thích Ca nói pháp môn niệm Phật, để chúng sanh thực hành theo người
mà được văng-sanh về Tịnh độ. Tin rằng lời dạy của
Đức-Phật Thích- ca không hư dối. Đức-Phật A-Di-Đà và cảnh Tịnh độ
đều có thật.
b). Tin
Pháp: Tin rằng pháp-môn niệm Phật là pháp-môn dễ tu, dễ chứng, có
bảo đảm chắc chắn. Tin rằng 48 lời thệ nguyền của Phật A-Di-Đà có
đầy đủ hiệu lực để cứu độ chúng sanh, và nếu ta thực hành đúng theo
pháp môn này, chắc chắn sẽ được văng-sanh về cơi Tịnh độ của Phật
A-Di-Đà.
c). Tin
ḿnh: Tin rằng ḿnh có đầy đủ khả năng và nghị lực để tu theo
pháp-môn này. Tin rằng nếu ḿnh thực-hành đúng như lời Phật Thích-Ca
đă chỉ dạy trong kinh A-Di-Đà, chuyên tŕ danh hiệu Phật A-Di-Đà cho
đến ''nhất tâm bất loạn'' th́ khi lâm-chung chắc chắn thế nào ḿnh
cũng sẽ được sanh về cơi Tịnh độ.
2.-Thế nào
là ''nguyện''? Nguyện là lời hứa-hẹn, sự ước ao, là chí nguyện, mong
muốn thực hiện những điều chân chính. Nguyện là sức hút của đá nam
châm, là cánh buồm căng gió của chiếc thuyền,
là cái chong chóng của
máy bay. Nguyện là động cơ thúc đẩy cho con người tu hành mau đến
mục đích.
Nguyện
quan trọng như thế, nên hành-giả phải lập nguyện cho vững bền, luôn
luôn kiên tâm, tŕ chí tu theo pháp-môn niệm Phật này, ngày đêm
chuyên niệm Phật không ngớt, thiết tha mong cầu được sanh về cơi
Tịnh độ của Phật A-Di-Đà.
Để có một
ư-niệm về chữ ''nguyện '', chúng tôi xin trích ra sau đây ba lời
nguyện, trong 48 lời nguyện của Phật A-Di-Đà, khi c̣n làm Pháp-tạng
Tỳ-Kheo:
-''Sau
khi ta thành Phật, chúng sanh ở mười phương một ḷng tin ưa, muốn về
cơi ta, từ một niệm cho đến mười niệm, nếu chúng sanh ấy không đặng
văng-sanh, th́ ta thề không thành bậc Chánh-Giác, chỉ trừ những
người phạm tội ngũ nghịch và chê bai Chánh-pháp ''.
-'' Nếu ta
đặng thành Phật, chúng sanh ở mười phương pháp-giới phát tâm Bồ-Đề,
tu các công đức, một ḷng phát-nguyện, muốn sanh về cơi nước ta, giá
như ta không cùng với đại chúng vây quanh hiện ra ở trước mắt chúng
sanh ấy, thời ta thề không thành bậc Chánh-giác".
''Nếu ta
đặng thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu ta, chuyên
niệm cơi nước ta, mà nếu không được thỏa nguyện, th́ ta thề không
thành bậc Chánh-Giác ''.
3.-Thế nào
là ''Hành''?- Hành là thực-hành, làm theo. Nếu tin (tín) mà không
ước ao, mong muốn (nguyện) th́ chỉ là tin suông, vô bổ. Nhưng nếu
ước ao, mong muốn (nguyện) mà không làm (hành) th́ chỉ ước ao, mong
muốn ảo-huyền, không đi đến kết quả ǵ. Bởi thế, Tín, Nguyện,Hành ba
yếu tố căn bản này bao giờ cũng phải có đủ, mới đủ điều kiện
văng-sanh Tịnh độ. Cũng như cái đảnh, phải có đủ ba chân mới đúng
vững được, thiếu một chân, tất phải ngă.
IV.-Phương
Pháp Tu Về Tịnh Độ
Sau khi đă
chuẩn bị đủ ba yếu tố hay ba món tư lương Tịnh độ nói trên, chúng ta
phải hạ thủ công phu ngay. Nhưng muốn cho có hiệu quả, chúng ta cần
hiểu rỏ phương pháp tu hành. Vẫn biết rằng pháp-môn niệm Phật là
một pháp-môn rất giản dị, chỉ cần niệm Phật là đủ. Nhưng niệm Phật
củng có nhiều cách, nhiều loại, mà chúng tôi xin dẫn một ́t phương
pháp sau đây:
1.-Tŕ-danh niệm Phật: -Trong lối niệm Phật này, hành-giả chỉ chuyên
tâm tŕ-niệm danh hiệu của Phật A-Di-Đà. Mỗi ngày từ khi mới thức
dậy cho đến lúc đi ngũ, hành-giả phải chớ niệm luôn, không cho xen
hở. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi ăn, trước khi ngũ,
hành-giả đừng bao giờ quên niệm Phật. Ngoài ra muốn có hiệu quả hơn,
hành-giả cần phải xem phương pháp ''Kinh hành niệm Phật'' (xem
nghi thức kinh hành niệm Phật). Mỗi khi niệm xong, hành-giả đều hồi
hương cầu sanh Tịnh độ.
2.-
Tham-cứu niệm Phật: -Trong lối tu này, hành-giả phải tham khảo
cứu-xét suy nghiệm câu niệm Phật. Như khi niệm ''Nam-mô A-Di-Đà Đà
Phật'', hành-giả phải quán-sát câu niệm Phật này, từ đâu mà đến,
đến rồi sẽ đi về đâu? Niệm đây là niệm ai v.v..? Nhờ sự chuyên
tâm chú ư tham khảo một câu niệm Phật như thế, nên sóng vọng-tưởng
dần dần ch́m lặng, tâm hiện bày, hành-giả được ''nhất tâm
bất loạn'', đến khi lâm chung, sẽ được sanh về cảnh-giới của Phật.
Pháp niệm Phật này giống như pháp tham cứu câu ''thoại đầu'' bên
Thiền-tôn, nên gọi là ''tham-cứu niệm Phật ''.
3.-
Quán-tương niệm Phật: Trong lối tu này, hành-giả chăm chú quan sát
h́nh tượng của Phật.
Hành-giả
ngồi trước tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng, quan sát các tướng tốt
mà liên tưởng các đức-tánh của Phật. Như khi chiêm ngưỡng đôi mắt
Phật, th́ liên tưởng tới trí huệ của Phật; khi chiêm ngưỡng nụ cười
hiền ḥa của Phật, th́ liên tưởng đến đức tánh từ bi, hỷ-xă của
Phật. Nhờ quán trí huệ của Phật mà tánh Si của hành-giả phai dần;
nhờ quán từ-bi của Phật mà tánh Sân của hành-giả bớt dần ...Hễ quán
thêm một đức-tánh tốt của Phật, th́ một tánh xấu của hành-giả được
bớt đi. Tánh của Đức-Phật như tia sáng mặt trời, tánh xấu của
hành-giả như vết mực; tia sáng mặt trời càng sáng
nhiều và càng
chiếu rọi lâu ngày, th́ vết mực càng phai nhanh. Tóm lại, nhờ sự chú
tâm quán các tướng tốt trên h́nh tượng của Phật, mà các đức tánh như
từ-bi, hỷ-xả, b́nh-dẳng, lợi tha được huân-tập, thấm nhuần vào tâm
hành giả; lâu ngày, tâm hành-giả sẽ thanh-tịch, lọc sạch những niệm
ác độc và sẽ giống tâm Phật, được văng-sanh về cơi Phật.
4.-Quán-tưởng niệm Phật:- Trong lối tu này, hành-giả ngồi yên một
chỗ, mặc dù không có h́nh tượng Phật trước mặt, mà hành-giả quán
tưởng như có Đức-Phật A-Di-Đà, cao lớn đứng trên hoa sen, phóng tỏa
hào quang như tấm lụa vàng, bao phủ cả thân h́nh ḿnh. Hành-giả ngồi
ngay thẳng, hai tay chắp lại, cũng tưởng ḿnh ngồi trên ṭa-sen,
được Phật tiếp dẫn. Hành-giả chuyên chú quán tưởng măi măi như thế;
đi, đứng, nằm, ngồi cũng không dừng nghĩ, cho đến khi nào, mở mắt
hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật, tức là pháp quán đă thuần-thục. Khi
lâm chung, hành-giả chắc chắn sẽ được văng-sanh về Tịnh độ.
Trong kinh
Quán Phật tam-muội chép rằng: "Phật v́ Phụ-vương, nói pháp
quán-tưởng bạch hào ...''. Quán-tưởng bạch-hào nghĩa là quán-tưởng
lông trắng có hào quang sáng chiếu, giữa hai chân mày của Phật, như
trăng thu tṛn đầy, trong suốt như ngọc lưu ly. Đây là một phương
pháp quán tưởng niệm Phật.
5.-Thật
tướng niệm Phật:- Thật tướng niệm Phật là niệm Phật đă đạt đến bản
thể chơn tâm. Chơn tâm không sanh diệt, không khứ lai, không hư
không giả, cho nên gọi là"thật tướng".
Trong năm
pháp niệm Phật trên này, th́ bốn pháp trước đều thuộc về sự, có niệm
có tu; c̣n pháp thứ năm (thật tướng niệm Phật) là thuộc về lư:
không c̣n niệm, không c̣n tu, không c̣n năng sở, cao siêu hơn cả. Niệm
Phật đến chỗ này mới hoàn toàn rốt ráo.
Nhưng,
hành giả phải luôn luôn nhớ rằng: nhờ có Sự , Lư mới hiển. Trước hết
phải tu bốn pháp niệm trên, cho đến khi thuần thục, không c̣n thấy
có ḿnh là người niệm, Phật là vị bị niệm, chỉ có một tâm yên lặng
chiếu soi, không năng sở, bi thử, không hữu, không vô. Đến chỗ này,
kinh Di-Đà gọi là "được nhất tâm bất loạn". Kinh Tứ thập nhi chương
chép; "niệm đến chỗ vô niệm, mới là chơn niệm".
Trong năm
pháp niệm Phật trên đây, từ xưa đến nay, người tu Tịnh độ, thường
lựa pháp môn danh tŕ, là một pháp môn dễ hạ thủ công phu, hành giả
ở tŕnh độ nào, chỗ nơi nào hay lúc nào, củng đều có thể tu được.
Thật là một pháp môn rất thù thắng.
V.-Lợi Ích
Của Pháp Niệm Phật
Lợi ích
của pháp niệm Phật thật vô lượng vô biên, tựu trung có thể chia làm
hai phần: lợi ích về Sự và lợi ích về Lư.
1.-Lợi ích
về Sự:
a) Niệm
Phật sẽ trừ được các phiền năo.
Những
người gặp các cảnh khổ, như tử biệt sanh ly, nhà tan cửa mất, tai
nạn bất thường v.v ..sanh các phiền năo, nếu biết chí tâm niệm Phật,
th́ các phiền năo khỗ đau dần dần tiêu tan. V́ sao lại có kết quả
tốt đẹp như thế? V́ tâm ta cũng như ḍng nước luôn luôn tuôn chảy.
Nếu chúng ta pha vào những chất cáu bẩn, th́ nước trở thành đục bẩn;
nếu chúng ta pha vào những chất thơm tho, th́ nước sẽ trở thành thơm
mát. Nếu tâm ta chỉ nhớ nghĩ đến những tai nạn khổ đau, th́ luôn
luôn sẽ bị phiền năo khuấy đục. Khi ta niệm Phật th́ sẽ cố nhiên nhớ
Phật, quên đau khổ. Đem sự nhớ Phật này thế cho cái nhớ sự đau khổ;
một giờ niệm Phật th́ sẽ đổi được một giờ sầu khổ, một ngày niệm
Phật th́ đổi được một ngày khổ đau. Cứ như thế, nếu niệm Phật được
tăng chừng nào, th́ sự buồn phiền đau khổ sẽ
giảm đi chừng âư. Cho
nên cổ nhân có câu "Một câu niệm Phật giải oan khiên".
Trong thời
kỳ chiến tranh Việt-Pháp vừa qua, chúng tôi đă đem phương pháp niệm
Phật này chi cho một số người sầu khổ gần như điên cuồng, v́ sự
nghiệp bị tiêu tan, con cháu mất lạc, họ thu lượm kết quả rất là tốt
đẹp.
b) Niệm
Phật sẽ trừ được niệm chung sanh.
-Chúng
sanh hằng ngày nhớ nghĩ đến những điều tội lỗi như tham, sân, si v.v
..miệng thốt ra những điều tội ác, thân làm những việc xấu xa. Đó là
những ác nghiệp của chúng sanh. Nay nếu chúng ta niệm Phật, th́
chúng ta không c̣n th́ giờ để nhớ nghĩ việc tội lỗi nữa và thực hành
những ác nghiệp trên nữa. Như thế là niệm Phật sẽ trừ được niệm chúng
sanh. Niệm Phật càng nhiều th́ niệm chúng sanh càng ít. Niệm Phật
hoàn toàn th́ niệm chúng sanh dứt sạch.
c) Niệm
Phật sẽ làm cho thân thể được nhẹ nhàng an ổn.
-Bệnh tật của chúng
ta, một phần do thể xác, nhưng một phần củng do ảnh hưởng của tinh
thần. Nhiều người mất ăn bỏ ngủ v́ uất hận, nhục nhă v.v.. Do đó,
uất khí tích tụ lâu ngày trong người, mà sinh bệnh mất ăn bỏ ngủ.
Gặp những trường hợp như vậy, nếu chúng ta niệm Phật cho ra tiếng,
th́ những nỗi uất hận đè nặng lên tâm can chúng ta, sẽ như được trút
ra cùng hơi thở, cùng tiếng niệm, và thân tâm ta được nhẹ nhàng dễ
chịu. Những người yếu tim, nếu biết niệm Phật sẽ mau b́nh phục. V́
bệnh yếu tim thường làm cho người bệnh hồi hộp, lo sợ; nay nhờ niệm
Phật nên tâm định, tâm định th́ những sự hồi hộp lo nghĩ giảm đi. Do
đó mà ăn được,ngủ yên và bệnh mau b́nh phục.
d.-Niệm
Phật tâm trí sẽ sáng suốt, học hành mau nhớ.
-Những người tâm trí
loạn động th́ tối tăm, như ngọn đèn bị gió, không sáng được nhờ niệm
Phật, tâm trí sẽ định tĩnh, như ngọn đèn có ống khói, không lay
động. Do đó tâm trí sẽ phát chiếu, như ngọn đèn tỏa ánh sáng vậy.
đ) Niệm
Phật, khi lâm chúngẽ được sanh về Tịnh độ.
-Như chúng ta đă thấy ở
trên, niệm Phật đem lại cho chúng ta nhiều ích lợi thiết thực trong
đời sống hiện tại, về phương diện thể chất lẫn tinh thần, về tính
t́nh lẫn trí huệ. Nhưng cái lợi ích lớn nhất là ở đời sau. Nếu chúng
ta thực hành pháp niệm Phật này, đúng như lời Phật dạy, cho đến "nhất tâm bất loạn" th́ sau khi lâm chung, sẽ sanh về Tịnh độ,được
luôn luôn thấy Phật nghe pháp, làm bạn với thánh hiền, và có đủ
nhiều thiện duyên để tiếp tục tu hành cho đến quả Phật.
2.-Lợi ích
về Lư:
Khi hành
giả niệm Phật được "nhất tâm bất loạn", th́ các vọng tưởng hết, chơn
tâm thanh tịnh hiện ra. Chơn tâm không sanh diệt hư hoại là
"Thường", chơn tâm thanh tịnh vắng lặng là "Tịch", chơn tâm sáng suốt
vô cùng là " Quang". Cảnh "Thường-Tịch-Quang Tịnh-độ" chỉ ở nơi chơn
tâm ta, chứ không nơi đâu khác.
Lại nữa,
chơn tâm không hoại diệt là "Phật Vô-lượng-thọ"; chơn tâm chiếu soi
vô tận là "Phật Vô-lượng-quang" và đó củng tức là "Thanh -tịnh diệu
pháp thân của Phật A-Di-Đà".
Tóm lại,
người niệm Phật đến khi hết vọng, ngộ nhập được chơn tâm rồi, th́
Phật A-Di-Đà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ ở nơi tâm ḿnh hiện ra, chứ
không phải đâu xa. V́ thế nên kinh chép: "Tự tánh Di-Đà, duy tâm Tịnh
độ" là vậy.
Xuyên qua
các đoạn trên, chúng ta thấy pháp niệm Phật được sự lợi ích vô cùng.
Nếu những người không tin có Phật A-Di-Đà, có cảnh Tịnh độ mà chí
tâm niệm Phật, th́ cũng được nhiều lợi ích như trên.
