| |
|
BÀI
THỨ NHỨT
CHƯƠNG THỨ NHỨT
PHẦN NHƠN DUYÊN
Nguyên nhơn tạo luận.
Giải thích tên Luận Đại
thừa Khởi Tín.
Nội dung của Luận này.
Ngài Mă minh Bồ Tát tạo
luận:
1.
Lư lịch và tên
2.
Nguyên nhơn
ngộ đạo.
Ngài Chơn Đế dịch luận.
Lời nguyện cầu
NGUYÊN NHÂN TẠO LUẬN NÀY
Trong khoảng 600 năm, sau
khi Phật nhập diệt, tại Ấn độ, phần th́ phái Tiểu thừa nổi lên tranh
chấp, không tin lư Đại thừa, phần th́ ngoại đạo lập các tà thuyết
phá hoại chánh pháp; t́nh trạng Phật giáo rất đen tối.
Ngài Mă Minh Bồ Tát,
trông thấy t́nh trạng ấy rất đau ḷng, nên tạo ra luận này, để xô tà
đỡ chánh: trừ những nghi ngờ của Tiểu thừa, phá các tà thuyết của
ngoại đạo, làm cho người phát khởi ḷng tin Đại thừa.
GIẢI THÍCH TÊN LUẬN ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN
_ Luận. Luận là luận bàn
lẽ tà chánh, quyết đoán điều nghi ngờ và lựa chọn những việc phải
quấy.
_Đại
thừa. Chữ "Đại" là lớn, chữ "Thừa" là cởi. Đọc chữ "Thặng" nghĩa là
cái xe. Theo đây phải đọc là "Thặng" mới đúng, song v́ theo thói
quen nên đọc là "Thừa".
Đại thừa có 5 nghĩa:
1. V́ đối với Tiểu nên
gọi là Đại.
2. Quả Phật rộng lớn,
thừa này sẽ đi đến quả Phật, nên gọi là Đại Thừa.
3. Chư Phật là bực Đại
nhơn, song chẳng rời thừa này, nên gọi là Đại Thừa.
4. Các Bồ Tát là bực Đại
sĩ, đều y theo thừa này mà tu tập, nên gọi là Đại Thừa.
5. V́ thừa này rất rộng
lớn, cứu độ chúng sanh đông nhiều nên gọi là Đại Thừa.
LUẬN NÀY LẤY G̀ LÀM ĐẠI
THỪA?
Luận này lấy tâm chúng
sanh làm Đại thừa. Bởi tâm chúng sanh: Thể nó lớn, Tướng nó to, Dụng
nó đại, bao trùm tất cả các pháp thế gian, và xuất thế gian, nên gọi
là Đại Thừa.
Trọng tâm của luận này là
nói: Thể, Tướng và Dụng của tâm chúng sanh. V́ tâm này là "Tổng
tướng" (Tướng chung) của tất cả thánh phàm, mê ngộ, nhơn quả ...cho
nên trong luận này cũng gọi là "Đại Tổng tướng pháp môn thể".
Tâm này có nghĩa "vận
tải": Các Đức Phật đều nương tâm này mà chứng Bồ Đề, Niết bàn. Bồ
Tát nương tâm này mà rộng tu muôn hạnh: trên cầu quả Phật, dưới hoá
độ chúng sanh. Chúng sanh cũng do tâm này mà trôi lặn trong ḍng
sanh tử luân hồi. V́ thế nên gọi tâm này là Đại thừa.
Do ngộ lư này, nên cổ
nhơn có làm bài kệ:
Dịch âm:
Tam điểm như tinh tượng
Hoành câu tợ nguyệt tà
Phi mao tùng thử đắc
Tổ Phật giả do tha.
Dịch nghĩa
Ba chấm như ngôi sao
Uốn cong tợ trăng tà
Chúng sanh từ đâu có
Chư Phật cũng do đây.
_Khởi tín. Luận này làm
cho người phát khởi ḷng tin Đại thừa, nên gọi là "Đại thừa khởi
tín". Đáng lẽ phải nói: "Khởi Đại thừa tín"; nghĩa là khởi ḷng tin
Đại thừa; song v́ chúng sanh sau khi thấu rơ Đại thừa rồi, mới phát
khởi ḷng khởi tin, nên gọi "Đại thừa khởi tín".
NỘI DUNG CỦA LUẬN NÀY
Ngài
Mă Minh Bồ Tát căn cứ theo kinh Lăng Già, kinh Tư Ích và các kinh
Đại thừa mà tạo ra luận này. Nội dung của luận này là Phát minh lư
Duy tâm hay Duy thức đem về nhứt tâm, vạch rơ nguồn gốc mê ngộ, chỉ
bày đường tắt tu hành, tóm các nghĩa lư sâu rộng của Phật nói, làm
cho người phát khởi ḷng tin Đại thừa.
NGÀI MĂ MINH BỔ TÁT
LƯ
LỊCH VÀ TÊN
Ngài
Mă Minh Bồ Tát, người xứ Ba la nại, phía tây Thiên trúc (Ấn Độ).
Ngài là Tổ thứ 12 ở Thiên trúc, nối ngôi của Tổ thứ 11 là Phú Na Dạ
Xa Tôn giả.
V́ có 3 nguyên nhơn, nên
gọi Ngài là Mă Minh:
1.
Khi Ngài vừa sanh ra, th́ các con ngựa trong xứ ấy đều buồn mà kêu
to lên.
2.
Ngài đờn rất hay, mỗi khi Ngài đờn th́ những con ngựa được nghe
tiếng đờn đều buồn mà kêu lên.
3.
Khi thuyết pháp, các con ngựa nghe đến tiếng Ngài, đều rơi nước mắt
kêu to lên và không ăn. Mặt dù người ta thử bỏ đói chúng vài ba
ngày, rồi đến lúc Ngài thuyết pháp mới bỏ cỏ cho ăn, nhưng chúng
cũng không ăn. Bởi thế nên gọi là Mă Minh (ngựa kêu).
NGUYÊN NHƠN NGÀI NGỘ ĐẠO
Khi gặp Tổ Phú Na Dạ Xa
Tôn giả,
Ngài hỏi: Làm sao biết
Phật?
Tổ đáp: Không biết là
biết Phật.
Ngài hỏi: Không biết làm
sao biết là Phật?
Tổ đáp: Không biết làm
sao biết không phải là Phật.
Ngài nói: Nghĩa của Tổ là
nghĩa cưa.
Tổ nói: Nghĩa của ông là
nghĩa cây.
Tổ hỏi tiếp: Thế nào, ông
nói nghĩa của tôi là nghĩa cưa?
Ngài đáp: V́ Tổ nói qua
nói lại như cưa vậy.
Ngài hỏi tiếp: Thế nào Tổ
nói nghĩa của tôi là nghĩa cây.
Tổ đáp: V́ cây bị cưa
vậy. Thế nghĩa của ông bị tôi phá rồi. Ngài nghe rồi liền ngộ đạo.
Trong kinh Ma ha ma da,
Phật có huyền kư (ghi trước) rằng: "Sau khi Như Lai diệt độ 600 năm,
các ngoại đạo tà thuyết thạnh hành, huỷ diệt Phật pháp. Lúc bấy giờ
có vị Bồ Tát ra đời tên là Mă Minh, nói pháp rất hay, phá trừ tà
thuyết, hàng phục ngoại đạo".
Bởi thế nên biết Ngài Mă
Minh, cũng là một vị Bồ Tát tái lai. Chúng ta nên học luận này, phải
lấy làm hy hữu, gia tâm nghiên cứu, chớ nên xem thường.
NGÀI CHƠN ĐẾ
Luận này có hai nhà dịch:
Ngài Chơn Đế và Ngài Thật Xoa Nan Đà. Bản dịch này là của Ngài Chơn
Đế. Nguyên tiếng Phạn gọi là "Ba La Mạc Đà"; Tàu dịch là "Chơn đế".
Ngài ở nước Ưu thiền ni, phía Tây Ấn Độ.
Ngài qua Tàu nhằm đời vua
Nguyên Đế nhà Lương, niên hiệu Thừa Thánh, năm thứ ba (Mậu th́n).
Ngài ở chùa Kiến Hưng, đất Hoàng Châu, dịch bộ Luận này.
LỜI CẦU NGUYỆN
CHÁNH VĂN
Kính lạy Phật, Pháp và
Tăng, v́ muốn cho chúng sanh bỏ chấp tà, trừ các nghi ngờ, khởi ḷng
tin Đại thừa, để cho giống Phật chẳng mất, nên con tạo ra luận Đại
thừa Khởi tín này.
LƯỢC
GIẢI
Các vị Bồ Tát khi làm
việc ǵ, trước nhứt là để tâm qui kính Tam bảo; cũng như con hướng
về cha, tṛ hướng về thầy, dân chúng hướng về vị lănh tụ của nước;
và nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho việc làm của ḿnh hợp với chánh
pháp và kết quả viên măn.
Đoạn này là Ngài Mă Minh
Bồ Tát trước khi tạo luận, nói bài kệ quy kính Tam bảo và nguyện cầu
Tam bảo gia hộ.