VI.-
Sự
Quy Ngưỡng Và Cầu Sanh Tịnh Độ Của Các Vị Bồ Tát Và Tổ Sư
Chúng ta
đừng tưởng rằng Pháp môn Tịnh độ là một Pháp môn tầm thường, giản dị
chỉ dành riêng cho những người căn trí thấp-thỏi, hẹp ḥi tu hành.
Thật ra, mặc dù Pháp môn này không đ̣i hỏi hành-giả có một sức hiểu
biết thâm sâu, một trí óc thông minh xuất chúng, nhưng v́ nó dễ tu
dễ chứng, hiệu quả chắc chắn nên từ xưa đến nay, rất nhiều vị Bồ tát
và Tố sư đă được thực hành pháp-môn này để cầu sanh về Tịnh độ. Ngài
Văn Thù là vị Bồ tát có một trí tuệ tối-thắng, không ai sánh kịp,
thế mà Ngài cũng phát nguyện sanh về nước Cực-lạc của Phật A-Di-Đà
như sau:
Nguyện ngă
lâm dục mạng chung thời
Tận trừ
nhất thế chư chướng- ngại
Diện kiến
bị Phật A-Di-Đà
Tức đắc
văng-sanh An-lạc sát.
(Tôi
nguyện đến khi lâm- chung, diệt trừ hết cả chướng ngại, trước mặt
thấy được Phật A-Di-Đà, liền được văng -sanh về cơi Cực-lạc).
Các vị Bồ
tát như Ngài Phổ Hiền, Quán-Âm, Đại-Thế-Chí cũng đều nguyện sanh về
cơi Tịnh độ.
Các vị Tổ
ở các tôn khác, mặc dù hoằng truyền tôn ḿnh, nhưng cũng vẫn tu về
Tịnh độ. Như Ngài Thiên-Thân, tổ của Duy-Thức tôn; Ngài Trí-Giả
đại-sư, tổ của Thiên-Thai tôn; Ngài Hiền-Thủ, tổ của Hoa-nghiêm
tôn; Ngài Nguyên-Chiếu luật sư, tổ của Luật tôn; Ngài Mă-Minh, Long-Thọ, tổ của Thiền-tônv.v.. .cũng đều thực hành pháp môn Tịnh độ.
Sau nữa,
các vị Đại sư danh tiếng ở Trung Hoa, như Ngài Đàm Loan, Ngài Đạo
Xước, Ngài Thiện Đạo, Ngài Thừa Viễn, Ngài Pháp-Chiếu, Ngài
Thiếu-Khương, Ngài Tĩnh-Am v.v..đều dùng pháp-môn này để tự độ và độ
tha, và măi măi lưu truyền cho đến ngày nay.
VII.- Kết
Luận.
Chúng ta
đă biết qua tôn-chỉ, đặc điểm phương pháp tu hành và giá trị của
Tịnh-độ tôn. Đến đây chúng ta cần phải lắng tâm suy xét kỹ lưỡng,
xem phương pháp tu về Tịnh độ tôn này, có thiết thực lợi ích và có
thích hợp với chúng ta không. Trong phút giây quan trọng này, chúng
ta hăy hết sức thành thực: nếu chúng ta nhận thấy phương pháp tu này
rơ ràng không thích hợp với chúng ta, th́ chúng ta có quyền chờ đợi
lựa chọn một phương pháp khác. Nhưng chúng ta nhận thấy nó có một
giá trị thiết thực, lợi ích chắc chắn cho đời chúng ta trong hiện
tại và mai sau, th́ chúng ta đừng chần chừ ǵ nữa, hăy hạ thủ công-phu ngay. Thời gian vùn vụt trôi qua, chẳng chờ ai cả. Hăy chuẩn bị
ngay ba món tư-lương là Tín, Nguyện, Hành và tinh-tấn thực-hành các
phương pháp niệm Phật.
Với thái
độ thiết tha chân thành, một quyết tâm không thối chuyển, chúng ta
chắc chắn sẽ niệm Phật đến chỗ ''Nhất tâm bất loạn''.
3.-
Thiền Tông
A.-Mở Đầu
Thiền tôn
thuộc cả Đại Thưà và Tiểu Thừa.củng như bao nhiêu tôn phái khác
trong Phật Giáo, vị khai sáng đầu tiên của Thiền tôn vẫn là đức
Phật. Trước Ngài , sự tham thiền nhập định của các ngoại đạo không
phải là không có. Nhưng đến Ngài, phương pháp thiền định mới đạt đến
chỗ rốt ráo. Như chúng ta đều biết qua lịch sử cúa Ngài , sau khi
xuất gia, đức Phật đă trăi qua nhiều năm đi t́m đạo và tu khổ hạnh,
nhưng vẫn chưa đạt được đạo quả như ư muốn. Ngài tự bảo cái đạo ấy
không phải đi t́m đâu xa mà chính phải t́m trong trí huệ sáng suốt
của Ngài . và từ đó, luôn trong 49 ngày đêm dưới cội Bồ Đề, Ngài đă
ngồi tham thiền nhập định cho đến khuya mồng 8 tháng chạp âm lịch,
lúc sao mai vừa mọc th́ Ngài "Minh tâm kiến tánh", chứng được đaọ
quả Bồ-đề,. Đó là một cuộc nhập định vô tiền khoáng hậu, mở đầu cho
một pháp môn vô cùng hiệu nghiệm của đạo Bồ đề. Và từ đấy về sau,
một tôn giáo riêng đă được thành lập. Đó là Thiền tôn.
Sao gọi là
Thiền tôn?-Thiền tôn là một tôn phái của Phật Giáo lấy pháp môn tham
thiền nhập định làm căn bản tu hành.
Chữ "Thiền" là do chữ "Thiền-na", một tiếng Phạn, phiên âm theo tiếng Trung
Hoa và dịch nghĩa là định lự (định các tự lự). Hiệp chung cả tiếng
Phạn và tiếng Trung Hoa, thành ra chữ Thiền định.
Có chỗ
giải: Chữ "Thiền", xưa dịch tư là " tư duy", nay dịch là "Tịnh
lự". Tư duy có nghĩa là suy nghiệm, nghiên cứu, suy tầm đối tượng
của tâm thức (tức là chỉ) để cho tâm thể được sáng tỏ.
Chữ "Định"
nguyên tiếng Phạn là Samadhi, người Trung Hoa phiên âm là Tam muội,
nghĩa là tập trung tư tưởng vào một cảnh duy nhất không cho tán
loạn.
Hợp hai
chữ Thiền và Định, chúng ta có một nghĩa chung như sau:Tập trung tư
tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán lọan, để cho tâm thể
được vắng lặng, tâm dụng được sáng tỏ, mạnh mẽ, đặng quan sát và suy
nghiệm chơn lư.
Phương
pháp thiền định có hai cách:
1.-Tham
cứu về lư thiền, để cầu minh tâm kiến tánh, tỏ ngộ đạo quả, nên gọi
là " Tham thiền", như tham cứu câu thoại đầu (câu nói thiền) v.v..
2.-Tập trung tư tưởng để quan sát cho sáng tỏ chân lư về một vấn đề ǵ như
quán bất tịnh, quán từ bi v.v..nên củng gọi là " Quán tưởng".
Có chỗ gọi
là tu "Chỉ quán" hay tu "Định huệ". Chỉ là đ́nh chỉ các vọng tưởng,
không cho khởi động, tưc là định. Quán là quan sát cho sáng tỏ một
vấn đề ǵ tức là Huệ.
"Chỉ" là
nhơn, mà "Định là quả.
" Quán là
nhơn", mà "Huê " là quả.
Chủ Trương
Của Thiền Tông
Tất cả
chúng sinh, trăi qua bao đời kiếp, phải trôi lăn trong biển khổ
sanh-tử luân hồi v́ bị vô minh mê hoặc.
Tại sao
lại có vô minh mê hoặc? Chúng ta hằng ngày bị thất-t́nh (1), lục-dục
(2), bát phong (3), xuy động, làm cho tâm tánh chúng ta phải bị mờ
ám; cũng như ngọn đèn bị thổi leo lét, không sáng tỏ được, để phá
tan cái hắc ám ở chung quanh và soi sáng cảnh vật. Đèn tâm của chúng
ta không giờ phút nào chẳng bị gió lục-trần (4) làm chao động. V́
đèn tâm chao động (không định) nên ánh áng trí huệ không thể tỏa ra;
và ánh sáng trí huệ không tỏ sáng, nên khỗng xé tan được mây vô-minh
hắc ám ở chung quanh và không chiếu soi chơn lư của vũ-trụ.
(1)
Thất-t́nh: Mứng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn.
(2)
Lục-dục: Những sự t́nh dục do lục-căn sanh ra.
(3)
Bát-phong: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc.
(4)
Lục-trần: Sáu trần-cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Vậy
hành-giả muốn rỏ chơn lư của vũ trụ, muốn được minh tâm kiến tánh
thành Phật, th́ phải phá trừ mây vô minh hắc ám. Muốn phá trừ vô
minh hắc ám, hành-giả phải làm sao cho đèn trí huệ của ḿnh được
sáng tỏ. Muốn thế hành-giả phải tu thiền-định. Tâm có định, mới phát
sinh trí-huệ. Trí-huệ có phát sinh mới phá trừ được vô minh hắc ám,
và mới minh tâm kiến tánh thành Phật.
Mới nghe
qua chủ trương của Thiền-tôn, chúng ta thấy không có ǵ mới lạ, và
tưởng là dễ dàng quá; nhưng khi thực hành th́ lại không phải dễ dàng
như thế. Trái lại, phép tu thiền-định rất khó, phải thường có
thiện-hữu tri-thức dắt-dẫn, phải tốn rất nhiều công phu và
kiên-nhẫn, phải trải qua một thời gian lâu dài, mới thu được kết
quả.
B.-Các
Loại Thiền Định
Thiền-định
có nhiều loại, nhiều thứ. Có thứ chánh, thứ tà, có thứ sâu, thứ cạn,
có thứ thiền của ngoại-đạo, có thứ thiền của phàm-phu, có thứ thiền
của Tiểu-thừa, có thứ thiền của Đại-thừa.
Hăy nghe
Ngài Tôn-Mật Thiền-sư dạy: '' ...Người muốn cầu Thánh-đạo, tất phải
tu thiền ''. Chơn-tánh không có dơ và sạch, thánh và phàm. Song
thiền-định có cạn và sâu, từng bực không đồng:
- Người
tà-kiến, chấp trước sao lạc, ưa cơi trên, chán cơi dưới mà tu Thiền
là ngoại đạo thiền;
- Người
chánh tín nhơn quả, nhưng cũng dùng sự ưa cơi trên chán cơi dưới mà
tu thiền, là phàm phu thiền;
- Người
biết rơ lư ''ngă không'' mà tu thiền là Tiểu-thừa thiền;
-Người ngộ
được lư''ngă, pháp dều không'' mà tu thiền, là Đại-thừa thiền;
-Người đốn
ngộ tự tâm, xưa nay vốn thanh-tịnh, không có phiền năo, đầy đủ trí
huệ vô-lậu, tâm ấy tức là Phật, rốt ráo không khác; y theo tâm ấy mà
tu thiền là Tối Thượng thừa thiền, củng gọi là ''chơn như tam
muội''
V́ thiền
có nhiều loại khác nhau như thế, nên trước khi muốn thực hành cho
đúng đắn chúng ta cần biết sơ lược các lối tu thiền, để khỏi lạc vào
đường nguy hiểm.
I.- Ngọai
Đạo Thiền
Trong phần
ngoại đạo thiền này, chúng tôi muốn nói đến các loại thiền của ngoại
đạo như đạo Tiên, đạo Bà la môn, các lối thôi miên, và những tà
thiền định với mục đích không chơn chánh.
Sao gọi là
không chơn chánh? -Theo quan niệm của đạo Phật th́ những hành động
ǵ không nhằm mục đích trau dồi tâm tánh, dẹp trừ phiền năo hữu lậu,
để cầu giải thoát sanh tử luân hồi, đều không là chơn chánh. Dựa vào
quan niệm trên mà phê phán th́ những tà thiền định hay những loại
thiền định của ngoại đạo đều không chơn chánh; v́ những người tu
theo lối thiền định nầy chỉ nhắm mục đích cầu được sống lâu, cầu
được khỏe mạnh, được thần thông biến hóa để dạo chơi thế giới,được
những phép lạ, huyền bí để cám dỗ, mê hoặc người, hay được thần tiên
để hưởng lạc thú tiêu diêu nơi tiên cảnh...
Bởi họ
dụng tâm không chơn chánh, tu phương pháp không chơn tánh, nhắm mục
đích thiển cận, bề ngoài và bị các phiền năo tham, sân, si, làm động
cơ thúc đẩy, nên các loại thiền của họ không rốt ráo và toàn thiện
được. Trước tiên chúng ta hăy nói đến các tà thiền định.
1.- Tà
thiền định: Đọc các loại sách xưa, chúng ta thường nghe nói đến các
loại cầm thú như: bạch xà, chồn cáo, qui, khỉ, vượn...tu luyện lâu
năm trong rừng sâu núi thẳm, cuối cùng củng có những phép thần
thông, biến hóa. Nhưng mục đích của chúng là cầu cho được nhiều phép
tắc để được gần phụ nữ, nhiễu hại nhơn dân, hớp hồn hớp via người
lương thiện, để thỏa măn thú tánh. Đó là những loài yêu tinh quỷ
quái, mà ngày nay theo con mắt nhà khoa học th́ khó có thể tin được
là có. Nhưng có lẽ những người xưa muốn đặt ra câu chuyện yêu tinh
quỹ quái như thế, để ngụ ư các loài thú, nếu tu luyện lâu năm củng
có thể có phép thuật hơn người. Nhưng bởi chúng thiếu ḷng nhân, thiếu
thiện tâm cho nên phép thuật càng cao cường bao nhiêu càng gây tai
họa bấy nhiêu.
Chúng ta
củng thường nghe thầy phù thủy luyện thiên linh cái (đầu lâu). Họ
củng tập trung tư tưởng, luyện phép tịnh tâm, và
khi thành công củng sai được âm binh bộ hạ, được ma quỷ mách bảo cho
các việc quá khứ, vị lai ...mà củng tác oai, tác oái không ít.
Đó cũng là
do tu định cả, nhưng bởi dụng tâm tà, nên gọi là
tà thiền định, và kết
quả là có hại cho ḿnh và nhân quần xă hội.
Chúng ta
hăy nghe lời Phật dạy.Ngài A-Nan trong kinh Lăng nghiêm về các lồi
tà thiền định:
" ..A-Nan!
Nếu ông tu thiền định mà không đoạn ḷng dâm, th́ quyết đọa vào ma
đạo, bực thượng thành ma chúa, bực trung thành ma dân, bực hạ làm ma
nữ. V́ gốc của nó là dâm, th́ làm sao khỏi sanh tử luân hồi được?.
"
''...A-Nan
! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn tâm sát hại, th́ chỉ đọa
vào thần đạo; bực thượng thành đại lực quỉ, bực trung làm phi hành
dạ xoa và các quỉ tướng soái, bực hạ làm địa hành La sát và các quỉ
thần...''
''...A-Nan
! Nếu ông tu thiền định mà không đoạn trừ tâm trộm cướp th́ quyết
đọa vào tà đạo; bực thượng thành loài yêu tinh, bực trung làm ma
quỉ, bực hạ làm người tà bị các tà ma nhập (đồng bóng)...''.
2.-Thiền
định của đạo Tiên: Theo các kinh sách của đạo tiên để lại, như kinh
Huỳnh-đ́nh, hay bộ Tánh mạng khuê chỉ v.v..th́ con người sở dĩ sống
được và minh mẫn là nhờ có đủ ba món: tinh, khí và thần. Tinh , khí
là chủ cúa xác thân; Thần là chủ của mạng sống. Hể tinh thần lục dục
quá mạnh th́ tinh khí hao ṃn: tinh khí hao ṃn th́ thân bị che lấp
tối tăm, con người mất sáng suốt. V́ thế cho nên phải trừ dục t́nh
để dưởng tinh, luyện khí cho thân được cởi mở và phát hiện.
" Tiên đạo
cho rằng khắp giáp thân thể con người đều có những cái huyệt, tức là
những lỗ thông khí âm dương; huyệt ở chót bàn chân gọi là chi âm;
huyệt ở đỉnh đầu là thiên thông. Khí đi trở lên là dương khí, khí di
xuống là âm khí.
Người tu
tiên cốt luyện cho âm khí mất đi, chỉ c̣n cái khí thuần dương đi lên
đỉnh đầu, tức là có thần thông và đắc đạo. V́ sao phải trừ bỏ khí
âm? Bởi v́ âm khí là trược khí, làm cho nặng nề, tối tăm, ưa thích
điều dâm dục , làm hao tổn tinh thần. Hể tinh thần hoằng dương tổn
th́ cái thần là cái linh động sáng suốt nhất, cũng là cái thông hiệp
với trời đất, bị bế tắc". Vậy nên, kẻ phàm là kẻ c̣n nặng khí âm,
c̣n bậc tiên chỉ c̣n là khí thuần dương mà thôi (1).