CHƯƠNG THỨ NHỨT
PHẦN NHƠN DUYÊN
CHÁNH VĂN
V́ tám nhân duyên sau đây
nên tạo ra luận này:
1.
V́ muốn cho chúng sanh xa ĺa các khổ, đặng vui rốt ráo nên tạo luận
này, không phải v́ danh lợi ở thế gian, hay cầu người cung kính.
2. V́ muốn cho chúng sanh
hiểu biết chơn chánh, khỏi sự lầm lạc, nên tạo luận này để giải
thích nghĩa căn bản của Như Lai.
3. Muốn cho những chúng
sanh căn lành đă thuần thục (măn Thập tín), ḷng tin chẳng thối lui
và có thể lănh thọ pháp Đại thừa, nên tạo luận này.
4.
Muốn cho những chúng sanh căn lành mỏng ít (chưa măn Thập tín) tu
tập tín tâm.
5.
V́ bảo hộ đạo tâm của những chúng sanh ác nghiệp sâu dày, nên chỉ
bày phương tiện, để chúng tiêu trừ nghiệp chướng xa ĺa các phiền
năo si, mạn ...và ra khỏi lưới tà.
6. V́ muốn đối trị tâm
niệm sai lầm của phàm phu và Nhị thừa, nên chỉ bày cho họ tu tập Chỉ
Quán.
7.
V́ những chúng sanh căn tánh kém cỏi, nên chỉ bày phương tiện chuyên
tâm niệm Phật, sanh về cơi Phật, để cho tín tâm quyết định không
thối chuyển.
8. Chỉ bày lợi ích để
khuyên người tu hành.
Tóm lại, v́ tám nhân
duyên trên, nên tạo ra luận này.
LƯỢC
GIẢI
Luận này chia ra làm 5
phần, đây là phần thứ nhứt, Ngài Mă Minh Bồ Tát v́ tám nhơn duyên
sau đây nên tạo ra luận này:
Nhơn duyên thứ nhứt: Chư
Phật và Bồ Tát khi làm việc ǵ, đều do ḷng từ bi, muốn cho chúng
sanh khỏi khổ được vui. Tất cả chúng sanh v́ mê bản tâm của ḿnh mà
thọ các khổ sanh tử, không được vui Niết bàn. Trong luận này, Ngài
Mă Minh Bồ Tát chỉ rơ bản tâm, để cho chúng sanh tự tin ḿnh có bản
tâm thanh tịnh (pháp Đại thừa) là cái khả năng để thành Phật. Khi
chúng sanh đă ngộ được bản tâm của ḿnh rồi, th́ sẽ hết khổ sanh tử,
được vui Niết bàn. V́ thế nên tạo ra luận này.
Nhơn
duyên thứ hai: Các đức Như Lai đều y nơi "nhứt tâm" tu hành mà được
thành đạo chứng quả. Luận này nói về "nhứt tâm" là nghĩa căn bản của
Như Lai, để cho chúng sanh hiểu biết đường lối tu hành một cách chơn
chánh, khỏi bị lạc vào tà kiến (chấp tà).
Nhơn duyên thứ ba: Luận
chủ muốn cho hàng Thập tín Bồ Tát đối với pháp Đại thừa, ḷng tin
chắc chắn, không bị thối lui, để tiến đến bậc Thập trụ.
Nhơn duyên thứ tư: V́
những vị Bồ Tát chưa viên măn Thập tín, muốn cho họ tu tập tín tâm
được viên măn.
Nhơn
duyên thứ năm: V́ những chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, bị lưới tà
làm chướng ngại, nên tạo ra luận này để chỉ bày phương tiện tu hành,
như tụng kinh, sám hối ...hầu diệt trừ các nghiệp chướng.
Nhơn duyên thứ sáu: V́
đối trị tâm lầm lỗi của phàm phu và Nhị thừa, nên Luận chủ tạo luận
này, dạy tu "Chỉ" để trừ bịnh "Vọng tưởng tán loạn" của phàm phu; và
dạy tu "Quán" để đối trị bịnh "Trầm không thú tịch" (tham luyến cảnh
thiên không Niết bàn) của Nhị thừa.
(Quán nhơn duyên sanh, thấy các pháp chẳng không: Thánh, Phàm đủ cả.
Bởi có phàm phu nên phải tu đức đại bi để cứu đời; v́ có Thánh, nên
phải phát trí huệ, để cầu quả Phật).
Nhơn duyên thứ bảy: V́
những người lo sợ đời này tu hành nếu không chứng quả, th́ trở lại
đời sau bị nghịch duyên làm thối chuyển đạo tâm, hoặc không nhớ lại
kiếp trước để tu hành, nên tạo luận này dạy phương tiện niệm Phật,
để họ cầu sanh về cơi Phật, thường được nghe Phật thuyết pháp và Bồ
Tát khuyên tu, làm cho hành giả tín tâm chẳng thối chuyển.
Nhơn duyên thứ tám: V́
những chúng sanh giải đăi, nên Luận chủ nói sự lợi ích tu hành, để
khuyên người tiến tu.
CHÁNH VĂN
Hỏi: _ Pháp Đại thừa,
trong các kinh đă nói nhiều, cần ǵ phải lập trở lại?
Đáp: _ Khi Phật c̣n trụ
thế, v́ ba nghiệp của Ngài đều thù thắng, nên một tiếng của Phật nói
ra (nhứt âm diễn xướng) tuỳ theo căn cơ của mỗi loài đều được hiểu
cả, không cần phải tạo luận. Song sau khi Phật diệt độ, các chúng
sanh tŕnh độ không đồng đều, nhơn duyên lănh thọ giáo pháp cũng như
sự lănh hội của mỗi người có khác nhau: có chúng sanh chỉ tự lực học
hỏi rất nhiều kinh điển mới hiểu ngộ; có chúng sanh cũng dùng tự lực
học ít mà hiểu ngộ nhiều; có chúng sanh không thể tự lực mà phải nhờ
xem các bộ đại luận, mới hiểu ngộ; có chúng sanh v́ thấy các bộ đại
luận rất phiền phức, nên muốn tóm lại văn ít mà thâu nhiều nghĩa. V́
thế nên Luận chủ tạo ra luận này, để tóm tắt giáo pháp quảng đại
thậm thâm và nghĩa lư vô biên của Đức Như Lai.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này, Luận chủ lập
lời vấn đáp, để giải đáp nghi vấn của độc giả.
Đại ư lời hỏi: Pháp Đại
thừa, trong các kinh luận đă nói nhiều, nay cần ǵ phải tạo luận nói
lập trở lại?
Đại ư lời đáp: Khi Phật
c̣n tại thế do phước huệ song toàn, ba nghiệp (thân, khẩu, ư) thù
thắng; và tŕnh độ của chúng sanh thụ giáo cũng được ưu hạng, nên
một lời của Phật nói ra (viên âm), tất cả các loài tuỳ theo tŕnh độ
của ḿnh, đều hiểu được cả. Bởi thế nên không cần phải tạo luận.
Song sau khi Phật nhập diệt, người thay thế Phật truyền giáo không
được như Ngài, phần th́ chúng sanh tŕnh độ không đồng, nhơn duyên
ngộ đạo của mỗi người có khác: Có người nhờ xem kinh mà ngộ đạo, có
người nhờ xem luận mà ngộ đạo, có người ưa nghiên cứu những bộ đại
luận, có người chỉ muốn học những quyển luận, văn ít mà bao hàm rất
nhiều ư nghĩa. V́ muốn tóm tắt các nghĩa lư sâu rộng vô biên của
Phật, nên Ngài Mă Minh Bồ Tát tạo ra luận này.
CHƯƠNG
THỨ HAI
PHẦN ĐỊNH DANH NGHĨA
CHÁNH VĂN
Chương này có hai phần:
A. PHÁP ĐẠI THỪA (Thể Đại
thừa) tức là tâm chúng sanh. Tâm này tóm thâu hết thảy các pháp thế
gian, xuất thế gian và nói lên được nghĩa Đại thừa.
Tại sao vậy? _ V́ tâm này
có hai tướng:
1. Tướng Chơn như tức là
cái Thể của Đại thừa.
2. Tướng nhơn duyên sanh
diệt tức là Thể, Tướng, Dụng của Đại thừa.
B. NGHĨA ĐẠI THỪA: "Đại"
là lớn, lớn cà 3 phương diện:
1. Thể lớn: Chơn như b́nh
đẳng, bất tăng bất giảm. Bản thể của tất cả pháp.
2. Tướng lớn: Như Lai
tạng chứa đầy vô lượng tánh công đức.
3. Dụng lớn: V́ nó sanh
tất cả nhơn quả lành của thế gian và xuất thế gian.
"Thừa" là chiếc xe, tất
cả chư Phật đều đi xe này (pháp Đại thừa); tất cả các vị Bồ Tát cũng
đều đi xe này mà đến chỗ Phật.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này nói về phần lập
nghĩa, tức là xác định cái danh nghĩa Đại thừa. Phần lập nghĩa này
chia làm hai: Pháp Đại thừa và Nghiă Đại thừa.
I. Pháp đại thừa: là tâm
chúng sanh.
Tâm
này có hai tướng:
1. Tướng Chơn như tức là
chỉ riêng về phần thể tánh chơn tâm thanh tịnh; dụ như "tánh trong
sạch" của nước.
2. Tướng nhơn duyên sanh
diệt tức là chỉ chung cho Thể, Tướng và Dụng của chơn vọng hoà hợp;
dụ như tánh "trong sạch" và "tướng nhơ đục" lẫn lộn của nước.
II. Nghĩa đại thừa: Đại
thừa nghĩa là ǵ?
"Đại" là lớn; "Thừa" (thặng) là chiếc xe: chiếc xe lớn.
Tâm
chúng sanh, Thể, Tướng và Dụng đền lớn. Thể th́ bao trùm tất cả
pháp, Tướng th́ chứa đựng hằng sa công đức, c̣n Dụng th́ xuất sanh
tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.
Khế
kinh chép: "Vô bất tùng thử pháp giới lưu, mạc bất hoàn qui thử pháp
giới, (không có một pháp nào chẳng từ tâm này mà lưu xuất, và cũng
không có một pháp nào chẳng trở về tâm này).
Tâm này bao trùm tất cả
các pháp thế gian và xuất thế gian. Các Đức Phật đều nương tâm này
mà được thành đạo. Các vị Bồ tát cũng nương tâm này để đến chỗ Phật.
Chúng sanh cũng do tâm này mà luân hồi trong 6 đường. Tâm này cũng
như chiếc xe lớn chở tất cả người và vật. Bởi thế nên gọi tâm này là
pháp Đại thừa.
Tại sao không nói: "Tâm
Phật" là pháp Đại thừa mà chỉ nói "Tâm chúng sanh", là pháp đại
thừa?_ V́ có hai lư:
1.
Nếu nói "Tâm Phật" th́ chỉ tóm thâu được pháp thanh tịnh vô lậu mà
thôi; c̣n nói "Tâm chúng sanh", lại tóm thâu được cả pháp hữu lậu,
vô lậu, thế gian và xuất thế gian.
2.
Nói Tâm chúng sanh là đứng về
phần "nhơn" mà nói; v́ chưa phải nhiễm hay tịnh, nên mới có thể tuỳ
nhiễm duyên khởi ra nhiễm pháp, tuỳ tịnh duyên khởi ra tịnh pháp.
GIẢI DANH TỪ
Tướng chơn như: Chữ "Chơn"
là chơn thật không hư dối; chữ "Như" là b́nh đẳng như như, không
sanh diệt, nghĩa là tướng chơn thật b́nh đẳng như như không sanh
diệt; tức là "Thật tướng" hay "Chơn tâm" hay "Viên giác" đây
là cái
"Thể của Đại thừa". Đoạn này gọi "Tướng chơn như" tức là ở đoạn văn
sau gọi " Môn chơn như".
Tướng nhơn duyên sanh
diệt: V́ nhơn duyên sanh diệt, nên đủ các tướng: nhiễm, tịnh,
thánh, phàm v.v...Đoạn này gọi "Tướng nhơn duyên sanh diệt" tức là ở
đoạn văn sau gọi "Môn sanh diệt".
Như Lai tạng, có 3 nghĩa:
1. Tánh Như Lai (tánh
Phật) bị các phiền năo phú tàng (che đậy), tức là chỉ cho chơn như
c̣n bị triền phược; như vàng c̣n ở trong khoáng.
2.
Tánh Như
Lai bao trùm tất cả pháp (nghĩa năng tàng)
3. Tánh Như Lai là chỗ
xuất sanh ra vô lương công đức (nghĩa sở tàng).
Tánh công đức: Công đức
sẳn có trong Như Lai tàng. Công đức này không phải do tu tập mà
được; song phải nhờ sự tu tập làm trợ duyên nó mới hiện. Chúng sanh
v́ thiếu sự tu tập làm trợ duyên, nên tánh công đức này không phát
hiện.
Nhơn
quả lành_ Tại sao luận này chỉ nói "nhơn quả lành" mà không nói đến
"nhơn quả ác"?
_ V́ có ba nghĩa:
1.
Nhơn
quả ác là thứ nhiễm ô hư vọng; v́ tâm này chỉ bao trùm vô lượng hằng
sa công đức, nên không hiệp với thứ nhiễm ô hư vọng. Dụ như nước có
cả chất trong và đục; song "chất đục" không hợp với tánh nước, mà "chất
trong" mới hiệp với nước; v́ khi lóng bỏ bùn rối th́ chỉ c̣n chất
nứơc trong. Cũng thế, pháp nhiễm ô không hiệp với tâm này, mà duy có
nhơn quả lành mới hiệp với tâm này.
2.Ngài Mă Minh chỉ nói về
"Nhơn quả lành", là v́ để chúng sanh thấy tâm ḿnh sanh ra các nhơn
quả lành, nên sanh tâm hâm mộ sự tu hành, mong cầu quả Phật.
3. Ngài Mă Minh Bồ Tát đă
lên Thánh vị, nên trong A lại da thức của Ngài chỉ toàn nhơn quả
lành. V́ Ngài chỉ thấy thuần thiện, nên Ngài chỉ nói "nhơn quả lành"
mà không nói đến "nhơn quả ác".
Nhơn quả lành thế gian:
Nhơn quả thuộc về hữu lậu thiện, c̣n quanh quẩn trong ba cơi thế
gian là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Nh ơn
quả lành xuất thế gian: Nhơn quả thuộc về vô lậu thanh tịnh, ra
ngoài tam giới.
▲
Trở Lên
|
|
BÀI THỨ HAI
1. Nói về Tâm Chơn như, có 2 nghĩa:
Thật không (như thật không)
Thật có (như thật bất không)
A. NÓI RƠ NGHĨA CHÁNH
CHÁNH VĂN
Cái tâm này (chúng sanh tâm) có hai phần: I. Tâm chơn
như, II. Tâm sanh diệt. Hai tâm này không rời nhau và
đều bao trùm tất cả pháp.
LƯỢC GIẢI
Chương này giải thích tâm chúng sanh là pháp Đại thừa.
Pháp Đại thừa có hai phần: Chơn như và Sanh diệt. Chơn
như là "Thể" rộng lớn của tâm; Sanh diệt là "Tướng" và "Dụng"
rộng lớn của tâm. Phải phân chia làm hai phương diện như
vậy, mới rơ được Thể, Tướng và Dụng của tâm.
Nếu đứng về "Thể chơn như", th́ suy nghĩ không trúng,
luận bàn chẳng nhầm, ĺa các văn tự, ly tất cả tướng;
như thế làm sao có các pháp sai biệt được. Bởi thế nên
phải nói đến Tướng và Dụng là "môn sanh diệt" mới rơ
được hành tướng sai biệt của "Tâm chúng sinh".
Chơn như là "Thể", c̣n Sanh diệt là "Tướng" và "Dụng".
Tướng và Dụng không rời Thể, Thể không rời Tướng và Dụng;
cũng như nước không rời sóng, sóng không rời nước. Bởi
Thể, Tướng và Dụng không rời nhau, nên mỗi một phần đều
bao hàm được tất cả pháp.
V́ Thể và Dụng không rời nhau, nên đứng về phần Chơn như
mà luận, th́ tuy "thanh tịnh bất biến", mà vẫn tuỳ duyên
sanh diệt; c̣n đứng về phần Sanh diệt mà xem, th́ tuy
"tuỳ duyên sai biệt" mà vẫn nhưnhư bất biến.
***
I. Tâm chơn như
CHÁNH VĂN
Tâm Chơn như là cái tâm tánh bất sanh bất diệt. Thể và
Tướng nó to lớn bao trùm tất cả các pháp (nhứt pháp giới
đại tổng tướng pháp môn thể).
Sở dĩ các pháp sai khác là do vọng niệm; nếu rời vọng
niệm th́ không c̣n các cảnh tướng sai khác. Bởi thế nên
tất cả pháp từ hồi nào đến giờ, không thể dùng danh tự
để kêu gọi, không thể dùng lời nói luận bàn, không thể
dùng tâm suy nghĩ được, không có biến đổi và cũng không
phá hoại v́ nó rốt ráo b́nh đẳng, chỉ có một "Tâm Chơn
như" mà thôi.
LƯỢC GIẢI
Tâm Chơn như này, tánh không sanh diệt và bao trùm tất
cả nhơn quả, thánh phàm, y báo chánh báo ...Bởi thế nên
nguyên văn chữ Hán gọi là "nhứt pháp giới đại tổng tướng
pháp môn thể".
V́ vọng niệm nên thấy có tất cả các pháp sai khác; cũng
như v́ mắt nhặm nên thấy có hoa đốm giữa hư không. Nếu
như ĺa vọng nirệm rồi, th́ không có tất cả cảnh giới
sai khác, mà chỉ c̣n một "Tâm Chơn như"; cũng
như mắt hết nhặm th́ chỉ c̣n hư không một màu trong
tịnh.
Bởi tất cả pháp là "Tâm Chơn như", nên không thể phá
hoại, không thể dùng lời nói luận bàn, không thể dùng
danh tự để kêu gọi và cũng không thể dùng tâm suy nghĩ
được. Từ hồi nào đến giờ, nó rốt ráo b́nh đẳng, không có
sai khác. Bởi thế nên trong Khế kinh chép:
"Thị pháp trụ pháp vị
Thế gian tướng thường trụ"
Nghỉa là: Pháp nào vẫn an trụ địa vị của pháp nấy; tướng
thế gian là tướng thường trụ.