''Để luyện
khí, người tu tiên có nhiều phép tu gần giống như phép tọa thiền,
nghĩa là ngồi ở một nơi thanh tịnh, rồi tập luyện các phép như:
''Tọa công'', ''Giao thiên trụ'', ''Thiệt giải thấu yết''.v.v..
Tóm lại
những người tu theo đạo này, nếu chuyên tâm tŕ chí tập trung tư
tưởng, luyện ''Tinh'' hóa ''Khí'', luyện ''Khí'' hóa ''Thần'', sau
khi đă thuần thục, cũng được năm phép thần thông biến hóa. Họ trở
thành tiên, có thể xuất thần bay đi dạo chơi các Thế giới. Hoặc họ
hứng nước mặt trăng, luyện linh đơn để trị bệnh hay để uống cho được
trường sinh bất tử thành địa tiên.
Những vị
tiên này, rất tiếc là ngày nay, chúng ta không được thấy nên không
dám chắc là có hay không. Nhưng dù có có đi nữa, th́ trên lư thuyết,
các vị này v́ chưa được lậu tận thông, ''phiền năo hữu lậu chưa
hết'' nên khi phiền năo rối lên họ cũng bị đọa trở xuống,
như trường
hợp ông Uất-Đầu-Lâm-Phách, hay ông Độc -Giác-Tiên-Nhân.v.v...Hơn nữa
dù họ có luyện cái thân ḿnh cho được trường sanh bất tử cũng không
thể toại nguyện được, v́ cái thân này là tứ đại giả hiệp, tất phải
bị luật vô thường chi phối, không thể sống vĩnh viễn được. Nó lại là
cái đăy da chứa các vật bất tịnh th́ dù có cưng dưỡng cho mấy rốt
cuộc rồi cũng bị tan ră. Bởi lẽ đó người tu hành phải xem nó như cái
bè đưa qua sông, khi qua sông rồi, chẳng nên mến tiếc cái bè mà
chẳng chịu lên bờ.
Trong bộ
Qui-nguyên Trực chỉ, có kể chuyện ông tiên Lữ Đồng Tân, học tṛ của
Tiên Hớn Chung Ly, sau khi đấu phép với Ngài Huỳnh Long ḥa
thượng bị thua, ông đă bỏ đạo Tiên theo đạo Phật. Lư do sự đầu Phật
là v́ ông Lữ Đồng Tân tự nhận thấy ḿnh đă dụng tâm sai và đă đi lầm
đường tu hành. Do đó, ông đă làm bài thơ sau đây để nói lên sự sai
lầm của ông:
Nguyên
văn:
Khí khước
biều nan, kích tư cầm
Như kim
bất luyến hống trung câm
Từ tùng
nhất kiến Huỳnh long hậu
Thị giác
tùng tiên thố dụng tâm
Dịch
nghĩa:
Bỏ lầu
Linh dược ném đờn cầm.
Tôi nay
chẳng tiếc nước miếng vàng (2)
Từ khi gặp
Huỳnh Long ḥa thượng
Mới biết
từ trước dụng tâm sai.
(xem quyển
Lữ Đồng Tân đầu Phật)
(1) "Yoga
và tọa thuyền" trong Đại chúng tuần san, số 219
3.-Luyện
Du già (Yoga). Yoga là một danh từ Ấn, gốc là chữ Yuj; Tàu dịch là
Du già, nghĩa đen là ''tự đặt ḿnh dưới một cái ách''; nghĩa bóng là
''tự trói buộc cả tinh thần, thể xác vào một quy luật khắc khe'' tự
kiềm chế ḿnh theo một kỷ luật đặc biệt, mà mục đích là tập trung
toàn thể thân tâm làm một với bản thể của trời đất.
Du già
cũng gọi là thuật luyện khí của Ấn độ, gần giống thuật luyện khí của
đạo Tiên. Theo thuyết Du già trong thân thể con người có rất nhiều
huyệt; trong số ấy có bảy huyệt từ hậu môn lên tới đỉnh đầu là quan
trọng nhất. Bảy huyệt ấy nằm dài theo xương sống, và có một đường
lên một đường xuống thông nhau. V́ sự si mê và các thứ dục vọng che
lấp cho nên bảy huyệt ấy bị chướng ngại, khiến cho cái ''chơn quả''
từ dưới ''hỏa hậu'' (chổ hậu môn) không thể lên được. Nhất là v́
thân thể không luyện tập, xương sống bị cong đi, các huyệt do đó bị
bế tắc. Vậy muốn cho hoả hậu (tức là cái thần lực trong con người)
được thông qua các huyệt, lên tới đỉnh đầu th́ phải chú tâm luyện
cho xương sống giản ra, các khớp xương được thông và thẳng.
Để đạt
được mục đích nói trên, người luyện Du già phải tập nhiều tư thế,
như tư thế ''giản lưng '' tư thế ''lưỡi cày'', tư thế ''trồng
chuối'' (trút đầu xuống dưới, trở chân lên trên trời), để cho hỏa
hậu dể lưu thông tới đỉnh đầu.
Ngày nay
Du già được phổ biến qua các nước Âu -Mỹ, gần như một phong trào.
Phần đông cho đó là một phương pháp thể dục, để luyện cho thân thể
được khỏe mạnh, trí huệ được sáng suốt, để tính toán và làm việc
được nhiều và hiệu quả. Một số người đi xa hơn, muốn luyện Du già để
được sống lâu, trẻ măi, vượt ra khỏi những sự đ̣i hỏi của xác thân
đầy dục vọng, thoát ra ngoài những nỗi lo âu, sợ sệt hằng ngày và
sống một cuộc đời an vui, tự tại. Lại có một hạng người khác mong
rằng Du già sẽ làm cho họ khám phá những năng lực tiềm tàng ẩn núp
trong con người và làm cho họ trở thành những nhân vật phi thường,
có những thần thông biến hóa, phép mầu chước lạ, họ cũng tập trung
tư tưởng, định tâm chú ư như các lối tu thiền định; ngoài ra họ c̣n
có tu tập một cách rất khổ sở, hành hạ thân xác, bắt nó chịu đựng
những thử thách cực độ, như phơi nắng dầm sương, ngồi trên chông gai,
đứng bằng hai tay, treo chân lên cổ, nhịn đói, nhịn khát,v.v...đó là
những đạo sĩ người Ấn Độ thường gọi là ''pha-kia'' (fakir).
Những
người này khi tu đến mức độ cao, cũng có được những phép lạ, như dao
chém không đứt, đâm không thủng, nhai ve chai, uống axit không sao,
nằm ngũ một giấc luôn trong 3 tháng không ăn, không uống .v.v...
Nhưng dù
họ thành công bao nhiêu đi nữa, th́ cũng không thể thoát ngoài ṿng
trần tục liễu sanh thoát tử và minh tâm kiến tánh được
(2) Nước
miếng vàng: Đối với người tu tiên, th́ nước miếng rất qúy, họ không
bao giờ nhổ v́ sợ tổn khí, và dùng nước miếng của ḿnh để luyện
thành linh dược
4.- Luyện
thôi miên. đây cũng là một lối tu thiền của ngoại đạo, hiện nay rất
thịnh hành trên thế giới. Nguyên tắc của phương pháp tu luyện này
cũng là vận dụng tập trung tư tưởng vào một chỗ để cho tinh thần có
sức mạnh sai khiến được sự vật. Người tập thôi miên, lúc mới đầu
ngồi yên một chỗ, nh́n chăm chú vào một chấm đen vẽ ở trên tường, để
cả tâm trí tập trung vào đó, ngoài ra không c̣n để ư vào một sự vật
ǵ ở chung quanh nữa. Họ ngồi tập hàng giờ như thế, bao giờ tinh
thần không c̣n tán lọan nữa, và có đủ sức mạnh để sai sử kẻ khác là
họ thành công. Những người thôi miên giỏi, có thể dùng thôi miên để
trị lành bệnh hay sai sử những người khác làm những chuyện phi
thường, như xuất thân đi đến một xứ khác để thăm bà con, kể lại việc
quá khứ hay tiền thân của một người khác.v.v...
Tóm lại,
nhờ luồng điện tinh thần đă được tập trung thành sức mạnh, người
thôi miên có thể bắt người khác làm những việc kỳ lạ theo ư muốn của
ḿnh. Nhưng v́ lợi dụng, tâm không chơn chánh, chỉ tham cầu những
điều huyền bí, mầu nhiệm bên ngoài, không lo dẹp trừ phiền năo, hữu
lậu, trau dồi tâm tánh bên trong, để được minh tâm kiến tánh nên
không phải là chánh đạo. Đến khi phiền năo hữu lậu nỗi lên hoặc
nhiễm sắc tham tài.v.v...th́ các thần thông, diệu dụng đều mất hết.
Bởi thế nên Phật dạy các đệ tử: ''ngộ được đạo th́ tự nhiên sẽ có
các thần thông. Nếu được thần thông mà chưa ngộ được đạo th́ thần
thông ấy có khi bị mất''.
II.- Phàm
Phu Thiền.
Phàm phu
thiền cũng gọi là thế gian thiền. Sở dĩ gọi là phàm phu hay thế gian
thiền là v́ các pháp thiền này chưa có thể đưa hành-giả ra ngoài tam
giới, chưa chứng được thánh quả, mà vẫn c̣n quanh quẩn trong ṿng
phàm phu hay thế gian. Các pháp như Tứ thiền, Tứ không.v.v...đều
thuộc phàm phu thiền.
1.- Tứ
thiền. Tức là 4 giai đoạn tham thiền của phàm phu, đi dần từ chổ nhàm
chán cái vui thô thiển đến cái vui vi tế thanh tịnh. Bốn giai đoạn
tham thiền này tuần tự diễn tiến như sau:
a.-Sơ
thiền, ly sanh hỷ lạc.-Hành giả khởi đầu bằngg tâm lư nhàm chán cái
ô trược của cỏi Dục, và mong cầu được xa ĺa (ly) được cái ô trược
của Dục giới, hành giả sanh vui mừng (sanh hỷ lạc). Đó là kết quả
của giai đoạn tham thiền đầu tiên (sơ thiền).
b.- Nhị
thiền, định sanh hỷ lạc.-Nhưng cái vui nói trên, lại làm cho tâm
chao động, cần phải dứt trừ; v́ thế hành giả phải vào định. Khi định
có kết quả, cái vui mừng thô phù của sơ thiền chấm dứt và cái vui
mừng vi tế trong định lại năy sanh; v́ thế cho nên gọi
là " Định sanh
hỷ lạc".
c.-Tam
thiền, ly hỷ diệu lạc.-Cái vui mừng ở cơi nhị thiền mặc dù vi tế,
nhưng vẫn c̣n làm cho tâm rung động, v́ thế hành giả lại cần bỏ cái
vui mừng ở cơi nhị thiền. Khi bơ được cái vui mừng này, th́ một nỗi
vui mầu nhiệm khác lại phát sinh; v́ thế cho nên gọi "Ly hỷ diệu
lạc".
Trong các
kinh thường chép: Cơi tam thiền là vui hơn hết (diệu lạc), v́ ở các
cơi dưới th́ chỉ có vui thô động, c̣n ở các cơi trên th́ chủ là tịch
tịnh, không c̣n vui nữa.
d.-Tứ
thiền, xả niệm thanh tịnh.-Ở cơi tam thiền, tuy đă hết cái vui thô
đọng của Sơ thiền và Nhị thiền; nhưng vẫn c̣n cái vui mầu nhiệm.
Nhưng hễ c̣n niệm vui, th́ tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả
lại phải c̣n tiến lên một bậc nữa, đi vào cái thiền thứ tư, xă luôn
cả cái niệm vui, để tâm được hoàn toà thanh tịnh, v́ thế nên gọi
là "Xă niệm thanh tịnh".
2.-Tứ
không định.-Sau khi đă trăi qua Tứ thiền và đă thành tựu viên măn,
hành giả tiếp tục tu thiền định và sẽ trăi qua bốn giai đoạn gọi là
tứ không định sau đây. Sở dĩ gọi là tứ không, v́ khi vào bốn định
này, thiên giả sẽ không c̣n thấy có cảnh thức tâm nữa.
a) Không vô
biên xứ định.-Thiền giả khi đă đạt được tứ thiền, tâm đă được hoàn
toàn thanh tịnh, nhung vẫn c̣n thấy có sắc giới, c̣n thân c̣n cảnh
và bị h́nh săc trói buộc, nên sanh tâm nhàm chán. Để rời bỏ các
h́nh sắc về thân và cảnh, thiền giả vào định thứ nhất của tứ không,
thể nhập với "Hư không vô biên",tức là không thấy có ngăn cách, có
biên giới của cảnh.
b) Thức vô
biên xứ định.-Thiền giả khi đă định thứ nhất của tứ không, rời bỏ
được sắc tướng của thân và cảnh,
thấy được cái vô biên của hư
không, nhưng vẫn c̣n giữ cái bản ngă hẹp ḥi, vẫn c̣n thấy biên giới
của tâm thức; khi thành tựu, tức thể nhập được vào cơi "Thức vô
biên".
c) Vô sở
hữu xứ định:-Thiền giả ,mặc dù không c̣n thấy biên giới, ngăn cách
của thức nhưng vẫn c̣n thấy có ngă, có tâm thức, có năng sở; mà hễ
c̣n thấy năng sở, tức c̣n thấy ḿnh và người , c̣n thấy có sở hữu.
Vậy thiền giả phải vượt lên một tầng nữa, xa ĺa sự chao động, năng
sở, tức nhập định "Vô sở hữu xứ" (cơi không sở hữu).
d) Phi
tưởng, phi phi tưởng xứ định.-Thiền giả khi đă nhập định"Vô sở hữu",
không c̣n thấy nhân ngă, năng sở, nhưng vẫn c̣n "tưởng". Mà c̣n
tưởng th́ c̣n vọng động. Vậy thiền giả phải tiến lên một tầng nữa,
vào cơi "Định không tưởng". Nhưng không tưởng đây, không có nghĩa là
vô triều vô giác như đất đá; không tưởng, nhưng không phải không
tưởng của đất đá,. Không tưởng mà vẫn sáng suốt như một tấm gương,
nhưng không phải là một tấm ván hay mặt đá. Đó là ư nghĩa của cơi
định "Phi tưởng , phi phi tưởng".
Có chỗ nói
định "Tứ không" thuộc về ngoại đạo , nhưng người tu thiền, bắt đầu
từ Sơ thiền đến Tam thiền, lúc bấy giờ có hai con đường tẻ: Một con
đường đi về ngũ A-na-hàm (1) ở cơi tứ thiên (2) thuộc về cảnh giới của
thánh thứ ba (3); một con đường đi về tứ không của cơi Vô sắc, thuộc
về ngoại đạo.
(1) Ngũ
A-Na-Hàm là năm cơi A-Na-Hàm: a) Vô phiền, b).vô nhiệt, c). thiện
kiến, d).thiện hiện, đ)sắc cứu cánh.
(2) Tứ
thiền có chín cơi ngoài năm cơi A-na hàm, c̣n có bốn cơi: Vô
vân, phước sanh, quảng quả, vô tưởng.
(3)Tiểu
Thừa thanh văn có bốn quả thánh A-na hàm thuộc quả thánh thứ ba
III.-Nhị
Thừa Thiền
Nhị Thừa hay Tiểu-thừa thiền, thuộc về xuất thế gian thiền , nghĩa là các
người tu theo các loại thiền nầy có thể vượt ra ngoài thế gian,
thoát được sanh tử luân hồi. Tuy thế, pháp tu thiền nầy không
đem lại một kết quả mau lẹ, lớn lao toàn diên như các lối Đại-thừa
thiền, mà chỉ có tánh cách chậm chạp, tuần tự, cuộc bó, tu một pháp
chỉ trừ được phiền năo; nghĩa là chứng quả thấp nhỏ, có hạn lượng,
nên thuộc về Nhị thừa thiền (Nhị thừa thiền là Thinh văn thừa và
Duyên giác thừa).
Nhị thừa
thiền có rất nhiều những phương pháp tu, như Ngũ đ́nh tâm quán, Thập thứt
thế xứ quán, Bát hồi quả, Bát thắng xứ quán, Cửu tưởng quán, Thập
lục đặng thắng, Lục diệu pháp môn, Tứ vô lượng tâm, Thông minh
thiền, Bát niệm, Thập tưởng, Tứ đệ định, Sư tử phấn tấn, siêu việt
tam muội, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo..tóm lại, hành quả của Nhị thừa
thiền có thể đem giáo-lư của một hay những pháp môn của Nhị thừa để
tham sát tham thiền.
Trong phạm
vi hẹp ḥi của bài phổ thông nầy, chúng tôi không thể nói hết tất cả
pháp môn tu thiền của Nhị thừa được, xin nói sơ lược một ít phương
pháp . Nếu hành giả muốn đi sâu vào con đường tu này, phải chuyên
môn học tập, phải nhờ minh sư dạy bảo, phải trải qua nhiều thời gian
và nhiều công phu tu tập mới thành công.
1.- Ngũ
đ́nh tâm quán:
Quán
sổ tức, trừ tâm toán loạn
Quán bất
tịnh, trừ tâm tham sắc dục
Quán từ
bi, trừ tâm sân hận
Quán nhân
duyên, trừ tâm si mê
Quán giới
phân biệt, trừ tâm chấp ngă.
(xem Phật
học phổ thông, khóa thứ IV)
2.- Cửu
tưởng quán:
a.-Tưởng
thây śnh tướng
b.-Tưởng
thây hoại diệt
c.-Tưởng
máu mủ chảy
d.- Tưởng
thây rục ră
đ.- Tưởng
thây xanh chàm
e.- Tưởng
thây bị gịi rúc rỉa
ê.-Tưởng
thây tan ră
g.- Tưởng
c̣n lại đống xương
h.-Tưởng
xương bị đốt tiêu.
3.- Tứ vô
lượng tâm:
a.-Tâm vô
từ vô lượng: Thiền giă vờ mỡ rộng ḷng vô từ vô lượng, bao bọc chúng
sanh trong t́nh thương rộng lớn vô biên.
b.-Tâm bi
vô lượng: Thiền giă vờ mỡ rộng ḷng bi vô lượng, cứu khổ cho chúng
sanh trong năm đường.
c.-Tâm hỷ
vô lượng: Thiền giă vờ mỡ rộng tâm Hỷ (hoan hỷ) vô lượng, làm cho
chúng sanh đều được Hỷ.
d.-Tâm xă
vô lượng: Thiền giă vờ mỡ rộng ḷng Xă vô lượng, không lưu luyến cố
chấp một việc ǵ.
Tứ vô
lượng tâm là một pháp môn rất linh nghiệm: Phàm phu tu tứ vô tâm
lượng, th́ sau khi mạng chung sẽ sanh làm vua ở cỏi Tứ thiền; Nhị
thừa tu Tứ vô lượng tâm, th́ phước đức được tăng trưởng, mau dặng
Niết bàn, bồ tát tu Tứ vô lượng tâm th́ ḷng từ bi mở rộng vô biên
và làm lợi ích cho chúng sanh không xiết kể .
(xem Phật
học phổ thông, khóa thứ IV)
4.- Thập
lục đặc thắng:
Thập lục
đặc thắng tức là mười sáu phép rất đặc biệt thù thắng, có thiền có
quán, có đủ các thiền và có thể phát sanh ra quả vô lậu, không phải
như Tứ thiền, tứ không, không ra khỏi sanh tử. Mười sáu phép đặc biệt
thù thắng này là:
a.- Biết
hơi thở vào
b.- Biết
hơi thở ra
c.- Biết
hơi thở dài ngắn
d.- Biết
hơi thở khắp thân
đ.- Trừ
các thân hạnh
e.- Thọ
hỷ
ê.- Thọ
lạc
f.- Thọ
các tâm hạnh
g.- Tâm
tác hỷ
h.- Tâm
tác nhiếp
i.- Tâm
tác giải thoát
k.- Quán
vô thường
l.- Quán
xuất tán
m.- Quán
ly dục
n.- Quán
diệt
o.- Quán
phí xả.
5.- Thông
minh thiền:
Thông minh
thiền tức là tham thiền để được lục thông và tam minh.
a.-Lục
thông tức là sáu phép thần thông như:thiên nhăn thông, thiên nhĩ
thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận
thông.
b.-Tam
minh tức là thiên nhăn minh, thiên nhĩ minh, lậu tận minh.
6.- Thập
nhứt thế xứ quán:
Thập nhứt
thế xứ quán tức là phép quán mười món biến khắp các xứ sở, sau đây:
a.- Quán
sắc xanh, khắp giáp tất cả chổ
b.- Quán
sắc vàng, khắp giáp tất cả chổ
c.- Quán
sắc đỏ, khắp giáp tất cả chổ
d.- Quán
sắc trắng, khắp giáp tất cả chổ
đ.- Quán
đất, khắp giáp tất cả chổ
e.- Quán
nước, khắp giáp tất cả chổ
ê.- Quán
gió, khắp giáp tất cả chổ
g.- Quán
lửa, khắp giáp tất cả chô
h.- Quán
hư không khắp giáp tất cả chổ
i.- Quán
thức tâm, khắp giáp tất cả chổ
7.- Bát
bối xă quán:
Bát bối xă
quán tức là tám phép quán có thể trái bỏ (bối xả) cảnh giới Tứ thiền,
tứ định của thế gian, dể thành tựu pháp xuất thế gian. Tám phép bối
xả quán là:
a.- Trong
có sắc tướng, ngoài quán sắc để trái bỏ cảnh giới Sơ thiền.
b.-Trong
không sắc tướng, ngoài quán sắc, để bỏ cảnh giới Nhị thiền .
c.- Quán
thanh tịnh để trái bỏ cảnh Tam thiền và Tứ thiền .
d.- Quán
trái bỏ Hư không vô biên xứ.
Đ.- Quán
trái bỏ Thức vô biên xứ
e.- Quán
trái bỏ Vô sớ hữu xứ
ê.- Quán
trái bỏ Phi tưởng, phi phi tưởng xứ.
f.- Quán
trái bỏ diệt thọ tưởng.
8.- Bát
thắng xứ quán:
Thắng có
nghĩa là thù thắng, là hơn. Tám phép quán nầy về cảnh sở quán, cũng
như công đức thu thập được trong khi thu hành, đều thù thắng hơn tám
món Bối xă trên, nên gọi là ''Bát thắng xứ quán'''.
a.- Trong
có sắc tướng, ngoài quán có ít sắc, thắng xứ.
b.- Trong
có sắc tướng, ngoài quán nhiều sắc, thắng xứ
c.- Trong
không sắc tướng, ngoài quán ít sắc ,thắng xứ
d.- Trong
không sắc tướng, ngoài quán nhiều sắc, thắng xứ
đ.- Quán
sắc xanh, thắng xứ
e.- Quán
sắc vàng, thắng xứ
ê.- Quán
sắc đỏ, thắng xứ
f.- Quán
sắc trắng, thắng xứ
9.- Lục
diệu pháp môn:
Lục diệu
pháp môn là sáu phép môn mầu nhiệm sau đây:
a) Số. b)
Tùy. c) Chỉ. d) Quán. e) Hoàn. f) Tịnh.
(Xem quyển
Lục Diệp pháp môn)
10.- Bát
niệm xứ:
Với phép
quán tám niệm sau nầy, thiền giả sẽ trừ được sự sợ hăi khi tu cửu
tưởng và sẽ được đạo quả
a)Niệm
Phật. b) Niệm pháp . c) Niệm tăng. d) Niệm giới. f) Niệm xả. g) Niệm
hơi thở ra vào. h) Niệm chết(nhớ chết).
11.- Thập
quán tưởng:
Thập quán
tương gồm có: a). Tưởng
vô thường, b). Tưởng khổ, c), Tưởng vô ngă , d). Tưởng ăn vật bất
tịnh, đ). Tưởng thế gian không vui, e). Tưởng chết, f). Tưởng bất
tịnh, g). Tưởng đoạn, h). Tưởng ĺa, i). Tưởng hết.
12.- Cửu
thế đệ định:
Cửu thế đệ
định là 9 món thiền-định mà thiền-giả sẽ
tuần tự theo thứ lớp
tu-luyện: từ Sơ-thiền đến Tứ-thiền, rồi đến Tứ-định, và cuối cùng,
cộng thêm định Diệt-thọ-tưởng là chín món tất cả.
13.- Sư-tử
phấn tấn Tam-muội:
Với pháp
thiền này, hành-giả bắt đầu tham-thiền như pháp Cửu-thứ-đệ định nói
ở trên, nghĩa là bắt đầu từ Sơ-thiền đến thiền-định thứ chín là
Diệt-thọ-tưởng định, rồi đi ngược trở lại, từ thiền thứ chín đến
Sơ-thiền. Thiền-giả tới lui trong thiền-định một cách thông suốt,
tự-tại, đường hoàng, oai nghi như dáng đi đứng, tiến thoái của con
sư-tử, nên gọi là ''Sư-tử phấn tấn tam-muội ''. Kết quả của lối
thiền này, nếu được ḥan toàn siêu-việt th́ thiền-gỉa sẻ là Bồ Tát.
Nếu không hoàn-toàn tự-tại và chưa siêu-việt th́ thành Thanh Văn.
14.-Ba
mươi bảy pháp trợ đạo:
Thiền-giả
cũng có thể lấy một pháp-môn hay nhiều pháp-môn trong số 37 pháp
trợ-đạo để tham-thiền, tu-luyện. Ba mươi bảy pháp trợ-đạo đă có nói
rỏ trong Phật-học Phổ-thông khóa ba. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nhắc
qua để quư độc-giả nhớ lại thôi:
a). Ngũ
căn b). Ngũ lực
c). Tứ
chânh cần d). Tứ như ư túc
đ). Tứ
niệm xứ e). Thất Bồ-đề phần
ê). Bát
chánh đạo phần.
Kết Luận
Về Nhị Thừa Thiền
Các pháp
tu thiền của Nhị-thừa hay Tiểu-thừa nói trên, như quư độc-giả đă
thấy, nhiều không thể kể xiết. Tuy thế, hành-giả muốn cho có kết
quả, phải chọn lựa phương pháp nào thích-hợp với tŕnh-độ của ḿnh,
chứ không phải gặp pháp môn nào tu theo pháp-môn nấy được. Sự
lựa-chọn nầy cũng cần được các bậc thầy hướng-dẫn. V́-thế, chúng ta
thường nghe ngày xưa các vị chân tu đi ''cầu pháp '', hết xứ nầy
đến xứ nọ, không quản công lao khó-nhọc, có nhiều khi hy-sinh cả
tính mạng nữa. Cầu pháp nghĩa là t́m cầu minh sư chỉ dạy phương-pháp
tu hành, như Ngài Thiện-Tài đi tham-cầu 53 vị Thiện-triều-thức, Ngài
Huyền-Trang đi khắp nước Trung Hoa rồi sang Ấn Độ để cầu Pháp.
Hành-giả sau khi được vị minh-sư nhận lời, c̣n phải theo hầu hạ một
thời-gian rất lâu để vị minh-sư ấy quan sát, thăm ḍ căn cơ, tŕnh
độ một cách chu đáo, như Ngài Xá-lợi-phất đem pháp Sổ-tức dạy người
giữ nghĩa-địa, hay pháp quán Bất-tịnh dạy người thợ rèn tu, th́ chỉ
hoài công vô ích, chứ không kết-quả ǵ hết.
Hành-giả
cũng nên nhớ một điều nữa, là trên bước đường tu hành chớ nên
bôn-chôn, nóng-nảy vô ích. Sự tu hành củng như trồng cây, không
thể
nóng nảy được. Người trồng cây, lo vô phân tưới nước, làm đây đủ bổn
phận của ḿnh, rồi kiên-nhẫn chờ đợi; đến khi đủ sức đúng thời tiết,
cây sẽ tự đơm bông trổ trái một cách tự nhiên.
Người tu
hành củng vậy, cứ hằng ngày lo tu tập, tích-trữ nhiều năm, đến khi
công tṛn quả măn, th́ được minh tâm kiến tánh.
Hăy nhớ
rằng tu-hành phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp, chứ không thể mới
một hai đời mà thành Phật được.
IV.- Đại
Thừa Thiền
Đại-thừa
Thiền là pháp tu thiền bực của Đại-thừa, củng gọi là xuất-thế-gian
thượng thượng thiền. Pháp thiền này chỉ dành riêng cho những người
thượng căn rất thông-minh và lanh-lợi tu. Những bực Đại-thừa Bồ Tát
đă nhiều đời nhiều kiếp tu hành, phá hết các phiền nảo thô-trược,
chỉ c̣n vi-tế vô-minh, nếu kiếp này gặp được minh-sư chỉ giáo cho
phép tu Đại-thừa thiền nầy, th́ sẽ được tỏ ngộ. Cũng như cành hoa
sắp nở, chỉ thêm chút ít công phu vun tưới, th́ hoa sẽ trổ ngay.
Yếu-tố căn bản của Đại-thừa thiền là trí-huệ. Thiền-giả phải lấy
trí-huệ để tự quan sát tâm-tánh. Nếu thiếu trí-huệ, thiền-giả khó
được kết-quả khi tu theo Đại-thừa thiền.
Các Pháp
Thiền Định Của Đại Thừa
Các pháp
thiền-định của Đại-thừa rất nhiều như: Pháp-hoa tam-muội, niệm Phật
tam-muội, Ban châu tam-muội, Giác ư tam-muội, Thủ-Lăng-Nghiêm
tam-muội, Tứ-tánh-thiền, Nhứt-thế-thiền, Nhứt thế môn thiền, Thiện
nhơn thiền,, Nhứt tế hạnh thiền, Trừ phiền-năo thiền, Thử thế tha
thế thiền, Thanh-tịnh thiền, Tự-tánh thanh-tịnh thiền, Như lai
tối thượng thừa thiền, Đat-ma sư-tổ thiền .v.v.
Dưới đây
chúng ta hăy nghiên cứu qua một số pháp thiền-định thông thường của
Đại-thừa.
1.- Sao
gọi là '' Pháp hoa tam-muội ''?
Phương
pháp này dựa theo kinh Đại phẩm Bát-nhă. Hành-giả tu pháp này, tâm ư
giác-ngộ tất cả các pháp và được vô-sanh-nhẫn (độc giả nào muốn rỏ
thêm, hảy xem lời b́nh luận của Ngài Trí-Giả-Đại-Sư).
4.- Sao
gọi là ''Thủ nghiêm tam muội''?
Phương-pháp này căn cứ theo kinh Thủ-lăng-nghiêm. Hành-giả phải nhận
chân rằng các pháp đều từ thưc-thể như là Như-Lai-Tạng tâm mà tùy
duyên biến-hiện, như huyễn, như hóa. Hiểu rỏ các pháp đều như huyễn
như hóa, rồi dựa theo lư ấy mà tham-thiền nhập-định, nên cũng gọi là
như hiển tam-muội.
5.- Sao
gọi là '' Tự-tánh thiền, Nhứt thế thiền, nan thiền .v.v..''?
Các món
thiền như ''Tự tánh thiền, Nhứt thế thiền, Nan thiền, Nhứt thế môn
thiền. Thiện nhơn thiền, Nhứt thế hạnh thiền, Trừ phiền năo thiền,
Thử thế tha thế thiền, Thanh- tịnh tịnh thiền '', gồm cả thảy chín
món và được gọi là Đại-thừa thiền.
Sở dĩ, gọi
các món thiền này là Đại-thừa thiền, v́ các vị Bồ Tát nhờ y theo các
món thiền này mà tấn tu làm nên được công-hạnh rộng lớn, thắm sâu
không thể lường được (độc giả nào muốn hiểu rỏ thêm, hảy đọc quyễn
''Pháp giới thứ đệ sa môn'' do Ngài Trí-Giả Đại-Sư soạn).
6.- Sao
gọi là ''Trực-chỉ thiền''?
Trực-chỉ
thiền là pháp thiền chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, không
dùng phương-tiện tu quán và cũng không cần kinh giáo.
7.- Sao
gọi là '' Như-lai thanh-tịnh thiền''?
Như-lai
thanh-tịnh thiền là pháp thiền thanh-tịnh của Như-lai. Như chúng ta
đă biết, Đức-Phật Thích-Ca trước khi chưa thành đạo, đă ngồi
tham-thiền 6 năm dưới gốc cây Bồ- đề. Sau khi phá trừ hết vô minh
phiền-năo, tâm được thanh tịnh, Ngài chứng được đạo Bồ-đề. Do đó,
phép thiền này được gọi là '' Như-lai thanh-tịnh thiền''.
8.- Sao
gọi là '' Như-lai Tối-thượng-thừa thiền ''?
Đây là
phép thiền cao-siêu hơn tất cả các phép thiền mà đức Như-lai đă
ứng-dụng.
9.- Sao
gọi là Đạt-Ma Tổ-Sư thiền ''?
Như chúng
ta nghe, Ngài Đạt-Ma sau khi từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền đạo, đă
ngồi xây mặt vào tường chín nằm, tại chùa Thiếu-Lâm để tham-thiền.