GIẢI DANH TỪ
Tâm Chơn như: V́ tâm này không hư ngụy, nên gọi là
"Chơn", không bị thời gian thay đổi, không gian chuyển
dời, từ hồi nào đến giớ nó vẫn như thế, nên gọi là
"Như". Tâm Chơn như cũng gọi là "Chơn tâm" hay "Viên
giác".
Nhứt pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể: Câu này
nghĩa lư rất sâu rộng, xin giải sơ lược: Tâm Chơn như là
Thể chung của "Nhứt pháp giới"._Chữ "Nhứt" là chỉ cho sự
b́nh đẳng bất nhị, thuộc về lời nói ngăn chấp, chớ không
phải lời nói tiêu biểu. _Chữ "Giới" là chỉ cho "tâm Chơn
như" này, nó là "nhơn" là "giống" là "bản năng" sanh ra
tất cả các pháp, nên gọi là "nhứt pháp giới". Nhứt pháp
giới là toàn tánh của vũ trụ. Ở nơi nhứt pháp giới này,
có thể phân ra tổng tướng (thể) và biệt tướng (muôn pháp
sai khác).
Tâm Chơn như là "Tổng tướng" (tướng chung) của tất cả
pháp; v́ thể tánh nó b́nh đẳng song cũng tóm thâu tất cả
tướng, nên gọi là "Đại".
Chữ "Pháp" nghĩa là:"giữ ǵn tự tánh và làm cho người
hiểu biết". Chữ "môn" là nghĩa ra vào thông suốt. Tất cả
chúng sanh có thể do pháp môn này tu hành, đến được mục
đích cứu cánh; nếu rời "Đại tổng tướng pháp môn" này,
th́ không thể đạt đến quả vị Phật. Nói tóm lại:
Nhứt pháp giới là "Thể" của tâm Chơn như.
Đại tổng tướng là "Tướng" của tâm Chơn như.
Pháp môn là "Dụng" của tâm Chơn như.
CHÁNH VĂN
Tất cả những lời nói, đều do vọng niệm phân biệt mà
sanh, chỉ do giả danh chớ không thật thể . Cho đến danh
từ Chơn như cũng không thực; chẳng qua là một danh từ
túng cùng của lời nói, dùng để trừ bỏ các danh từ khác
(vọng) mà thôi (nhơn ngôn khiển ngôn). Song cái "Thể"
của Chơn như không thể trừ bỏ và cũng không thể dựng
lập. Phải biết: Tất cả các pháp cũng không thể trừ bỏ v́
đều là "Chơn" vậy, và cũng không thể dựng lập, v́ đều là
"Như" vậy. Bởi tất cả các pháp đều là Chơn như, nên
không thể nói bàn và suy nghĩ được.
LƯỢC GIẢI
Tất cả những lời nói phô, đều do vọng niệm phân biệt;
danh từ chỉ là hư giả, chớ không có thật thể. Cho đến
cái danh từ Chơn như cũng là hư giả mà thôi. Danh từ
Chơn như hay Phật là danh từ túng cùng trong các danh từ
tạm đặt ra như thế để trừ các danh từ vọng nhiễm của thế
gian. Cũng như ông thầy giáo, tạm dùng tiến gơ bảng để
trừ tiếng ồn của học sinh (dĩ ngôn diệt ngôn). Đến khi
tiếng ồn của học sinh hết, th́ tiếng gơ bảng của thầy
giáo cũng không c̣n. Cũng như khi vọng mất, chúng sanh
hết, th́ Chơn như hay Phật cũng chẳng c̣n.
Song, chỉ bỏ cái danh từ (Chơn như) hư giả, chớ thể tánh
chơn như th́ không thể bỏ hay lấy. Cho đến các pháp cũng
không thể bỏ và lấy được. V́ các pháp đều là "Chơn", nên
không thể bỏ, và "Như" nên không thể lấy. Bởi các pháp
đều chơn như, nên không thể dùng lời nói luận bàn hay
tâm suy nghĩ đền được.
Tóm lại, v́ vọng niệm phân biệt, nên thấy có các pháp
sai biệt. Nếu vọng niệm phân biệt hết, th́ tất cả các
pháp không c̣n những tướng sai biệt, mà đều là Chơn như.
Bởi các pháp đều là chơn như, nên nói năng không trúng,
suy nghĩ chẳng nhầm và cũng không thể lấy hay bỏ được.
CHÁNH VĂN
Hỏi: _Nếu "Chơn như", mà không thể dùng lời nói luận bàn
hay tâm suy nghĩ, th́ chúng sanh làm sao tuỳ thuận và
ngộ nhập được?
Đáp:_ Nếu người nào biết tất cả pháp, tuy có nói bàn, mà
không có "năng nói" và "sở nói"; tuy có suy nghĩ, mà
không có "năng suy nghĩ" và "sở suy nghĩ", th́ người ấy
được tuỳ thuận Chơn như.
C̣n người nào ĺa các niệm (vọng niệm) th́ người đó được
nhập Chơn như.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Luận chủ lập lời vấn đáp, để giải thích sự nghi
ngờ của độc giả.
Hỏi: _ Nếu Chơn như mà không thể dùng lời nói luận bàn
và tâm suy nghĩ được th́, chúng sanh làm sao tuỳ thuận
và ngộ nhập Chơn như?
Đáp:_ Nếu người nào biết tất cả pháp, tuy có nói năng
suy nghĩ, mà không chấp nơi nói năng suy nghĩ, th́ người
đó được tuỳ thuận Chơn như. Tiến lên một từng nữa, nếu
người nào ĺa các vọng niệm, th́ người ấy nhập được Chơn
như. Nghĩa là "Vọng" hết, th́ "Chơn" hiện. Đoạn này đồng
một ư nghĩa với bốn chữ "bất tuỳ phân biệt" trong Kinh
Lăng Nghiêm.
CHÁNH VĂN
Lại nữa, nếu căn cứ trên danh từ (ngôn thuyết) mà phân
biệt, th́ chữ Nhơn như có 2 nghĩa:
1.THẬT KHÔNG (như thật không), tức là chỉ nói đến cái thể
tánh rốt ráo chơn thật của Chơn như. Nghĩa là: từ hồi
nào đến giờ, Chơn như không có các tâm niệm hư vọng,
không có tất cả các tướng sai biệt, nói chung là thật
không có các pháp tạp nhiễm.
Phải biết: Chơn như phi tướng "có ", phi tướng "không";
phi tướng "chẳng phải có", phi tướng "chẳng phải không";
phi tướng "cũng có và cũng không"; phi tướng "một", phi
tướng "khác"; phi tướng "chẳng phải một, chẳng phải
khác"; phi tướng "cũng một cũng khác".
Nói tóm lại, v́ chơn như không có tất cả các vọng niệm
phân biệt của chúng sanh, nên gọi rằng "thật không". Nếu
khi vọng tâm phân biệt hết rồi th́ cũng không c̣n cái ǵ
gọi là "không" nữa.
LƯỢC GIẢI
Đứng về phương diện lư tánh tuyệt đối, th́ Chơn như
không thể kêu gọi là ǵ được (ly danh tự tướng), không
thể dùng lời nói luận bàn (ly ngôn thuyết tướng) và cũng
không thể dùng tâm suy nghĩ được (ly tâm duyên tướng).
Song, nếu căn cứ trên văn tự lời nói mà luận, th́ Chơn
như có hai nghĩa: 1. Thật không và 2. Thật có.
Đoạn này nói về nghĩa "thật không" (ly nhứt thế tướng),
tức là chỉ cho cái "thể Chơn như", từ hồi nào đến giờ,
nó không có các vọng niệm, không có các nhiễm pháp và
không có các tướng sai khác. Nó phi tất cả các tướng: Có,
không, chẳng phải có, chẳng phải không, cho đến phi
tướng đồng, tướng dị và tướng không đồng không dị...
Nói tóm lại là nó không có tất cả vọng niệm phân biệt
của chúng sanh, và khi rời các vọng niệm rồi, th́ cái
gọi là "không" đó cũng không c̣n.
CHÁNH VĂN
2. THẬT CÓ (như thật bất không), tự thể Chơn như, thật có đủ công đức vô lậu (tức nhứt
thế pháp). Bởi Chơn như không có các vọng, nên tức là
Chơn tâm. Cái Chơn tâm này thường c̣n không biến đổi và
đầy đủ các pháp thanh tịnh; nên nói "thật có"(bất không).
Nhưng cái cảnh giới "thật có" này, cũng không có h́nh
tướng ǵ để nắm lấy được, v́ nó ĺa các vọng niệm, nên
chỉ có người tu chứng mới biết được mà thôi.
LƯỢC GIẢI
Trong đoạn này nói: Chơn như có hai nghĩa, tức là ư nói
Chơn như có hai thứ. _ Đoạn trên nói về phương diện "thể
tánh" của Chơn như, th́ không có các vọng niệm, không có
các pháp nhiễm ô, tức là "ly nhứt thế tướng", nên nói "thật
không".