Đat-Ma Tổ-sư thiền tức là phép thiền mà Ngài đă tu luyện ở chùa
Thiếu-Lâm vậy.
Các phép
thiền của Đại-thừa, như quư độc-giả đă thấy ở phần trên, tuy nhiều
không kể xiết, tựu-trung có thể chia làm hai loại lớn:
1.- Một
loại thường gọi là tam-muội, căn cứ theo kinh sách của Phật Tổ
truyền dạy mà tu tập, có tu có quán, có phương-pháp nhất định, như
Pháp-hoa tam-muội, Niệm Phật tam-muội, Ban-châu tam-muội, Giác-ư
tam-muội, Thủ-tăng-nghiêm tam-muội v.v...Các loại tam-muội này v́ có
quy củ, có phương pháp nhất định và được phổ biến bằng văn tự, tương
đối ít khó khăn và bí hiểm hơn loại thứ hai mà chúng tôi sắp nói
dưới đây, nên được nhiều người tu luyện và số người thành tựu cũng
nhiều.
2.- Một
loại thứ hai, được truyền dạy không căn-cứ theo kinh-giáo, không có
văn tự, tức là loại thiền ''giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn-tự
'', như các pháp '' Trực-chỉ thiền, Như-lai thanh-tịnh thiền,
Tự-tánh thanh-tịnh thiền, Như-lai tối-thượng thừa thiền, Đạt-Ma
Tổ-sư thiền v.v...Với loại thiền này là người ngộ trước dùng tâm
giác-ngộ của ḿnh để ấn-chứng cho người sau giác ngộ. Đó tức là loại
thiền ''Dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật '':
Vị minh-sư dùng tâm ḿnh đễ tiếp xúc với tâm đệ tử, truyền thẳng sự
giác ngộ của ḿnh qua tâm của đệ-tử; như dùng ngộn đèn sáng chói mà
tâm ḿnh mă bừng phát ra để chiếu vào tâm đệ-tử; và tâm này cũng lại
nhờ ảnh hưởng trực-tiếp của sự giác-ngộ của thầy mà bừng sáng lên và
truyền nối từ thầy đến tṛ, từ đời này sang đời khác. Loại thiền náy
tức là loại thiền đă xây dựng truyền nối từ Đức-Phật Thích-Ca xuống
cho đến Ngài Lục-tổ. Đây là một lối ''truyền đạo'' hay ''truyền
đăng'' trực tiếp linh động chính thống, nhưng không phổ biến như lối
trên, v́ mỗi đời chỉ truyền cho mỗi người, chứ không thể truyền cho
nhiều người trong một lúc được. Và người được ấn chứng phải là một
vị có trí-huệ xuất chúng, siêu phàm không ai sánh kịp.
Cách
truyền dạy pháp thiền này có hai lối:
a). Tham
cứu một câu thoại đầu. Thoại đầu là một câu nói thiền hay ''công-án'', nghĩa là một đề án hay luận án gồm một câu rất ngắn,
nhưng ư-nghĩa sâu-xa, đối với người thường không hiểu được.
Khi một vị
Tổ của phái Thiền-Tôn này nhận thấy trong hàng đệ-tử của ḿnh có một
vị xuất chúng, có thể giữ giềng mối đạo tiếp nối sự nghiệp của
Thiền-tôn và tỏ ngộ đạo mầu được, th́ vị Tổ trao cho vị đệ-tử ấy một
câu thoại-đầu (một luận-án, như bây giờ, các vị bác sĩ hay tiến sĩ,
trước khi ra trường, phải nạp cho ban giám khảo). Vị đệ-tử này, đêm
ngày tham cứu câu thoại-đầu ấy, có nhiều khi trải qua một thời gian
mười năm hoặc mười lăm năm mới tỏ ngộ được. Sau khi xét thấy đệ-tử
của ḿnh đă tỏ ngộ đạo mầu rồi, vị Tổ-sư mới ấn chứng cho.
b). Nhưng
nhiều khi vị Tổ-sư lại không trao cho đệ-tử của ḿnh một câu
thoại-đầu để tham cứu, mà lại dùng những h́nh thức rất lạ-lùng,
người thường khó có thể hiểu được như : đánh, hét, ra dấu, mời ăn
cơm, uống nước trà v.v...chẳng hạn; như có một vị đệ-tử đến cấu đạo
với một vị Tổ-sư, vị này không nói ǵ cả, chỉ dùng Thiền-tượng (roi
thiền) đánh đập vị đệ-tử kia, để xem sự phản ứng ấy như thế nào. Do
sự phản ứng mà vị Tổ-sư biết được vị đệ-tử kia đă giác ngộ hay
chưa.
( Xem Pháp
Bảo Đàn Kinh).
Tóm lại,
pháp thiền này rất là màu nhiệm, không thể nghĩ bàn được, cho nên
người xưa có nói: ''Thiền cơ huyền diệu'' (máy thiền mầu-nhiệm).
Các vị Tổ-sư trong khi truyền đạo, không dựa theo một nguyên tắc,
một phương pháp ǵ nhất định cả. Các Ngài tùy theo thời cơ mà
ứng-biến, nghĩa là quan sát căn cơ của người cầu đạo, xét đă đúng
thời chưa, và phải dùng phương pháp ǵ cho vị đệ-tử kia được ngộ
đạo, rồi các Ngài tùy cơ lập pháp. Tất nhiên phương-pháp này các
Ngài dùng chỉ trong nhất thời thôi. Do đó, mà không thể biết trước
được các Ngài sẽ dùng phương-pháp ǵ để truyền thọ.
Về sau
cũng có người bắt chước những phương-pháp như đánh, hét v.v...nhưng
v́ không biết quán thời cơ, nên chỉ làm cho người đau và sợ mà thôi,
chứ không có hiệu quả ǵ.
Hệ Thống
Truyền Thừa Của các Tổ Trong Phái Thiền Tông Tại
Ấn Độ
1.-Ngài Ma
Ha Ca Diếp, Sơ-tổ của Thiền-tôn ở Ấn Độ:
Trong kinh
Phạm thiên vấn Phật quyết nghi và trong bộ "Thích nghi kê cổ "quyển
nhất,chùa chép đại khái như sau: khi Phật ở hội Linh Sơn, có ông Đại
Phạm Thiên Vương, đem hoa sen dâng cúng Phật. Phật cầm cành hoa sen
lên để khai thị cho đại chúng (thiền cơ). Ṭan thể chúng hội đều yên
lặng, không ai hiểu thâm ư của Phật như thế nào. Duy có Ngài Ma Ha
Ca Diếp là tỏ ngộ được thiền cơ của Phật, nên đổi sắc mặt vui vẻ,
chúm chím mỉm cười (phá nhan vi tiếu). Đức Phật nhận thấy, liền ấn
chứng (chứng nhận) cho Ngài Ca-Diếp được đắc truyền và làm tổ thứ
nhất (Sơ tổ ở Ấn Độ) Phật tuyen bố như sau:
Nguyên
văn:
Ngô hữu
chánh pháp nhăn tạng
Niết bàn
diệu tâm, thật tướng vô tướng,
Vi diệu
pháp môn, kim phú Ma Ha Ca Diếp
Dịch
nghĩa:
Ta
ương "chánh pháp nhăn tạng",cũng gọi là Niết bàn diệu tâm", cũng tên
là thật tướng vô tướng" cũng gọi là "Vi diệu pháp môn", nay ta
truyền cho ông Ma Ha Ca Diếp.
Sau đó,
Phật truyền y bát và nói bài kệ truyền pháp như sau:
Nguyên
văn:
Pháp pháp
bổn vô pháp
Vô pháp
pháp, diệc pháp
Kim phú vô
pháp thời
Pháp pháp
hà tằng pháp.
Dịch
nghĩa:
Các pháp
vốn không pháp
Không pháp
cũng là pháp
Nay truyền
cái vô pháp (vô tướng)
Vô pháp
nào có pháp.
Đây là
nguồn gôc phát khởi Thiền tôn, lấy tâm truyền tâm (dĩ tâm ấn tâm)
không dùng kinh giáo và phương tiện.
2.- Ngài
A-Nan, Tổ thứ hai của Thiền tôn ở Ấn Độ:
Một hôm
Ngài A-Nan hỏi Ca-Diếp:
- Ngoài
việc truyền y bát, đức Thích tôn c̣n truyền pháp ǵ riêng cho Ngài
nữa không?
Tổ Ca-Diếp
gọi to:
- A-Nan !
Ngài
A-Nan: Dạ !
Tôí dạy
tiếp:
- Cây sào
phướn trước của chùa ngă !
Ngài A-Nan
liền tỏ ngộ Thiền cơ, nên được tổ Ca-Diếp truyền y bát và ấn chứng
cho làm vị tổ thứ hai. (xem Phật học từ điển, trang 1638 về mục
"Ca-Diếp can sát").
Từ Ngài
A-Nan trở về sau, có thêm 26 vị Tổ về Thiền tôn nữa. Cộng cả Ngài
Ca-Diếp và Ngài A-Nan, ở Ấn Độ có cả thảy là 28 vị Tổ, thứ lớp tuần
tự như sau:
1 .- Tổ Ma
Ha Ca Diếp
2. Tổ
A-Nan
3. Tổ
Thương-Na Ḥa-Thứ
4. Tổ
Ưu-Ba Cúc Đa
5. Tổ
Đề-Đa-Ca
6. Tổ Di Giá Ca
7. Tổ Bà Tu Mật
8 Tổ Phật
Đà Nan Đề
9 Tổ Phục
Đà Mật Đa
10 Tổ Hiếp
Tôn Giả
11 Tổ Phú
Na Giạ Xa
12 Tổ Mă
Minh
13 Tổ Ca
Tỳ Ma La
14 Tổ Long
Thọ
15 Tổ Ca
Na Đề Bà
16 Tổ La
Hầu Na Đa
17 Tổ Tăng
Già Nan Đề
18 Tổ Già
Đa Xá Đa
19 Tổ Cưu
Ma La Đa
20 Tổ Xà
Giạ Đa
21 Tổ Bà
Tu Bàn Đầu
22 Tổ Ma
Noa La
23 Tổ Hạc
Lặc Na
24 Tổ Sư
Tử
25 Tổ Bà
Xá Tư Đa
26 Tổ Bát
Như Mật Đa
27 Tổ Bát
Nhă Đa La
28 Tổ Bồ
Đề Đạt Ma.
(Theo
truyện Phú Pháp Tạng Nhơn duyên)
Hai mươi
tám vị tổ này được làm rực rỡ cho Phật Giáo ở Ấn Độ, chứ không cho
riêng ǵ Thiền Tôn Phật Giáo sau này được lan rộng trên toàn cầu,
một phần lớn do công đức của 28 vị Tổ này. Ngày nay khi nhắc đến
những tên như Ma Ha Ca Diếp, A Nan, Hiếp Tôn Giả, Mă Minh, Long Thọ,
không một Phật tử nào là không biết đến. Và sự kiện này chứng tỏ
rằng phần lớn các vị Tổ có tiếng tăm đều ở trong Phật Thiền Tôn.
Sự
nhận xét này không những được chứng minh ở Ấn Độ, mà cả đến Trung
Hoa, Nhật-Bản và đến Việt-Nam nữa.
2.-Sự Truyền
Thừa Thiền Tông Ở Trung Hoa
1.- Ngài
Bồ Đề Đạt Ma, sơ Tổ của Thiền Tôn ở Trung Hoa.
Sau khi
Ngài Bát Nhă Đa La, vị Tổ 27 của Thiền Tôn ở
Ấn-Độ, ấn chứng cho
làm tổ thứ 28, Ngài Bồ Đề Đạt Ma ở lại Ấn Độ ít lâu, rồi vâng lời
phú chúc của sư phụ, Ngài sang Trung Hoa truyền đạo.
Ngài sang
Trung Hoa nhằm vào đời vua Lương Vơ Đế (528 dl.) trị v́, Ngài đến
yết kiến vua và hy vọng rằng vua sẽ giúp một tay đắc lực trong việc
truyền bá Phật Giáo ở Trung Hoa. Nhưng nhận thấy căn cơ của vua c̣n
thấp thỏi và tín ngưỡng của vua chỉ có tánh cách h́nh thức bề ngoài,
nên tổ Đạt Ma được giả từ vua đến tu tại chùa Thiếu Lâm, ở Trung Sơn
(đất Ngụy). Ngài ngồi xây mặt vào tường, tham thiên nhập định trong
chín năm, đợi thời cơ thuận tiện để truyền đạo (xem quyển tổ Đạt
Ma, do Hương Đạo xuất bản). Chính lối tham thiền này mà đời sau có
tên là ''Đạt Ma tổ sư thiền ''. trong thời gian chín năm, Ngài tham
thiền ở Thiếu Lâm, có nhiều vị tu sĩ nghe danh Ngài , đến cầu đạo,
nhưng Ngài không tiếp một ai. Đó cũng là một phương pháp ḍ xét căn
cơ, tâm tánh của những người đến cầu đạo có thiết tha với đạo hay
không. Trong số những người đến cầu đạo này, chỉ có một vị tỏ ra vô
cùng kiên nhẫn nhiệt thành, dám hy sinh tất cả v́ đạo. Đó là Ngài
Thần Quang mà sau này được tổ Đạt Ma ấn chứng cho làm tổ thứ hai của
Thiền Tôn ở Trung Hoa, và đổi pháp hiệu là Huệ Khả.
Để làm kim
chỉ nam cho người tu thiền đời sau, tổ
Bồ Đề Đạt Ma c̣n truyền lạ bộ
kinh Lăng Già gồm 4 quyển, rất có giá trị.
2.- Ngài
Huệ Khả (Thần Quang) vị tổ Thiền Tôn thứ hai ở Trung Hoa.
Ngài Thần
Quang, nghe danh tổ Đạt Ma đến cầu đạo. Nhưng tổ không tiếp. Ngài
Thần Quang quỳ đợi luôn mấy năm, suốt mấy năm ở ngoài hiên chùa;
nhưng tổ cũng không đoái hoài đến. Cuối cùng, để tỏ ḷng chí
thành tột mức của ḿnh. Lúc bấy giờ tổ Đạt Ma mới xoay lại hỏi:
Ông đến
đây cầu ǵ?
Ngài đáp:
Con cầu
pháp an tâm.
Tổ bảo:
Ông đem
tâm đến đây để ta an cho.
Ngài
thưa:
Con t́m
tâm không được.
Tổ dạy:
Ta đă an
tâm cho ông rồi đó !
Ngài liền
ngộ đạo. Tổ Đạt Ma nói bài kệ sau đây, trong khi truyền pháp cho
Ngài Huệ Khả:
Nguyên
văn:
Ngô bổn
lai tư độ
Truyền
pháp độ mê t́nh
Nhất hoa
khai ngũ diệp
Kết quả tự
nhiên thành.
Dịch
nghĩa:
Ta đến
nước Trung Hoa
Truyền
pháp độ kẻ mê
Một bông
trổ năm cánh
Kết quả tự
nhiên thành.
3.- Ngài
Tăng Xán, vị tổ thứ ba của Thiền ở Trung Hoa.
Ngài Huệ
Khả, sau một thời gian hành đạo, lại ấn chứng cho Ngài Tăng
Xán làm
vị Tổ thứ ba của thiền tôn ở Trung Hoa.
4.- Ngài
Đạo Tín, vị tổ thứ tư của Thiền tổ ở Trung Hoa.
Tổ Tăng
Xán truyền pháp cho Ngài Đạo Tín là vị tổ thứ tư. Sự truyền pháp ại
chia ra làm hai ḍng, do hai ngài sau đây cầm đầu.
Ngài Hoằng
Nhẫn ở núi Đông Sơn, huyện Hùynh Mai.
Ngài Pháp
Dung ở non Ngưu Đầu, cũng gọi là "Ngưu Đâu Thiền".
5.- Ngài
Hoằng Nhẫn,vị tổ thứ năm của Thiền tôn ở Trung Hoa.
Chữ Hoằng
Nhẫn có nghĩa là kiên nhẫn tột độ, chịu đựng lâu dài. Hai chữ này có
thể tóm tắt cho cả một câu chuyện truyền pháp, bao hàm nhiều tính
chất nhẫn nhục sau đây:
Một hôm
Ngài Đạo Tín, vị tổ thứ tư Thiền tôn,thấy một ông già đến cầu đạo,
căn tánh thông lợi,có thể được truyền thọ đạo pháp. Nhưng v́ tuổi
ông đă già, chẳng c̣n sống được lâu nên Tứ tổ dạy:
Ta đă già,
ông đă già ! Nếu truyền pháp cho ông ít ngày ta chết, rồi ông cũng
chết, th́ ai ở lại mà truyền đạo? Vậy nếu ông có thể đi đổi xác, ta
sẽ truyền đạo cho ! Ông già thưa:
Nếu con đi
đổi xác chưa xong, mà lỡ Tổ được tịch trước, th́ làm sao truyền đạo
cho con được?