Đoạn này nói về phương diện "tướng dụng" của Chơn như,
th́ đầy đủ vô lượng hằng sa công đức, thế là "tức nhứt
thế pháp", nên nói "thật có". Nhưng cảnh giới "thật có"
này, không có h́nh tướng ǵ để chỉ bày ra được, v́ đă
ĺa các vọng niệm phân biệt, nên chỉ có người chứng ngộ
mới biết được thôi.
▲
Trở Lên
|
|
BÀI THỨ BA
CHƯƠNG THỨ BA
PHẦN GIẢI THÍCH
II. Tâm Sanh diệt (Thức A lại da)
CHÁNH VĂN
Do Như Lai tạng (chơn) mà có "Tâm sanh diệt"; nghĩa là
Chơn (không sanh diệt) Vọng (sanh diệt) hoà hiệp, không
phải "một" không phải "khác" gọi là thức A lại da (tâm
sanh diệt). Thức này tóm thâu tất cả các pháp và xuất
sanh tất cả các pháp. Thức này có hai nghĩa "Giác" và "Bất
giác" (mê).
LƯỢC GIẢI
Đoạn trước nói chỉ có một tâm mà chia ra làm hai phương
diện: Tâm Chơn như và Tâm sanh diệt.
Đoạn này nói do Như Lai tạng mà có "Tâm sanh diệt" tức
là thức A lại da. V́ thức A lại da là do chơn vọng hoà
hiệp, không phải một không phải khác, nên có hai nghĩa "Giác"
và "Bất giác". Thức này có công năng giữ ǵn tất cả các
pháp và sanh ra các pháp.
Trên đây nói thức A lại da có 2 nghĩa, không nên hiểu
lầm thức A lại da có hai thứ "Giác" và "Bất giác" khác
nhau; mà nên hiểu rằng: thức này có hai trạng thái, tuỳ
nhiễm duyên th́ trạng thái "Bất giác" hiện, tuỳ tịnh
duyên th́ trạng thái "Giác" hiện. Cũng như sáng với tối,
chỉ là hiện tượng của thái hư mà thôi.
Chúng ta cũng nên phân biệt ba danh từ: Chơn như, Như
Lai tạng và thức A lại da là đồng hay khác, và liên quan
với nhau như thế nào.
_" Chơn như" là chỉ cho cái "Tổng thể" của tâm; "Như Lai
tạng" là chỉ cho cái "Tổng tướng" của tâm, "thức A lại
da" là chỉ cho cái "Thể, Tướng và Dụng" về nhiễm và tịnh
hoà hiệp của tâm.
Chơn như, dụ như "tánh" ướt của nước; Như Lai tạng, dụ
như "nước" (h́nh tướng của nước); A lại da, dụ như
"sóng" (dụng của nước). Trong sóng gồm có cả tánh ướt và
nước. Thế là thức A lại da (Tâm sanh diệt) gồm cả "Thể,
Tướng và Dụng" về nhiễm và tịnh hoà hiệp của tâm.
Tại sao không nói "do Chơn như, có Tâm Sanh diệt" mà chỉ
nói "do Như Lai tạng có Tâm Sanh diệt"? _ V́ Chơn như là
"Thể" của nhứt tâm; Như Lai tạng là "Tướng" của nhứt
tâm; Chơn như th́ thanh tịnh không động, c̣n Như Lai
tạng tuy rằng cũng chơn tịnh, nhưng c̣n bị phiền năo che
phủ, làm nhơn cho động, nên chỉ nói "do Như Lai tạng có
tâm sanh diệt là thức A lại da" mà không nói "do Chơn
như sanh ra thức A lại da" (Tâm Sanh diệt).
Tâm Sanh diệt này có hai phần:
1. Sanh diệt về phần lưu chuyển sanh tử,
2. Sanh diệt về phần hoàn tịnh (trở lại bản tánh Niết
bàn).
GIẢI DANH TỪ
Như Lai tạng, có hai nghĩa: 1. Như Lai tại triền, nghĩa
là tánh Phật (Như Lai) c̣n bị chứa trong ṿng phiền năo
nhiễm ô. 2. Như Lai xuất triền, nghĩa là tánh Phật (Như
Lai) chứa đựng các pháp vô lậu thanh tịnh, đă ra khỏi
phiền năo nhiễm ô.
Song, trong kinh luận nói đến Như Lai tạng, là phần
nhiều dùng cái nghĩa "Như Lai tại triền" (tánh Phật bị
chứa trong phiền năo).
Câu "Chơn vọng hoà hiệp, không phải một và không phải
khác":
"Chơn" là bản thể, c̣n "Vọng" là hiện tượng; bản thể và
hiện tượng không rời nhau, nên nói "hoà hiệp". V́ bản
thể không phải là hiện tượng, nên nói "không phải một";
v́ hiện tượng và bản thể không rời nhau, nên nói "không
phải khác".
Trong đây nói chữ "Hoà hiệp", không phải thật có hai vật
riêng nhau, như sữa với nước hoà hiệp lại, mà chính là
bản thể với hiện tượng không rời nhau, nên tạm gọi là
"hoà hiệp".
A
lại da: Trong luận này, chữ "thức A lại da", chúng ta
phải hiểu tức là "thức A đà na" mới khỏi ngại. Căn cứ
theo luận Duy thức, khi đến quả A la hán hay Bát địa,
th́ thức A lại da không c̣n (A la hán vị xả); v́ hai vị
này đă trừ ngă chấp, nên thức này không c̣n là A lại da,
mà chỉ gọi là thức A đà na (thức tŕ chủng).
C̣n trong luận này, th́ nói: Từ phàm phu cho đến quả
Phật, đều có thức A lại da, v́ nó duy tŕ cả thánh và
phàm. V́ thế nên chữ "A lại da" ở luận Khởi tín này, tức
là thức "A đà na" trong luận Duy thức vậy. Trong luận
Duy thức chép: "Thức A đà na có công năng duy tŕ chủng
tử của các pháp nhiễm tịnh, thánh phàm ..."
NÓI VỀ NGHĨA "GIÁC" có 5 tên
CHÁNH VĂN
"Giác" là chỉ cho bản thể chơn tâm ĺa các vọng niệm, nó
khắp giáp tất cả, rộng lớn như hư không; cũng gọi là
"Pháp thân b́nh đẳng của Như Lai". Pháp thân này, tất cả
chúng sanh sẳn có, nên gọi là "Bản giác" (tánh Phật sẵn
có).
V́ đối với "Thỉ giác" nên gọi là "Bản giác"; song Thỉ
giác tức là Bản giác. Nghĩa là từ Bản giác mà có Bất
giác (mê); do Bất giác nên có Thỉ giác (mới giác ngộ);
giác ngộ chưa hoàn toàn th́ gọi là Phần giác (giác ngộ
từng phần); giác ngộ được hoàn toàn th́ gọi là Cứu cánh
giác.
LƯỢC GIẢI
Đoạn này nói về nghĩa "Giác" (sáng suốt) tức là tánh
Phật sẳn có ở chúng sanh. Tánh Phật này ở nơi chúng
sanh th́ gọi là "Như Lai tạng" (Như Lai bị phiền năo che
giấu); c̣n ở nơi Phật th́ gọi là "Pháp thân thanh
tịnh".
Tánh Phật tuy luân chuyển trong sáu đường, mà không bao
giờ mất, vẫn vắng lặng thường c̣n và viên măn. Chẳng qua
chúng sanh v́ bị mây vô minh che phủ, nên trăng Phật
tánh này chẳng hiện được.
Tất cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, v́ không rời vọng
niệm, nên tuy trọn ngày ở trong tánh Phật mà chẳng tự
biết; nếu khi rời vọng niệm rồi, th́ tánh Phật này sáng
soi, rỗng suốt khắp giáp tất cả như thái hư. Lúc bấy giờ
chỉ c̣n tánh Phật thuần chơn, gọi là "Pháp thân b́nh
đẳng của Như Lai".
V́ căn cứ theo tánh Phật sẳn có của chúng sanh, nên gọi
là "Bản giác". Bởi thế nên Khế kinh nói:
"Tất cả chúng sanh đă thành Phật từ lâu", và nói:
"Ta thành ngôi Chánh giác trong tâm của chúng sanh".
Song "Giác" có nhiều tên: Bản giác, Bất giác, Thỉ giác,
Phần giác và Cứu cánh giác. V́ theo mỗi khía cạnh mà
chia ra làm 5 tên, chớ không phải thật có 5 cái "Giác"
khác nhau.
GIẢI DANH TỪ
Pháp thân b́nh đẳng: Dùng pháp giới tánh làm thân, nên
gọi là "Pháp thân". V́ Pháp thân này, ở tại phàm không
bớt, ở nơi thánh không thêm, nên gọi là "B́nh đẳng".
Bản giác: Sản có giác ngộ, tức là chỉ cho tánh Phật
sẳn có của chúng sanh.
Bất giác: Không giác ngộ (mê). Chúng sanh tuy có
sẳn
tánh Phật, nhưng không tự giác ngộ.
Thỉ giác: Mới giác ngộ. Nhờ sự tu học, nên hành giả mới
giác ngộ được tánh Phật.