Đức Tứ tổ
dạy:
Ta sẽ ở
nán lại cỏi đời để chờ ông.
Vâng lời
tổ dạy, ông giá đi ṿng theo ḍng suối, thấy một cô gái gồi giặt bên
bờ. Ông già hỏi:
Cô cho tôi
ngủ nhờ một đêm, có được không?
Cô gái
thưa:
Ông hăy
hỏi cha mẹ cháu.
Ông già
nói tiếp:
Nếu cô
bằng ḷng th́ tôi hỏi sau.
Cô gái trả
lời:
Dạ bằng
ḷng
Được lời,
ông già đi khuất vào rừng rồi bỏ xác.
C̣n cô giá
kia, không có chồng mà từ dó trở nên có mang. Bị cha mẹ đánh đuổi,
cô gái phải bỏ nhà đi ăn xin vất vă, nhẫn chịu không biết bao nhiêu
điều khổ nhục. Sau khi sanh được đứa bé được vài tuổi, cô bồng nó
vào chùa. Đứa bé vừa trông thấy Tứ tổ, mừng rỡ mỡ miệng cười. Tổ
nói:
-Ta đang
trông đợi ngươi đây !
Tổ xin đứa
bé để nuôi và đặt tên là Hoằng Nhẫn. Ngài đặt tên ấy là có ư rằng:
Tổ đă nhẫn đợi, chưa chết để chờ truyền đạo, và bà mẹ đă chịu bao sự
nhục nhă, oan ức, khổ sở để sanh đứa bé.
Tổ Đạo Tín
nuôi đứa bé cho đến khi khôn lớn rôi truyền pháp cho. Ngài Hoằng
Nhẫn tức là vị tổ thứ năm của Thiền Tôn. sau khi truyền đạo xong, tứ
tổ Đạo Tín mới viên tịch (xem Quy Nguyên Trực Chỉ âm nghĩa).
6.- Ngài
Huệ Năng vị tổ thứ sáu của Thiền Tôn ở Trung Hoa.
Ngài Huệ
Năng lúc nhỏ nhà nghèo, không biết chử, chuyên nghề đốn củi đem bán
lấy tiền về nuôi mẹ già. Một hôm, gánh củi đến bán cho một nhà phú
ông. Trong khi chờ đợi Ngài lắng nghe chủ nhà tụng kinh Kim Cang. Đến
câu ''ưng vô sở trụ nhi sanh ḱ tâm '', Ngài liền ngộ đạo.
Đợi cho
chủ nhà tụng kinh xong, Ngài trầm trồ khên ngợi và hỏi rằng:
Chẳng hay
ông tụng kinh ǵ mà hay quá vậy?
Tôi cũng
mốn thọ tŕ tụng đọc như ông.
Phú ông
mách cho Ngài:
Tại núi
Đông Sơn, huyện Huỳnh Mai có đức Ngủ tổ, thường truyền Phật độ
người, ông nên đến đó mà mà cầu đạo.
- Ngài trả
lời:
Tôi cũng
muốn như thế lắm; ngặt c̣n mẹ già không ai nuôi dưỡng nên không biết
liệu làm sao !
- Phú ông
bảo:
Nếu ông
thật quyết chí xuất gia cầu đạo, th́ hăy về cố gắng đốn củi tật
nhiều, đem đến đây tôi sẽ đổi vàng cho. Ông lấy vàng ấy để lại nuôi
mẹ, rồi đi xuất gia.
- Ngài Huệ
Năng mừng rỡ trở về, ngày đêm cố gắng đốn thật nhiều củi, đem đến
bán cho Phú ông, và sau khi thu xếp việc nhà xong xuôi, Ngài đến
huyện Huỳnh Mai cầu bái yết đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.
- Ngũ tổ
thấy Ngài hỏi:
Ông ở đâu
đến và đến đây để cầu việc ǵ?
- Ngài
đáp:
Con từ
phương Nam đến đây, để cầu làm Phật.
Ngũ tổ
thấy h́nh thù Ngài ḱ dị, nhưng căn tánh lại thông lợi phi thường,
có thể nối Tổ vị sau này. Ngài không muốn trong chúng biết, nên giả
quở to rằng:
Ông là
người mọi rợ phương Nam mà cầu thành Phật làm ǵ?
- Ngài Huệ
Năng trả lời:
Bạch tổ sư
! Thân người tuy có phân chia kẻ Nam người Bắc, chứ Phật tánh vẫn
b́nh đẳng, không phân biệt Nam, Bắc.
Ngũ tổ sợ
trong công chúng để ư, lộ bí mật nên chẳng hỏi han ǵ nữa, mà truyền
cho Ngài xuống nhà trù công giă gạo
Trải qua
một thời gian lâu, một hôm Ngũ tổ thấy ḿnh đă già, muốn chọn
người truyền Tổ vị, nên tuyên bố rằng:
Nếu ai làm
kệ dâng lên, được tỏ ngộ thiền cơ, th́ sẽ ấn chứng và truyền pháp
cho làm Tổ thứ sáu.
Tin này
được truyền ra rất mau chóng.
Trong
chúng mọi người đều nô nức, xôn xao bàn tán:
Trong
chúng chỉ có Thưởng tọa Thần Tú là thông minh, học nhiều và tài giỏi
hơn hết, chắc thế nào Thượng tọa củng được truyền tổ vị.
Nhưng
Thượng tọa Thần Tú lại không dám tin chắc ḿnh sẽ được cái may mắn
ấy, nên không dám trực tiếp đem dâng bài kệ của ḿnh cho Ngủ Tổ.
Thượng tọa đợi đêm khuya thanh vắng, trong chúng đều ngủ cả, mới cầm
đèn hồi hợp đến viết một bài kệ trên vách phía đông lang và không
dám kư tên. Thượng tọa Thần Tú nghĩ thầm: "Nếu nhờ công phu tu hành
bấy lâu mà bài kệ này được trúng ư Tổ, th́ đây là một diễm phúc lớn
lao vô cùng cho ta. Lúc bấy giờ ta sẽ ra bái nhận, bằng không th́ ta
sẽ làm thinh như không ai biết".
Nguyên
văn:
Thân thị
Bồ-Đề thọ
Tâm như
minh cảnh đài
Thời thời
thường phất thức
Dật sử nhá
trần ai.
Dịch
nghĩa:
Thân là
cây Bồ-Đề
Tâm như
đài gương sáng
Thường
ngày hằng quét lau
Chớ cho
dính bụi trần.
Sáng
nay, tăng chúng qua lại thấy bài kệ xuất hiểntên vách đông lang, ai
nấy đều trầm trồ kính phục:
-Đây rồi!
Kế tổ vị đây rồi! Nếu không phải Thượng tọa Thần Tú th́ c̣n ai
nữa! Nghe tăng chúng trầm trồ khen ngợi, nô nức kéo nhau đến xem bài
kệ, Ngài Huệ Năng củng từ nhà trù theo chúng lên xem. Sau khi xem xong
bài kệ,Ngài Huệ Năng nói:- C̣n đứng ngoài cửa rào.
Kẻ qua
người lại nghe Ngài nói thế, bĩu môi khinh bỉ:
-Đă dốt
nát không biết một chữ thế kia, mà dám chê là c̣n đứng ngoài cửa
rào!
Ngài Huệ
Năng ôn tồn bảo:
-Tôi củng
có một bài kệ, xin các Ngài viết lên vách giùm tôi, v́ tôi không
biết chữ.
Một người
liền hoan hỷ viết hộ. Huệ Năng đọc bài kệ sau đây:
Nguyên
văn:
Bồ-Đề bổn
vô thọ
Tâm phi
minh cảnh đài
Bổn lai vô
nhứt vật
Hà xứ nhá
trần ai?
Dịch
nghĩa:
Bồ-Đề vốn
không cây
Tâm không
phải đài gương
Xưa nay
không một vật
Chỗ nào
dính bụi trần?
Nghe xong
bài kệ, mọi người dều kinh ngạc: Không ngờ một người dốt nát như
thế mà lại làm được bài kệ xuất sắc thâm diệu như thế?
Ngủ Tổ
thấy trong chúng xôn xao bàn tán, muốn đánh tan dư luấn
có thể nguy
hại cho Ngài Huệ Năng, nên bảo trong chúng truyền đọc bài kệ của
Thượng tọa Thần Tú, mà bôi bỏ bài kệ của Ngài Huệ Năng.
Một buổi
chiều, Ngủ Tổ một ḿnh đi xuống nhà trù, đến chỗ Ngài Huệ Năng giă
gạo và hỏi rằng:
- Gạo đă
trắng chưa? (mật ư hỏi: Đạo đă ngộ chưa? )
Ngài Huệ
Năng đáp:
-Bạch Tổ,
gạo con giả đă trắng rồi mà c̣n thiếu người sàng (mật ư Ngài muốn
nói: Đạo con đă ngộ rồi mà c̣n thiếu người truyền).
Ngũ Tổ
nghe xong, lấy cây gậy gơ lên dầu chày ba cái rồi đi lên (Ngủ Tổ
bảo Huệ Năng canh ba vào pḥng). Ngài Huệ Năng vào pḥng Ngủ tổ.
Ngài được Ngủ Tổ ấn chứng và truyền y bát cho Ngài làm tỏ thứ sáu,
và dạy Ngài phải đi về phương nam ngay đêm hôm ấy, để hoằng hóa đạo
pháp (Xem quyển Lục Tổ Huệ Năng).
Từ đó,
Ngài Lục Tổ Huệ Năng truyền pháp ở phương Nam, c̣n Ngài Thần Tú th́
truyền pháp ở phương Bắc. Phương Bắc chủ trương về Tiệm tu, nên gọ
là "Nam đốn, Bắc tiệm" hay" Nam Năng Bắc Tú".
Sau đây là
bản lược đồ về sáu vị tỏ thiền tôn ở Trung Hoa:
Sơ tổ :
Ngài Bồ-Đề Đạt -Ma
Nhị tổ :
Ngài Huệ -Khả (Thần Quang)
Tam tổ
:Ngài Tăng- Xán
Tứ tổ
:Ngài Đạo Tín
Ngũ tổ
:Ngài Hoằng Nhẫn
Ngài Ngưu
Đầu thiền Sư
Lục tổ
:Ngài Huệ Năng
Ngài Thần
Tú.
Từ Ngài
lục tổ Huệ Năng về sau, không c̣n cái lệ truyền y bát nữa, và các tổ
không c̣n ấn chứng riêng cho một vị nào. Do đó trong Thiền thiền Tôn
không c̣n truyền thống duy nhất nữa, mà lại chia ra làm hai phái và
năm ḍng sau đây:
Hai Phái
Và Năm Ḍng Thiền
Ngài Huệ
Năng từ khi lên làm lục tổ đă truyền pháp cho rất nhiều đệ tử. Trong
số các đệ tử, nỗi tiếng hơn hết là Ngài Hoài Nhượng ở
Nam Nhạc và
Ngài Hành Tú ở Thanh Nguyên (xem Pháp Bảo Đàn Kinh). Hai Ngài này là
mở đầu cho hai phái Thiền Tôn là phái Nam nhạc và phái Thanh Nguyên.
Phái Nam
nhạc về sau lại chia làm hai ḍng là: Lâm tế và Quy ngưởng.
Phái Thanh
Nguyên lại chia làm ba ḍng là: Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhăn.
Sau đây là
lược đồ của hai phái và năm ḍng Thiền Tôn ở Trung Hoa.
I.-Ngài
Hoài Nhượng (Ở Nam nhạc)
1.-Lâm tế
2.-Quy
Ngưởng
II.-Ngài
Hành Tú (Ở Thanh Nguyên) 3.-Tào Động
4.-Vân
Môn
5.-Pháp
Môn
1.-Ḍng
Lâm Tế:
a)Sự
truyền thừa của ḍng Lâm Tế, tuần tự như sau:
-Hoài
Nhượng Thiền Sư
-Đạo Nhứt
Thiền Sư(họ Mă, tục gọi là Mă Tổ)
-Bách
Trượng Thiền Sư(Hoài Hải)
-Huỳnh
Nghiệt Thiền Sư (Hỳ Vân)- Lâm Tế Nghĩa Huyền.
b.-Sự
truyền pháp (thiền cơ) của tôn Lâm Tế:
Như chúng
tôi đă nói ở phần đầu của tập sách này, sự truyền pháp của phái
Thiền Tôn khó mà hiểu được, đối với người thường. Chẳng hạn như
trong phái Lâm tế, sự truyền pháp chỉ dùng thiền trượng đánh và hét
to lên, mà làm cho thiền giả được ngộ đạo. Cái lối khai ngộ này khởi
đầu từ Ngài Huỳnh Nghiệt Thiền-sư: Để cầu
giác ngộ, một hôm Ngài Lâm tế hỏi Huỳnh Nghiệt:
-Sao gọi
là đại ư Phật pháp?
Ngài Huỳnh
Nghiệt liền lấy thiền trượng (gậy hoặc roi) đánh Ngài Lâm tế một
cái. Ba lần Ngài Lâm Tế hỏi, th́ ba lần được dánh như thế.
Ngài Lâm Tế lấy làm bối
rối, không hiểu ư nghĩa làm sao, nên đến tham học với Ngài Đại Ngu
Thiền sư, nhờ thế Ngài Lâm Tế mới ngô được tôn chỉ của
Ngài Huỳnh Nghiệt.
Từ đó về
sau, ḍng Lâm Tế mỗi khi khai ngộ cho đệ tử, đều dùng phương pháp
đánh và hét ấy.
Ngài Lâm Tế nói: "Có khi hét một tiếng như bữu kiếm kim cương vương , có khi
hét một tiếng như sư tử giậm chân , có khi hét một tiếng như quơ cây
nơi bóng cỏ, có khi hét một tiếng, không khởi cái dụng của tiếng hét.
"Bởi thế nên người đời gọi là "Lâm
Tế tứ yết "
(bốn tiếng
hét của Lâm Tế).
Ḍng Lâm Tế sau lại chia làm hai nhánh: Dương kỵ và Huỳnh long. Từ đời Tống về
sau, ḍng Lâm Tế rất thạnh hành. Cho đến ngày nay về Thiền tôn trong
các Đại ṭng lâm, phần nhiều là ḍng Lâm Tế.
2.-Ḍng
Quy Ngưỡng: Tổ Bách
Trượng Thiền sư truyền cho Ngài Linh Hựu Thiền sư ở núi Quy sơn đất
Đàm châu. Ngài Linh Hựu truyền cho Ngài Quy Ngưỡng Huệ Tịch.
Ngài Quy
Ngưỡng là một vị Thiền sư đắc đạo, sự mầu nhiệm của Ngài , không ai
có thể lường được, ảnh hưởng của Ngài rất lớn, v́ thế cho nên người
ta lấy tên Ngài để đặt tên cho cả một ḍng Thiền tôn.
Sự truyền đạo
của Ngài củng rất kỳ lạ. Một khi có ai đến hỏi đào th́ Ngài Quy
Ngưỡng chỉ vẽ tướng trâu, hoặc vẽ tướng người , tướng Phật hay chữ
Vạn, mà người được ngộ đạo.
3.-Ḍng
Tào Động: Sự truyền
thừa của tôn này, thứ tự như sau:
Ngài Thanh
Nguyên Thiền Sư
Ngài Hy
Thiên Thiền sư, tức Ngài Thạch Đầu Ḥa Thượng
Ngài Dược
Sơn Thiền Sư
Ngài Vân
Nham Thiền Sư
Ngài Lương
Giới Thiền Sư ở núi Đông Sơn
Ngài Bổn
Tịch Thiền Sư ở núi Tào Sơn
Ngài Vân
Nham Thiền Sư đă dùng pháp Bửu cảnh tam muội, truyền cho Ngài Lương
Giới (Đông Sơn); Ngài Lương Giới cũng dùng pháp này để truyền cho
Ngài Bửu Tịch (Tào Sơn).
4.- Ḍng
Vân-Môn: Sự truyền
thừa của tôn này, thứ tự như sau:
a).Ngài
Thạch-Đầu Thiền sư
b).Ngài
Thiên-Hoàng.
c).Ngài
Long-Đàm.
d).Ngài
Đức-sơn.
đ).Ngài
Tuyết-phong.
e).Ngài
Vân-Uyển Thiền-sư ở đất Thiền-châu, Vân-môn.
Cách
truyền pháp của Ngài Vân-Uyển (Vân-môn) cũng rất kỳ lạ, ít ai hiểu
được nghĩa lư: ai đến hỏi đạo, th́ Ngài chỉ nói một chữ ''Dám''. Nếu
người cầu đạo ngần-ngại không hiểu, th́ Ngài nói thêm chữ ''Di''. V́
Ngài chỉ đáp có một chữ như thế cho người cầu đạo, nên người đời gọi
pháp quán của Ngài là '' Nhứt tự quán '' (Quán sát cái lư trong một
chữ Dám hay chữ Di ''.
5.- Ḍng
Pháp-nhăn : Sự truyền
thừa của tôn này, thứ tự như sau:
a). Ngài
Tuyết-phong Thiền-sư.
b). Ngài
Huyền-sang Thiền-sư.
c). Ngài
Xa-hán Thiền-sư.
d). Ngài
Vân-ích Thiền-sư.
Phương
pháp khai thị cho người đến cầu đạo của Ngài Vân-ích Thiền-sư là
đúng sáu tướng trong kinh Hoa-Nghiêm sau đây:
- Tổng
tướng: Tức là muốn nói đến chơn-như nhứt tâm.
- Biệt
tướng: Tức là các duyên sanh khởi từ chơn-như nhứt tâm.
- Đồng
tướng: Các pháp đều đồng như nhau.
- Dị
tướng: Tùy theo mỗi tướng không b́nh đẳng.
- Thành
tướng: Dựng lập ra cảnh-giới.
- Hoại
tướng: Vị trí không đồng tức là hoại tướng.
Thiền Tông
Ở Việt Nam
Như chúng
ta đă biết, Phật Giáo Việt-Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật Giáo
Trung Hoa. Cho nên, nếu ở Trung Hoa Thiền tôn được thịnh hành truyền
bá, th́ ở Việt-Nam Thiền tôn củng được xem như là một phái chính của
đạo Phật. Đấy cũng là một lẽ dĩ nhiên, không có ǵ là khó hiểu.
Phật giáo
truyền vào Việt-Nam từ thế kỷ thứ II tây lịch, do các vị danh Tăng
người Ấn Độ và Trung Hoa, như các Ngài Ma-Ha-Ha-Kỳ Vực, Ngài
Khương-Tăng-Hội (người Ấn Độ ), Ngài Mâu-Bác (người Trung Hoa). Trong
thời gian xa xưa này, chúng ta không thể biết được các vị này thuộc
tôn phái nào, và truyền vào Việt-Nam giáo lư ǵ. Nhưng chúng ta có
thể biết chắc là không phải phái Thiền tôn, v́ Thiền tôn ở Việt-Nam
là do từ Trung Hoa truyền sang. Mà Thiền tôn ở Trung Hoa th́ phải đợi
đến đầu thế kỷ thứ VI, dưới đời Lương-Vơ-Đế (528), tổ Bồ-Đề -Đạt-Ma
mới đưa vào. vậy th́ nhất định là Thiền tôn ở Việt-Nam chỉ có thể
xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ VI Tây lịch. Sự phỏng đoán này đă được
lịch sử truyền giáo ở Việt-Nam chứng minh. Vào năm 580 (cuối thế kỷ
thứ VI), Ngài Tỳ-Nhiều-Đa-Lưu-Chi, lần đầu tiên truyền thiền tôn
vào Việt-Nam , và là vị sơ tổ về Thiền tôn Việt-Nam . sau Ngài
Tỳ-Nhiều-Lưu-chi củng có nhiều vị danh tăng khác đem truyền Thiền tôn
vào Việt-Nam , và nhờ đó, Việt-Nam cũng có nhiều môn phái Thiền tôn
như ở Trung Hoa. Một điều đặc biệt, đáng hănh diện cho Phật tử
Việt-Nam là ngoài những phái Thiền tôn ở Trung Hoa truyền sang, ngay
ở nước ta, cũng có một phái Thiền tôn do một vị vua sáng lập, đó là
phái Trúc Lâm mà vị sơ tổ là vua Trần Nhân Tôn.
Dưới đây,
chúng ta tuần tự nói về các môn phái Thiền tôn ấy:
1.-Phái
Tỳ-Nhiều-Đa-Lưu-Chi:
a) Vị Sơ
tổ Thiền tôn ở Việt-Nam .
Ngài
Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, người Ấn Độ là đệ tử Ngài Tăng-Xán (Tam tổ thiền
tôn).
Lần đầu
tiên gặp tổ Tăng Xán ở núi Tư Không, thấy phong mạo của tổ khác
thường, Ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi sanh ḷng kính phục, chắp tay đảnh lễ.
Ngài đănh lễ ba lần mà tổ vẫn ngồi lim dim đôi ắt chứ không nói ǵ
hết (thiền cơ) .Ngài đứng yên nghĩ ngợi một hồi, bỗng thấy trong
người đổi khác, như tỏ ngộ được điều ǵ. Ngài liền sụp xuống lạy ba
lạy.Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái mà thôi (thiền cơ). Sau buổi gặp gỡ
đầu tiên ấy, Ngài trở thành một trong những đệ tử
xuất sắc nhất của
tổ Tăng Xán.
Về sau, Tổ
dạy Ngài sang phương nam để truyền đaọ, Ngài vâng lệnh sang Việt-Nam
vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI, trụ tŕ tại chùa Pháp vân ở tỉnh Hà
Đông.
Khi sắp
thị tịch, Ngài gọi đệ tử là Ngài Pháp Hiển vào pḥng phú chúc rằng:
"Tâm ấn
của Phật , không có thể mập mờ được, Tâm ấn viên măn như thái hư
không thừa, không thiếu, không đến, không đi, không được, không mất,
không phải đông nhất, cũng không phải sai biệt, không thường cũng
không đoạn, không sanh cũng không diệt, không xa
cách cũng không phải
không xa cách. Chỉ v́ đối với vọng nên giả đặt ra tên ấy (Tâm ấn) mà
thôi".
Chư Phật
trong ba đời do đó (tâm-ấn) mà được đạo. Lịch đại Tổ-sư cũng do đó
mà chứng ngộ. Ta đây cũng vậy, mà ông cũng thế, cho đến các loại hữu
t́nh vô t́nh cũng đều như thế cả.
Khi đệ tam
Tổ Tăng-Xán ấn chứng ''tâm-ấn'' cho ta, đă bảo rằng: ''Ông nên sang
phương Nam hoằng đạo, chớ ở đây làm ǵ''.
Do đó, ta
đi trải qua bao nhiêu chỗ mới đến đây. Ta nay được gặp ông, thật
đúng như lời huyền-kư ấy. Vậy ông nên nhớ kỹ lời ta.
Giờ đây
nhằm lúc ta đi rồi !''
Dạy xong,
Tổ Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi chắp tay ngồi yên lặng mà tịch diệt. Đệ-tử
trà-tỳ (thiêu) rồi thu xá lợi, xây tháp để thờ.
Về sau,
vua Lư-Thái-Tôn có bài kệ truy-tán Ngài như sau:
Nguyên
văn:
Sáng tự
lai Nam Quốc
Văn quân
cữu tập thiền
Ưng khai
chi Phật tín
Viễn hợp
nhất tâm nguyên
Hạo hạo
Lăng-già nguyệt
Phân phân
Bát-nhă liên
Hà thời
hạnh tương kiến
Tương dữ
thoại trùng thuyền.
Dịch
nghĩa:
Mở lối qua
người Việt
Nghe Ngài
thông đạo thiền
Nguồn tâm
thông một mạch
Cơi Phật
rộng quanh miền
Lăng-già
ngời bóng nguyệt
Bát-nhă
nứt mùi sen
Biết bao
giờ được gặp
Đàm-đạo lẽ
thâm-huyền.
b). Ngài
Pháp-hiển Thiền-sư, vị Tổ thừ hai của Thiền-tôn Việt-Nam:
Sau khi Tổ
Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi tịch, Ngài Pháp-Hiển là vị Tổ thứ hai của phái
Thiền-tôn Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi. Ngài họ Đỗ, quê ở Quận Chu-diên (Sơn tây
bây giờ). Khi tới chùa Pháp-Vân, Tổ Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi thấy Ngài, th́
nh́n kỹ vào mặt và hỏi:
- Chú họ
ǵ?
Ngài
Pháp-hiển hỏi lại:
-Ḥa-thượng họ ǵ?
Tổ lại
hỏi:
-Chú không
có họ à?
Ngài tră
lời:
-Sao lại
không có! Nhưng đố Ḥa-thượng biết?
Tổ quát
lên:
-Biết để
làm ǵ?
Ngài
Pháp-Hiển chợt ngộ ư Tổ Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi (thiền cơ) liền sụp xuống
lạy, xin theo làm đệ-tử và sau được truyền tâm-ấn.
Được ít
lâu, sau khi Tổ tịch, Ngài vào núi Từ-sơn tu thiền-định, những loại
cầm thú thường quấn quưt chung-quanh. Người đời thấy thế càng lấy
làm lạ và kính mộ. Đệ-tử t́m đến học đạo rất đông. Thiền-tôn ở trong
thời kỳ này có thể nói là thạnh nhất. Đó cũng nhờ công đức hoằng-hóa
của Ngài Tỳ Ni-Đà-Lưu-Chi và Ngài Pháp-hiển. Về sau trong pháp
nẫy cũng có nhiều vị thiền-sư xuất-sắc như Ngài Pháp-thuận, Vạn-hạnh
.v.v...
2.- Phái
Vô-Ngôn-Thông:
a). Vị
Sư-tổ của Pháp Thiền-tôn thứ hai ở Việt-Nam:
Ngài họ
Tịnh, quê ở Quảng-châu, xuất gia ở chùa Song-Lâm (Triết-giang bây
giờ). Tính Ngài điềm đạm ít nói, nhưng sự lư ǵ cũng thông hiểu, nên
người đời đặt danh hiệu Ngài là Vô Ngôn Thông. Ngài là đệ tử của
Bách Trượng thiền sư (đệ tử của Mă Tổ).
Khi Ngài
mới đến yết kiến Bách Trượng Thiền sư gặp lúc thiền sư đang dạy
chúng tăng học. Một vị tăng hỏi Bách Trượng thiền sư rằng:
Thế nào là
pháp môn đốn ngộ của phái Đại-thừa?
Bách
Trượng thiền sư dạy rằng:
-Tâm địa
nhược thông, huệ nhật tự chiếu (nêu tâm địa được thông th́ mặt trời
huệ tự nhiên chiếu sáng).
Nghe được
câu ấy, tự nhiên Ngài Vô Ngôn Thông ngộ đạo. Năm 820, Ngài qua
Việt-Nam tu tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng (Bắc Ninh), Ngài ngồi vây
mặt vào vách trọn ngày tham thiền nhập định. Ngài tu như thế mấy năm
không ai biết, chỉ trừ vị sư ở chùa ấy là Cảm Thành thiền sư, biết
Ngài là bậc cao tăng trong Phật Thiền tôn, nên tôn thờ Ngài làm
Thầy.
Trước khi
tịchn gọi Cảm Thành thiền sư mà bảo:
-Ngày xưa
tổ sư Nam Nhạc, khi sắp tịch có dặn lại bài kệ rằng:
Nhất thế
chư pháp, giai tùng tâm sanh
Tâm vô sở
sanh, pháp vô sở trú
Nhược đạt
tâm địa, sở trú vô ngại
Phi ngộ
thượng căn, thận vật kinh hứa.
Nghĩa là:
Hết thải các pháp, đều tự tâm sanh; tâm nếu không sanh, pháp không
chổ trú. Nếu hiểu được vấn đề ấy th́ làm việc ǵ cũng không trở
ngại, cái tâm pháp ấy nếu không gặp được bậc tâm căn, chớ nên truyền
bậy.''
''Đó là
lời dặn của người xưa nay ta cũng dặn lại câu ấy''.
Nói xong
Ngài chắp tay mà tịch.
b) Vị Nhị
tổ của phái Vô Ngôn Thông: Cảm Thành
thiền sư: Thiền sư quê ở huyện Tiên Du (Bắc Ninh) trụ tŕ tại chùa
Kiến Sơn (Bắc Ninh).
Khi Ngài
Vô Ngôn Thông vân du qua đấy, thấy Ngài có đủ tư cách để truyền mối
đạo, nên ở lại. Và Ngài Cảm Thành cũng nhận thấy ở Ngài Vô Ngôn
Thông một vị thiền sư đắc đạo, nên tôn làm thầy, sớm tối hầu hạ
không hề trễ nải. Hai thầy tṛ rất mến nhau, do đó Ngài Vô Ngôn
Thông mới đặt cho Ngài đạo hiệu là Ngài Cảm Thành thật xứng đáng là
người nối chí của Ngài Vô Ngôn Thông. Một hôm có đệ tử hỏi Ngài :
-Thế nào
là Phật?
Ngài trả
lời:
-Chổ nào
cũng là Phật cả.
Vị đệ tử
lại hỏi:
-Thế nào
là tâm của Phật?
Ngài trả
lời:
-Không hề
che đậy chổ nào.
Đây cũng
là một câu chuyện nhỏ, nhưng nói lên được cái truyền thọ tâm pháp
đặc biệt, tuy giản ước mà bao hàm nhiều ư nghĩa vô cùng.
Ngài Cảm
Thành không bệnh mà tịch, và truyền tâm pháp cho Thiện Hội thiền
sư.
c) Vị tam
tổ của phái Vô Ngôn Thông: Ngài Thiện
Hội thiền sư: Ngài Thiện Hội quê ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Ngài là đệ
tử của Cảm Thành thiền sư, hầu thầy đă hơn 10 năm, một hôm Ngài vào
pḥng hỏi thầy:
Trong kinh
Phật có dạy: ''Đức Thích Ca Như Lai từng tu hành trải vô số kiếp
mới thành Phật, thế mà nay thầy cứ dạy rằng ''tâm tức là Phật, Phật
tức là tâm'' là nghĩa làm sao? Thật đệ tử không hiểu xin thầy dạy rỏ
cho.
Cảm Thành
thiền sư nói:
-Ngươi nói
trong kinh Phật nói thế là ai nói đó?
-Vậy lời
ấy không phải là Phật thuyết sao?
-Lời ấy
phải đâu là Phật thuyết. Kinh Văn Thù Phật có dạy: ''Ta trú ở thế
gian để dạy chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để
nói với ai bao giờ !'' V́ theo chánh đạo, nếu ta lấy văn tự để làm
bằng chứng để cầu đạo, ấy là nệ; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là
mê; ĺa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo; mà cố chấp cái tâm ấy
là Phật, củng lại là ma vậy.
-Nếu bảo
tâm ấy tức là Phật, th́ trong tâm ấy cái ǵ là Phật, cái ǵ không
phải là Phật?
-Ngày xưa
có người hỏi Mă Tổ rằng: ''Nếu bảo tâm ấy tức là Phật, th́ trong
tâm ấy cái ǵ là Phật?'' Mă Tổ trả lời: ''Thế ông ngờ trong tâm ấy,
cái ǵ không phải là Phật, hăy chỉ vào ấy cho ta xem !''. người ấy
không chỉ được . Mă Tổ lại tiếp: '' Đạt được th́ khắp mọi nơi chổ
nào cũng là Phật, mà không đạt được th́ cứ sai lầm đi măi măi''. Thế
là chỉ một lời nói nó che đi, mà thành ra sai lầm đó thôi. Người ta
hiểu chưa?
Ngài Thiện
Hội trả lời:
-Nếu như
vậy đệ tử hiểu rồi.
-Người
hiểu thế nào?
-Đệ tử
hiểu rằng khắp hết mọi nơi, chổ nào củng là tâm Phật cả.
Nói xong
Thiện Hội thiền sư sụp xuống lạy. Ngài Cảm Thành nói:
-Thế là
người hiểu tới nơi rồi đó.
Do sự lănh
hội mau chóng đó ma Ngài Cảm Thành mới đặt cho đệ tử ḿnh đạo hiệu
Thiện Hội, nghĩa là ''khéo hiểu''.
Trên đây
là một vài câu chuyện đến đốn ngộ mà chúng ta thường thấy trong các
vị thuộc phái Thiền tôn.
Sự truyền
pháp từ thầy đến tṛ trong phái Vô Ngôn Thông diễn ra như thế được
15 đời. Đến đời cư sỉ Ứng Thuận(1221) là cuối cùng.
3.- Phái
Thảo Đường: Năm kỷ dậu
(1069) vua Lư Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành về, có bắt được vua nước
ấy là Chế Cũ và rất nhiều thường dân và binh lính. Số binh lính và
thường dân này được phân phát cho các quan trong triều đ́nh để làm
quân hầu. Trong số quan triều có một vị Tăng Lục. Một hôm vị này đi
vắng về thấy bản ''Ngữ lục''của ḿnh bị một tù binh sữa chưa lại cả.
Hỏi ra th́ mới biết đó là một vị thiền sư người Trung Hoa, theo thầy
qua Chiêm Thành, chẳng may bị bắt làm tù binh. Vị thiền sư ấy là
Ngài Thảo Đường, đệ tử của Ngài Tuyết Đậu Minh Giác ở Trung Hoa.