Phần giác: Giác ngộ từng phần. Hành giả tu hành trải qua
từng bực, được sự giác ngộ từng phần.
Cứu cánh giác: Giác ngộ rốt ráo (tức là Phật).
THỂ GIÁC CÓ 4 LỚP, TỪ THÔ ĐẾN TẾ
CHÁNH VĂN
Hỏi: _ Nghĩa là thế nào?
Đáp: _ Có 4 lớp như sau:
a) Giác ngộ "niệm DIỆT"
Chúng phàm phu (Tiều thừa th́ hữu học, Đại thừa th́ Thập
tín) giác ngộ vọng niệm trước đă khởi ác, nên ngăn dứt
vọng niệm sau, không cho sanh khởi ác nữa (niệm diệt).
V́ chúng phàm phu in như đă giác ngộ, nhưng thật ra chưa
giác ngộ, nên gọi là "Bất giác".
b) Giác ngộ "niệm DỊ"(hoại).
Hàng sơ phát tâm Bồ Tát (Tam hiền) và Nhị thừa (vô học),
dùng trí huệ quán sát, giác ngộ được "niệm Dị" (dị tướng
vô minh) và không c̣n tướng "niệm Dị". Hai vị này v́ đă
xả được tướng phân biệt chấp trước về phần thô trọng,
nên gọi là "Tương tợ giác"( tương tợ như đă giác ngộ).
c) Giác ngộ "niệm TRỤ".
Hàng Thập địa Bồ Tát (Bồ Tát đă chứng Pháp thân) giác
ngộ được "niệm Trụ" (trụ tướng vô minh) và không c̣n
tướng "niệm Trụ". Vị này v́ đă ĺa được tướng phân biệt
về thô niệm, nên gọi là "Tuỳ phần giác" (Giác ngộ từng
phần).
d) Giác ngộ "niệm SANH"
Hàng Đẳng giác Bồ Tát (Địa tận Bồ Tát) do các phương
tiện tu hành đă đầy đủ, nhứt niệm hợp với chơn tâm, nên
giác ngộ được tâm sơ khởi (sanh tướng vô minh) và không
c̣n tướng sơ khởi. V́ vị này đă xa ĺa vọng niệm vi tế
(vi tế vô minh) ngộ nhập chơn tâm thường trụ , nên gọi
là "Cứu cánh giác" (Giác ngộ rốt ráo).
Bởi thế nên trong kinh chép: "Nếu chúng sanh nào quán "vô
niệm" (không vọng niệm) th́ chúng sanh đó đă hướng về trí
Phật".
LƯỢC GIẢI
Đoạn này Bồ Tát Mă Minh dùng bốn danh từ: Niệm sanh,
Niệm trụ, Niệm dị, Niệm diệt để nói lên vô minh có thô
tế, sâu cạn và chỉ rơ người tu hành ở địa vị nào mới
diệt được thứ vô minh nào.
Trong đoạn này nói "chúng phàm phu", thật ra không phải
hoàn toàn là phàm phu, mà chính là chỉ cho: bên Đại thừa
th́ hàng Thập tín, c̣n Tiểu thừa th́ ba quả trước, thuộc
về hữu học. V́ các vị này chưa được dự vào hạng Hiền
(Tam hiền) và Thánh (Thập thánh) nên bị gọi là Phàm
phu.
Chúng phàm phu này giác ngộ được niệm diệt tức là phá
trừ "Diệt tướng vô minh" (vô minh thô sơ bên ngoài). Nếu
so với Lục thô, th́ "Niệm diệt" này thuộc về hai món thô
sau là: Khởi nghiệp tướng và Nghiệp hệ khổ tướng (sẽ
giải ở bài thứ năm). V́ sự phá trừ vô minh này không
thấm vào đâu, và đối với việc giác ngộ chơn tâm c̣n xa
xôi lắm, nên gọi họ là "Bất giác" (chưa giác ngộ).
Hàng Nhị thừa và Bồ Tát ở vị Tam hiền (Thập trụ, Thập
hạnh và Thập hồi hướng) giác ngộ được "Niệm dị", tức là
phá trừ "Dị tướng vô minh" (vô minh thô). Nếu so với Lục
thô th́ "Niệm dị" này thuộc về hai món thô bực trung
là: Chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng (sẽ giải ở bài thứ
năm). V́ các vị này tương tợ như giác ngộ được chơn tâm
và chứng được pháp thân thanh tịnh, nhưng chưa phải thật
ngộ và thật chứng, nên gọi họ là "Tương tợ giác".
Hỏi: _ Thế nào là giác ngộ "Niệm dị" và không c̣n tướng
"Niệm dị"?
Đáp: _ Bồ Tát sơ phát tâm dùng trí huệ quán sát Ngă
(thân tâm) và Pháp (vũ trụ) đều do nhơn duyên sanh, nên
đoạn trừ hai món vọng chấp phân biệt thật ngă và thật
pháp về phần thô, đó là "Giác ngộ niệm dị".
Đến khi Bồ
Tát không c̣n thấy có tướng Ngă, tướng Pháp, thế gọi là
"không c̣n tướng niệm dị".
Hỏi: _ Sao gọi là "Phân biệt chấp trước về phần thô
trọng"?
Đáp: _ Ngă chấp và Pháp chấp có chia ra làm hai phần: 1.
Thô trọng, tức là phân biệt Ngă chấp và Pháp chấp, phần
này dễ trừ. 2. Vi tế, tức là cu sanh Ngă chấp và Pháp
chấp, phần này khó trừ.
***
Hàng Thập địa Bồ Tát v́ đă chứng pháp thân thanh tịnh,
nên cũng gọi là "Pháp thân Bồ Tát". Các vị Bồ Tát này
giác ngộ được "Niệm trụ", tức là phá trừ "trụ tướng vô
minh" (tế vô minh). Nếu so với Lục thô ở bài sau, th́
thuộc về hai món thô đầu là: Trí tướng và Tương tục
tướng.
Bồ Tát phá một phần vô minh th́ chứng được một phần Pháp
thân, gọi là lên Sơ địa; phá hai phần vô minh th́ chứng
hai phần Pháp thân, gọi là lên Nhị địa; cho đến phá mười
phần vô minh, th́ chứng được mười phần Pháp thân, gọi là
lên Thập địa Bồ Tát. V́ Bồ Tát phá vô minh từng phần và
giác ngộ từng phần, nên gọi là "tuỳ phần giác".
Các vị Bồ Tát này, v́ tâm niệm c̣n trụ ở năng sở đối
đăi, chưa dứt trừ được, nên gọi là "Trụ tướng vô minh".
Đến khi Bồ Tát nhập Chơn như, quán, chỉ nhứt tâm chánh
niệm Chơn như, không c̣n tướng năng sở đối đăi, nên gọi
"Không c̣n tướng niệm trụ". Như thế là ĺa được tướng
phân biệt về thô niệm (vô minh thô).
Sở dĩ gọi "Thô" là v́ không tế nhị bằng "Sanh tướng vô
minh" (vô minh rất vi tế); kỳ thật đây cũng là một thứ
vô minh vi tế, rất khó trừ.
Tóm lại, từ phàm phu (Thập tín) cho đến địa vị Pháp thân
Bồ Tát (Thập địa), về sự phá trừ vô minh của mỗi bực có
thô và tế khác nhau: 1. Chúng phàm phu đối với cảnh,
chấp có và thấy vọng niệm diệt rồi, đè nén không cho
sanh khởi. 2. Hàng Nhị thừa và Tam hiền Bồ Tát, th́ quán
ngă pháp đều không, nhưng c̣n cái "Niệm không". 3. Đến
bực Thập địa Bồ Tát, th́ cái "Tâm niệm chấp không" cũng
không c̣n; nghĩa là không c̣n cái "Năng Niệm".
Nói rằng bực Đẳng giác Bồ Tát, giác ngộ được "niệm sanh"
tức là nói vị Bồ Tát này phá trừ được "Sanh tướng vô
minh" (vô minh rất vi tế). Nghĩa là các vị Bồ Tát tu
hành, đến lúc chơn cùng hoặc tận, tột bực Thập địa,
chứng lên vị Đẳng giác, khi ấy Bồ Tát dùng trí Kim Cang
đoạn trừ "sanh tướng vô minh" (giác ngộ được niệm sanh)
xa ĺa các vọng hoặc rất vi tế, và nhứt niệm hiệp với
tâm thể Chơn như, nên không c̣n "tướng sơ khởi"; khi đó
Bồ Tát chúng lên quả Diệu giác (Phật) gọi là "Cứu cánh
giác".
***
Hỏi: _ Phải chăng trong một niệm, có sanh, trụ, dị,
diệt; chúng phàm phu giác ngộ khi "Niệm diệt"; Nhị thừa
giác ngộ khi "Niệm dị"; Thập địa Bồ Tát giác ngộ khi
"Niệm trụ"; Đẳng giác Bồ Tát giác ngộ khi "Niệm sanh"?
Đáp: _ Hiểu như vậy không được đúng lắm; đây nói sanh,
trụ, dị, diệt là chỉ cho vọng niệm có phần thô và tế.
Chúng phàm phu chỉ giác ngộ vọng niệm về phần thô bên
ngoài gọi là "Niệm diệt". Nhị thừa giác ngộ vọng niệm về
phần tế hơn gọi là "Niệm dị". Thập địa Bồ Tát giác ngộ
vọng niệm lại tế hơn nữa, gọi là "Niệm trụ". Đến bực
Đẳng giác Bồ Tát, giác ngộ vọng niệm lại rất vi tế, gọi
là "Niệm sanh".
Thí như mặt nước bằng phẳng là dụ tâm thể thanh tịnh vô
niệm. Mặt nước vừa dợn động, là dụ "Niệm sanh". Sóng nổi
lăn tăn là dụ "Niệm trụ". Sóng nhấp nhô, dụ "Niệm dị".
Sóng nổi ba đào là dụ "Niệm diệt".
Chúng tôi đem 4 niệm trong bài này, phối hiệp với tam tế
lục thô ở bài sau, để quư vị dễ hiểu.
Niệm sanh
1. Vô minh nghiệp tướng
Niệm trụ
2. Năng kiến tướng Tam tế
3. Cảnh giới tướng
1. Trí tướng
2. Tương tục tướng
Niệm dị
3. Chấp thủ tướng
4. Kế danh tự tướng Lục thô
Niệm diệt
5. Khởi nghiệp tướng
6. Nghiệp hệ khổ tướng
***
Hỏi: _ Làm sao để được trí Phật?
Đáp: _ Trí Phật thanh tịnh không các vọng niệm, muốn
được trí Phật, hành giả phải "vô niệm". Trong kinh Lăng
già quyển hai có chép: "Nếu chúng sanh nào quán vô niệm,
th́ chúng sanh ấy sẽ hướng về trí Phật".
Ngài Đức Thanh giải rằng: "Vô niệm là con đường tắt để
thành Phật..." và "...không những Bồ Tát tu hành đoạn
trừ phiền năo, đến vô niệm mà gọi là "Cứu cánh giác";
tức như chúng sanh nào, ngày đêm quán vô niệm, th́ chúng
sanh ấy mỗi niệm đă hướng về trí Phật".
Trong luận nầy nói hai chữ "vô niệm" đồng với bốn chữ
"bất tuỳ phân biệt" trong kinh Lăng Nghiêm chữ "vô niệm"
nghĩa là không khởi vọng niệm. Nếu vọng niệm không khởi,
th́ tâm được định, do tâm định nên mới phát sanh ra trí
huệ thanh tịnh của Phật.
Chữ "Bất tuỳ phân biệt", nghĩa là không theo trần cảnh
khởi phân biệt. Không khởi phân biệt th́ vọng niệm chẳng
sanh; vọng niệm chẳng sanh th́ chơn tâm tự hiện ra.
Bởi thế nên luận nầy nói chữ "Vô niệm", Kinh Lăng Nghiêm
nói "bất tuỳ phân biệt"; hai danh từ tuy khác, song đồng
một ư nghĩa và đồng một con đường tắt, để đi đến quả
Phật.
VỌNG NIỆM HẾT (VÔ NIỆM) TH̀ CHƠN TÂM HIỆN
CHÁNH VĂN
Lại nữa, thật ra Tâm không có tướng sơ khởi, mà nói rằng
"biết được tướng sơ khởi của tâm", đó tức là được "vô
niệm". Tất cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, v́ chưa
từng xa ĺa vọng niệm tương tục (chưa được vô niệm), nên
không được gọi là "Giác", mà chỉ gọi là "Vô thỉ vô
minh".
Nếu người được vô niệm (ngộ chơn tâm) th́ các tướng sanh,
trụ, dị, diệt của tâm đều hết, chỉ c̣n một tâm thể vô
niệm (chơn tâm). Bởi thế nên Thỉ giác không khác với Bản
giác. V́ vọng niệm nên bốn tướng: Sanh, Trụ, Dị và Diệt
đồng thời nương nhau mà có, và đều không tự lập; khi
vọng niệm hết, thời bốn tướng không c̣n, chỉ một tánh
giác (chơn tâm) xưa nay b́nh đẳng.
LƯỢC GIẢI
Tất cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, do một niệm mê nên
bốn tướng: sanh, trụ, dị, diệt nhứt thời nương nhau khởi
hiện, không có trước sau. V́ vọng niệm tương tục măi,
làm cho chúng sanh không ngộ được chơn tâm (vô niệm) của
ḿnh, nên gọi là "vô thỉ vô minh". Bởi thế nên có chia
ra Bản giác và Thỉ giác.
Trái lại, bực Đẳng giác Bồ Tát, đă diệt hết vọng niệm,
ngộ được chơn tâm thường trú của ḿnh, nên bốn tướng
không c̣n, mà chỉ c̣n một tánh sáng suốt b́nh đẳng không
vọng niệm, gọi là "Cứu cánh giác". Bởi vậy nên "Thỉ giác"
cũng tức là "Bản giác".
GIẢI DANH TỪ
"Tướng
sơ khởi" tức là chơn tâm, mà chơn tâm th́ vô tướng và vô
niệm. Người được vô niệm tức là ngộ chơn tâm; phải ngộ
được chơn tâm mới gọi là "Cứu cánh giác".
"Bản
giác" tức là tâm tánh xưa nay vốn thanh tịnh sáng suốt,
trái với vô minh bất giác (mê).
"Thỉ
giác" là mới giác ngộ. Hành giả dùng quán trí trừ các
vọng niệm, mới vừa giác ngộ tâm thể không có bổn tướng,
nên gọi là "Thỉ giác".
Nên biết, những danh từ trên đây đều giả lập: "Bản giác"
là đối với "Thỉ giác" mà lập, "Thỉ giác" nhơn "Bất giác"
mà có, "Bất giác" lạinhơn "Bản giác" mà sanh. Do đối đăi
nhau nên giả lập ra có nhiều tên, thật ra chỉ có tánh
giác mà thôi.
(Đoạn
này nói về "Thỉ giác", đoạn sau nói đến "Bản giác").
▲
Trở Lên
|
|
BÀI THỨ TƯ
CHƯƠNG THỨ BA
PHẦN GIẢI THÍCH NÓI VỀ NGHĨA "GIÁC"
(tiếp
theo và hết)
Nói về nghĩa "Giác"
Bản giác có 2 tướng:
1. Tướng Trí tịnh
2. Tướng Nghiệp dụng bất tư nghị
Bản giác có 4 tướng:
1. Như thật không
2. Nhơn huân tập
3. Pháp xuất ly
4. Duyên huân tập
CHÁNH VĂN
Bản giác có 2 tướng
Lại nữa, do dứt các nhiễm duyên phân biệt, nên bản giác
thành ra hai tướng: 1. Tướng trí tịnh. 2. Tướng nghiệp
dụng bất tư nghị; hai tướng này không rời bản giác.
1. Tướng trí tịnh: (Thể): Hành giả nhờ sức huân tập và
như thật tu hành, đến khi công phu tu hành đă viên măn,
phá trừ được thức A lại da (chơn vọng hoà hiệp) và diệt
các vọng tâm tương tục, th́ pháp thân thanh tịnh hiện ra,
đặng cái trí thuần tịnh, nên gọi là "Tướng trí tịnh".
LƯỢC GIẢI
Nhờ dứt trừ các pháp nhiễm ô phân biệt, nên tánh giác
hiện ra có 2 tướng: 1. Bản thể sáng suốt trong sạch, gọi
là "Tướng trí tịnh".2. Diệu dụng không thể nghĩ bàn, gọi
là "Tướng nghiệp dụng bất tư nghị". V́ thể và dụng không
rời tánh giác, nên gọi "hai tướng không rời bản giác".
Bực Tam hiền, bên trong nhờ sức chơn như huân ra, bên
ngoài lại nhờ chánh pháp huân vào, nên làm cho hành giả
tự phát khởi tín tâm tu hành.
Đến hàng Thập địa Bồ Tát, do nhờ sức tu tập, nên ngộ
nhập được tâm chơn như, rồi y như tâm chơn như này mà tu,
nên gọi là "Như thật tu hành".
Đến vị Đẳng giác Bồ Tát, th́ sự tu hành, công đă thành
quả lại măn; lúc bấy giờ Bồ Tát phá trừ thức hoà hiệp và
diệt tâm tương tục, nên pháp thân thanh tịnh hiện ra,
đặng trí thuần tịnh, gọi là "Tướng trí tịnh".
GIẢI DANH TỪ
"Thức
hoà hiệp" _ Đoạn trước nói "Sanh diệt và bất sanh diệt
hoà hiệp", gọi là A lại da", nay nói "phá thức hoà hiệp"
tức là phá thức A lại da. Song chỉ phá cái "tướng hư
vọng tạp nhiễm" của thứcA lại da; không phải phá cái "thể
tánh" của thức này.
"Tâm
tương tục"_ Tâm tương tục tức là 7 chuyển thức (từ nhăn
thức đến Mạt ma thức). Diệt tâm tương tục, tức là diệt
"tướng" hư vọng tương tục của 7 thức trước, không phải
diệt cái "thể" của 7 chuyển thức.
CHÁNH VĂN
Hỏi: _ Nghĩa này thế nào?