Khi biết
tung tích của Thảo Đường thiền sư, vua Thánh Tôn liền sắc phong cho
Ngài làm Quốc sư. Ngài Thảo Đường lập đàn khai giảng ở chùa Khai
Quốc trong thành Thăng Long. Đệ tử đến học rất đông. Ngài Thảo Đường
lập ra một phái Thiền Tôn thứ ba ở Việt-Nam . Phái Thảo Đường truyền
xuống được năm đời, đắc đạo cả thầy được mười chín vị.
4.- Phái
Trúc Lâm: Đệ nhất tổ
của phái Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tôn (1278-1308). Ngài mộ đạo
khi c̣n nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng Thái tử, Ngài cố nhường
lại cho em nhưng không được, nên trèo thành trốn đi, định vào tu ở
núi Yên Tử. Nhưng Ngài mới đi nữa đường th́ bại lộ tung tích, bị vua
cha sai quan đi bắt về. Ngài phải miễn cưỡng trở về. Sau Ngài lên
làm vua, trở thành một vị anh quân và giử vững nền độc lập nước nhà
trước sự xâm lăng ồ ạt, nhưng vô hiệu quả của quân Nguyên. Sau khi
đuổi được giặc nguyên, Ngài truyền ngôi lại cho con là Anh Tôn, và
vào tu ở núi Yên Tử, thực hiện chí nguyện thuở thiếu thời của ḿnh.
Ngài lấy hiệu là ''Hương Vân Đại Đầu Đà '' lập trường giảng pháp,
môn đồ t́m đến tu học kể có hàng vạn người. Ngài thường đi khắp nơi
để giảng đạo và phát thuốc. Ngài tịch một cách
rất b́nh tĩnh vào lúc
51 tuổi.
Trong các
phái Thiền tôn ở Việt-Nam, chỉ có phái Trúc Lâm là phát tích tại đất
nước Việt. Trong phái này, cũng có nhiều vị thiền sư có tiếng tăm
như Ngài Pháp Loa tôn sư, Ngài Huyền Quang tôn sư ...
5.- Phái
Lâm Tế:
Phái Lâm
Tế do Ngài Nguyên Thiều khai sáng tại Trung Việt. Ngài họ Tạ, quê ở
Quảng Châu (Trung Hoa). Ngài đi theo tàu buôn qua An Nam, trú ở phủ
Qui Ninh (B́nh Định) lập chùa Thập Tháp Di Đà, Mở trường dạy học.
Sau Ngài ra thuận hóa lập chùa Hà Trung, rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập
chùa Quốc Ân và dựng tháp Phổ Đồng.
Sau Ngài
phụng mạng đức Anh Tôn (Nguyễn Phúc Tráng 1687-1691) trở về Trung
Quốc, t́m mời các vị danh tăng và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí.
Ngài về Quảng Đông mời được Ḥa Thượng Thạch Liêm và các danh tăng
khác, cùng thỉnh được nhiều kinh điển, tượng, pháp khí trở về Nam.
Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới rất long trọng tại chùa
Thiên Mụ. Sau đó, chúa Nguyễn sắc ban Ngài chức trụ tŕ chùa Hà
Trung.
Năm Bảo
Thái thứ 10 nhà Lê, Ngài tịch tại chùa Hà Trung, sau khi dặn ḍ đệ
tử và truyền bài kệ sau đây:
Tịch tịch,
kính vô ảnh
Minh minh,
châu bát dụng
Đường
đường,vật phi vật
Liểu liểu,
không vật không
Đại ư: Thể
pháp thân thanh tịnh sáng suốt như mănh gương sạch không bụi, như
ngọc minh châu, trong sáng bóng ngời. Tuy hiện tiền sự sự, vật vật
sai khác, nhưng đều là thể pháp thân biểu hiện. Thể pháp thân thường
vắng lặng mà không phải là không, tức là lư ''chân không diệu
hữu''.
Xét
trong ''Lịch truyền tổ đồ'' th́ Ngài đứng về đời 69, xét về chánh
thống phái Lâm Tế th́ Ngài đứng về đời 33, c̣n xét riêng về phái Lâm
Tế ở Trung Việt, th́ Ngài là sơ tổ.
6.- Phái
Liễu Quán:
Phái
Liểu-quán xuất phát từ Liểu-Quán Ḥa-Thượng. Ngài Liểu-quán quê ở
Phú-yên (Song-cầu). Ngài ra Thuận Hóa thọ giới Sa-Di với Ngài
Thạch-Liêm Ḥa-Thượng. Năm 1702, Ngài đến Long-Sơn cầu học pháp
tham-thiền với Ngài Tử-Dung Ḥa-Thượng (Tổ khai sơn chùa Từ Đàm Huế,
người Trung Hoa).
Tổ Tử-Dung
dạy Ngài tham-cứu câu: ''Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ '', (muôn
pháp về một, một pháp về đâu?) .Ngài tham cứu mấy năm, đến khi xem
bộ Truyền-Đăng-Lục, thấy có câu: ''Chỉ vật truyền tâm, nhơn bất hội
xứ ''. Ngài liền tỏ ngộ. Năm 1742, cuối mùa thu, Ngài thọ bịnh.
Trước khi lâm chung, Ngài gọi môn đồ đến dạy rằng: ''Nhơn duyên đă
hết, ta sắp chết đây ''.
Thấy môn
đệ khóc, Ngài dạy rằng: ''Các người khóc làm ǵ?
Các Đức-Phật ra
đời c̣n nhập niết-bàn. Ta nay đi đến rỏ ràng, về có chổ. Các người
không nên khóc và đừng buồn thảm"
Rồi Ngài
viết bài kệ từ biệt sau đây :
Nguyên
văn:
Thất thập
dư niên thế-giới trung
Không
không, sắc sắc diệu dung thông
Kim triêu
nguyệt măn, hoàn gia lư
Hà tất bôn
ba vấn tổ tông.
Dịch
nghĩa:
Ngoài bảy
mươi năm trong thế-giới
Không
không, sắc sắc thảy dung thông
Ngày nay
nguyện măn về nơi củ
Hà phải ân
cần hỏi tổ tông.
Viết xong,
Ngài bảo môn đồ:
Sau khi ta
đi, các ngươi phải nghĩ cơn vô-thường nhanh chóng, cần phải siêng
năng tu học. Các người hăy cố gắng tới chớ bỏ qua lời ta.
Ngài tịch
vào ngày 22 tháng 11 năm Nhâm-Tuất (1742) vào giờ Mùi, sau khi dùng
nước trà xong và vui vẻ từ biệt môn đồ.
Đến đây
chúng ta cũng nên nhận định cho rơ ràng điễm này: Như tôi nói ở đoạn
trước, Thiên-Tôn do người Việt sáng lập chỉ có một Phái duy nhất do
vua Trần-Nhân-Tôn làm Sơ-tổ là phái Trúc-Lâm Yên-Tử. Nhưng đến nay,
chúng ta lại thấy xuất phát một phái nữa là phái Liểu-quán, do Ngài
Liểu-quán một danh tăng Việt-Nam chủ xướng, như vậy có mâu thuẩn với
sự nhận xét ở trên không? Thật ra, so với các phái Thiền-Tôn khác ở
Việt-Nam, th́ phái Liểu-quán chỉ một phái nhỏ, chỉ nằm trong phạm vi
mấy tỉnh miền Trung-Việt.
Vả lại,
Ngài Liểu-quán cũng là đệ-tử của Ngài Tử-Dung, một vị sư Trung Hoa
thuộc phái Lâm-Tế. Do đó, phái Liểu-quán, nếu chúng ta đi t́m nguồn
góc xa hơn một chút nữa, th́ cũng chỉ là một chi nhánh của phái
Lâm-tế mà thôi.
Các Kinh
Sách Nói Về Thiền
Khi kinh
sách nói về Thiền không thể kể xiết được. Tuy thế, đễ quư độc-giả
khỏi bỡ-ngỡ trong khi nghiên cứu, học hỏi, chúng tôi xin dẫn một số
sách thiết yếu sau đây:
1.-Kinh
Lăng-già
2.-Kinh
Lăng-Nghiêm
3.-Kinh
Viên-Giác
4.-Kinh
Pháp-Bảo-Đàn
5.-Đại-thừa Chỉ-quán
6.-Tiểu
Chỉ-quán
7.-Đồng môn Chỉ-quán
8.-Kinh
Kim-cang
9.-Truyền-đăng-lục
10.-Thuyền-gia ngữ-lục
11.-Tọa-thiền chỉ nam
12.-Tông-cảnh-lục (của Ngài Tống Diên Thọ Thiền-sư)
13.-Luận Đại-thừa khởi tín (của Bồ Tát Mă-Minh)
14.-Vô-môn-quán (của Tổng Tôn-Thiện Thiền-sư)
15.-Bích-Nha-Lục (của Phật quả Viên-ngộ)
16.-Thung-dung-lục (của Vạn tùng Lăo-nhơn)
17.-Thiền-lâm Vĩnh-gia tập (của Huyền-giác)
18.-Thiền-tôn chỉ nam (của vua Trần-Thái-Tôn) .v.v...
C.- Tổng
Kết các Loại Thiền định
Thiền-Định
có nhiều loại, nhưng tóm lại có thể chia làm hai loại lớn:
Chánh-định và tà-định, hay Phàm-phu thiền và Thánh-nhơn thiền và
Phật Giáo thiền.
Thiền
Ngoại Đạo: Những
người theo lối thiền-định này do tâm niệm không chơn-chánh (phiền-nảo,
tham, sân, si v.v....) làm động cơ thúc đẩy. Họ không nhắm ngay mục
đích dẹp trừ vô-minh phiền-năo, cầu được minh-tâm kiến-tánh, hay
giác-ngộ, giải thoát, mà chỉ nhắm mục đích nhỏ hẹp, thiển cận, như
cầu được thấy những điều huyền diệu, cầu được thần-thông biến-hóa để
đi dạo chơi ở các thé-giới khác, cầu thành tiên để lạc-thú tiêu-dao
ở cảnh tiên, cầu cho thân thể không bệnh hoạn, được trường sinh bất
tử, cầu cho được phép lạ để trị bệnh, để thiên hạ sùng-bái, kính
phục, hoặc để gần gũi nữ sắc, hay cầu tài lợi v.v..
Hảy lắng
nghe lời Tổ Tôn-Mật dạy: ''Người tà kiến chấp trước sai lầm , ưa cơi trên, chán cơi dưới mà tu thiền, đó là ngoại đạo thiền ''.
Thiền Phàm
Phu: Những
người tu theo loại thiền này không có tâm niệm cao thượng, chỉ v́
chán ngán cơi Dục làm ô-trược mà cấu sinh về cơi sắc và Vô-sắc để
hưởng thú vui thanh thoát.
Hăy lắng
nghe Tổ Tôn-Mật phê phán hạng người tu về loại thiền này: ''Người
chán tin nhơn quả, nhưng dùng sự ưa cơi trên chán cơi dưới mà tu
thiền là phàm-phu thiền ''.
Thiền Phật
Giáo: Thiền-định
của Phật Giáo có hai loại: Tiểu-thừa thiền và Đại-thừa thiền.
-Tiểu-thừa
thiền: là những pháp thiền dành cho người có căn tánh Tiểu-thừa.
Người tu phép Thiền-định này chỉ có công-dụng hạn cục, v́ tu pháp
nào th́ chỉ trừ được phiền-năo cũa pháp ấy. Và sự tu luyện ở đây
cũng chỉ tuần tự mà tiến, chứ không thể đốn-ngộ ngay được.
Hơn nữa,
người tu Tiểu-thừa thiền, tuy đă phá ngă-chấp, nhưng c̣n bị
pháp-chấp. Họ không ngộ được rằng: những phương-pháp tu hành đều là
phương tiện để giúp cho họ dẹp trừ vô-minh phiền năo, tiến lên chổ
giác ngộ, chớ không nên cố chấp có nên tu, thật chứng.
- Đại-thừa
thiền: Đây là phương-pháp tu thiền của các vị Bồ Tát, căn tánh mau
lẹ, vượt bưc. Với hạng này, các vị chỉ nghe một câu nói hay chỉ tu
một pháp, cũng có thể liền tỏ ngộ; như Ngài Huệ-Năng, chỉ nghe câu
''Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm '', hay Ngài Ca-Diếp, chỉ thấy
Phật đưa cành hoa sen mà liền tỏ ngộ
Sở dĩ các
vị này mau tỏ ngộ như thế là v́ họ đă trải qua nhiều kiếp tu hành
rồi, sắp được giác ngộ, nay gặp thời cơ, nhân duyên th́ liền
phát-chiếu, như cành hoa đă được vun tưới đủ sức rồi, chỉ chờ thời
tiết là trổ bông.
Hăy nghe
Tổ Tôn-Mật nói về các vị này: ''Người ngộ được lư ngă, pháp đều
không mà tu thiền là Đại-thừa thiền. Người đốn-ngộ tự tâm xưa nay
vốn thanh-tịnh, không có phiền-năo, đầy đủ trí-huệ vô-lậu, tâm ấy
tức là Phật, rốt ráo không khác. Y theo tâm này mà tu thiền là
Tối-thượng thừa thiền, cũng gọi là Chơn-như tam-muội''.
Về
phương-pháp tu chứng và truyền thọ của Đại-thừa thiền có ba cách:
- Cách thứ
nhất: Đây là các loại tam-muội má hành-giả căn cứ theo các kinh sách
Đại-thừa tu luyện, như Pháp-hoa tam-muội, Niệm-Phật tam-muội, Gíác-ư
tam-muội, Thủ-tăng-liêm tam-muội v.v....
- Cách thứ
hai: Lối thiền này không căn cứ theo kinh điển, văn tự, mà chỉ dùng
một câu nói ngắn ngủi để chỉ giáo. Trong Phật Giáo gọi lối thiền này
là: ''Bất luận văn tự, giáo ngoại biệt truyền'' (không dùng văn tự,
truyền ngoài kinh giáo). Thiền-giả chỉ căn cứ theo một câu nói ấy mà
nghiên cứu măi cho đến khi tỏ ngộ. Công việc tham-cứu này, Thiền-giả
có nhiều khi kéo dài hàng chục năm.
- Cách thứ
ba: Với cách này,chúng ta khó có thể suy nghĩ luận bàn ǵ được.
Trong cách này, khi có người đến cầu pháp, các Tổ sư không dùng lời
nói mà chỉ dùng một cử chỉ ǵ đó, hay một tiếng la hét mà thôi.
Như ḍng
Lâm-Tê, khi có người đến cầu đạo, Thiền-sư chỉ dùng gậy đánh và
tiếng hét.
Như ḍng
Quy-ngưỡng, các vị Tổ-sư chỉ vẽ h́nh thú, h́nh người, h́nh chữ Vạn
mà khai ngộ cho đệ-tử .
Như ḍng
Vân-môn, có vị Tổ chỉ nói một chữ, mà làm cho người cầu đạo tỏ ngộ.
Như có
Ngài chỉ đăi nước trà (Ngài Triệu-châu) hay mời ăn cơm, mà người đến
cầu đạo được tỏ ngộ.
Có Ngài
lại ngắm bóng ḿnh dưới nước và cười, khi đi ngang qua cầu, liền ngộ
đạo (hổ khê tam chiếu chí kim truyền), hay nghe chim oanh hót trên
cành liễu, hay lấy gậy đập cục đất cho để tan mà liền tỏ ngộ.
Thật là
thiền-cơ nhiệm-mầu, người ngoài không thê suy nghĩ, bàn luận được.
Muốn cho
người cầu đạo được kết-quả, các vị truyền pháp phải hội đủ ba diều
kiện sau đây:
-Biết căn-cơ người cầu đạo.
-Biết
thời-tiết đúng lúc truyền đạo.
-Biết
phương-pháp nào thích hợp, trong ba phương-pháp nói trên, nếu truyền
bá không hợp cơ, hợp thời, hợp pháp th́ người tu thiền không có
kết-quả.
Trước khi
dừng bút, chúng tôi có một nhận xét sau đây
mà chác quư độc-giả
cũng đồng ư là: Nước ta ngày xưa là một nước chịu ảnh hưởng lớn của
Thiền-tôn, và Thiền-tôn là môn phái rất thịnh hành trong nước. Thế
mà ngày nay, v́ bao cuộc biến thiên của lịch sử, Thiền-tôn không
c̣n được truyền thọ trong các chùa cũng như trong dân chúng một cách
sung-mậu như xưa nữa.
Vậy chúng
tôi hy-vọng rằng, từ đây về sau, nhờ sự giao-thông tiện lợi từ nước
này sang nước khác, nhờ sự trao đổi văn hóa, và nhờ gia tâm tu học
của các Phật-tử Việt-Nam, Thiền-tôn sẽ lấy lại sắc thái sung-mậu ở
Việt-Nam như các thời Lư, Trần.
▲
Trở Lên |