Đáp: _ Tất cả tâm thức đều là vô minh; song cái tướng vô
minh (vọng) không rời tánh giác (chơn). Bởi thế nên
không thể phá hoại (v́ không rời tánh giác), và cũng
không phải không phá hoại được (v́ là tướng vô minh).
Thí như trước biển cả (dụ tánh giác) v́ gió (vô minh)
nên nổi sóng (tâm thức); sóng và gió đều động và không
rời nhau; song tánh nước chẳng động. Đến khi sóng đứng
th́ gió lặng; song tánh ướt của nước không diệt.
Cũng thế, biển tâm thanh tịnh của chúng sanh, bị gió vô
minh thổi động, nên sóng tâm thức nổi lên. Sóng tâm thức,
gió vô minh đều động, lại không h́nh tướng và chẳng rời
nhau; song biển chơn tâm chẳng hề chao động. Nếu gió vô
minh dừng, th́ sóng tâm thức tương tục kia cũng lặng;
song nước trí thuần tịnh (chơn) không bao giờ diệt.
LƯỢC GIẢI
V́ vô minh sanh ra các tâm thức hư vọng, nên các tâm
thức không rời vô minh. Song vô minh lại không thật thể,
chỉ nương tánh giác mà có, nên nó không rời tánh giác.
Đến khi vô minh hết, thức tâm diệt, th́ tánh giác hiện
bày. Cũng như, v́ gió thổi nên tánh sóng nổi lên; sóng
và gió đều động và không rời nhau. Đến khi gió đứng sóng
lặng th́ tánh nước thanh tịnh bằng phẳng hiện ra.
CHÁNH VĂN
Tướng nghiệp dụng bất tư nghị (Dụng). Do tướng trí tịnh
đủ vô lượng công đức và thường không đoạn tuyệt, nên có
thể tuỳ thuận theo căn cơ của chúng sanh, tự nhiên ứng
hiện ra tất cả các cảnh giới mầu nhiệm thù thắng, để làm
lợi ích cho chúng sanh.
LƯỢC GIẢI
Từ chơn như thể (tướng trí tịnh) khởi ra các diệu dụng (chơn
như dụng) không thể nghĩ bàn được (tướng nghiệp dụng bất
tư nghị). Nhờ diệu dụng này mới có thể hiện ra được các
cảnh giới thù thắng, tuỳ theo tŕnh độ của mỗi loài, làm
vô lượng công đức, để lợi ích cho tất cả chúng sanh
không thể nghĩ bàn.
Ngài Đức Thanh giải: Bản giác khi c̣n ở tại vỏ mê, th́
chúng sanh nương nơi đó mà tạo ra vô lượng vô biên các
nghiệp, nên kinh chép: "Nghiệp lực không thể nghĩ bàn".
Nay Bản giác đă ra khỏi vỏ mê, được thanh tịnh, th́ có
đủ tất cả thần thông diệu dụng, cũng không thể nghĩ bàn
được. Và Bản giác này nghĩ ra các cảnh giới thắng diệu,
làm vô lượng công đức, tuỳ theo căn cơ của mỗi loài, ứng
hiện đủ cách, để làm lợi ích cho các chúng sanh; như
Ngài Quán Thế Âm hiện ra 32 ứng thân, 14 món vô úy ...nên
gọi là "Nghiệp dụng bất khả tư nghị" (Diệu dụng không
thể nghĩ bàn).
GIẢI DANH TỪ
"Tự
nhiên ứng hiện" _ Nghĩa là ứng hiện một cách tự nhiên,
không dụng công và cố ư. Thí như mặt trăng chiếu xuống
ao, hễ nước trong th́ trăng tự nhiên ứng hiện; trăng
không có dụng công và cố tâm.
CHÁNH VĂN
Bản giác có 4 nghĩa
Lại nữa, Thể và Tướng của tánh giác (chơn tâm) giống như
cái gương sáng sạch, và rộng lớn như hư không, bao trùm
tất cả. Tánh giác này có 4 nghĩa:
1. Như thật không: Như cái gương lớn sáng sạch, không có
h́nh ảnh của cảnh vật (thật không). Tánh giác (chơn tâm)
xa ĺa các tướng của vọng tâm và vọng cảnh (ly nhất thế
tướng); không có một pháp nào hiện ra cả; cũng như cái
gương trống không. Đây là nói về nghĩa "Tịch" (vắng lặng)
của tánh giác, không phải nói về nghĩa "chiếu".
LƯỢC GIẢI
V́ tánh giác viên măn thanh tịnh, nên dụ như cái gương
sáng sạch; v́ tánh giác rộng răi bao la, nên dụ như hư
không rộng lớn. Nếu phân tách từng khía cạnh, th́ tánh
giác có 4 nghĩa; đoạn này nói về nghĩa thứ nhứt:
1. Thật không: Đây là nói về nghĩa "tịch tịnh" của Chơn
tâm. V́ Bản thể chơn tâm (tánh giác) vốn thanh tịnh,
rộng răi bao la và ly tất cả các tướng, không thể dùng
tâm thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn được, (cũng như
cái gương sáng sạch, không có lưu một h́nh ảnh ǵ ở
trong gương cả) tức là pháp thân thanh tịnh
sẳn có của
chúng sanh, không phải do tu mới được.
CHÁNH VĂN
2. Nhơn huân tập: Như cái gương sáng lớn, hiện đủ các
cảnh (thật có). Trong tánh giác (chơn tâm) đủ các pháp (tức
nhứt thế pháp); nghĩa là tất cả cảnh giới thánh, phàm
đều hiện trong chơn tâm thường trú nầy. Nó không xuất
không nhập, không mất không hoại, v́ tánh của các pháp
là chơn tâm vậy.
Lại nữa, v́ tánh giác không vọng động, nên các pháp
nhiễm ô, không thể làm nhiễm ô được; trái lại nó đủ tất
cả các pháp vô lậu và làm nhơn huân tập cho chúng sanh
vậy.
LƯỢC GIẢI
Đoạn trước nói về "thể" của chơn tâm, ly tất cả các
tướng, cũng như cái gương sáng, không có một vật ǵ ở
trong gương (như thật không). Đoạn này nói về Tướng và
Dụng của chơn tâm đủ tất cả pháp. Cũng như cái gương
sáng, các cảnh vật đều hiện vào (như thật bất không).
Tướng và Dụng của chơn tâm có 2 nghĩa:
1. Đủ tất cả pháp: Tất cả chúng sanh đều
sẳn có các
pháp vô lậu thanh tịnh, cũng gọi là "bản hữu Phật tánh"
hay "chánh nhơn Phật tánh".
2. Nhơn huân tập: Tất cả chúng sanh đều
sẳn có tánh
Phật; tánh Phật đủ vô lượng hằng sa công đức và thanh
tịnh không động, nên các pháp nhiễm ô không làm nhiễm ô
được. Tánh Phật này làm chánh nhơn (chánh nhơn Phật tánh)
huận tập ở bên trong, khiến cho chúng sanh giác ngộ,
nhàm chán khổ sanh tử, phát tâm cầu đạo giải thoát.
CHÁNH VĂN
3. Pháp xuất ly: Như cái gương đă sáng sạch, không c̣n
bụi nhơ. Tánh giác (tánh Phật) đă sáng suốt thuần tịnh,
ra khỏi hai chướng: Phiền năo chướng, Sở tri chướng và
xa ĺa thức A lại da (Chơn, Vọng hoà hiệp).
LƯỢC GIẢI
3. Pháp xuất ly: tức là "Liễu nhơn Phật tánh", cũng gọi
là "Chơn như xuất triền". Hành giả nhờ công phu tu tập,
đoạn trừ phiền năo chướng, sở tri chướng và phá thức hoà
hiệp (A lại da), nên tánh Phật (Chơn như) không c̣n bị
triền phược và được sáng suốt thuần tịnh.
CHÁNH VĂN
4. Duyên huân tập: Như cái gương sáng, phản chiếu trở
lại. Tánh giác (Phật tánh) đă ra khỏi vỏ triền phược rồi,
trở lại chiếu soi khắp giáp tất cả, và tuỳ theo tâm niệm
của mỗi loài mà hiện thân hoá độ, làm trợ duyên huân tập
trở lại vào tâm chúng sanh, khiến cho chúng sanh tu tập
căn lành.
LƯỢC GIẢI
4. Duyên nhơn Phật tánh: Do Chơn như đă xuất triền, nên
có diệu dụng không thể nghĩ bàn: Chiếu khắp tất cả và
tuỳ theo tâm niệm của chúng sanh mà thị hiện các thân
h́nh để hoá độ, làm trợ duyên, huân tập trở lại vào tâm
chúng sanh, khiến cho chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu theo
chánh pháp.
Công dụng cao cả và rộng lớn của Chơn như (tánh giác),
chỉ có thể thí dụ như hư không. Thể tánh sáng suốt thuần
tịnh của Chơn như (tánh giác), chỉ có thể thí dụ như
gương: dầu có bụi hay không, song chất pha lê (gương)
vẫn sáng suốt, thỉ chung như một.
(đoạn
này đă nói nghĩa "Giác" rồi, tiếp theo sau đây sẽ nói đến
nghĩa "Bất giác" của thức A lại da)
▲
Trở Lên
|
| |