| |
|
Mục Lục Khóa
Thứ Tư
Duyên Giác
và Bồ Tát Thừa Phật Giáo
Lời Chỉ Dẫn Tổng Quát
01 Quán Sổ Tức
02 Quán Bất Tịnh
03 Quán Từ Bi
04 Quán Nhân Duyên
05 Quán Giới Phân Biệt
06 Bố Thí Ba La Mật
06B Tŕ Giới Ba La Mật
07 Tinh Tấn Ba La Mật
07B Nhẫn Nhục Ba La Mật
08 Thiền Định Ba La Mật
08B Trí Huệ Ba La Mật
09 Tứ Vô Lượng Tâm
10 Ngũ Minh
Lời Chỉ Dẫn Tổng
Quát
(Cho Trọn Khóa Thứ Tư)
Khóa này cũng như các khóa
trước, gồm cả thảy 10 bài giảng chia ra như sau:
Năm bài giảng về "Ngũ đ́nh tâm
quán".
Ba bài giảng về "Lục độ"
hay "Sáu phép Ba La Mật".
Hai bài giảng về "Tứ vô
lượng tâm" và "Ngũ minh".
Trong 10 bài ấy, trừ bài Ngũ
minh là bài giảng có tánh cách khái quát về những sự hiểu biết cần
thiết mà một Phật tử chân chính cần phải trao dồi và thực hành để
làm lợi cho Đạo và nhân quần xă hội; c̣n 9 bài giảng trước đều nói
về các phép tu.
Các phép tu này sẽ được giảng
giải rơ ràng ở các bài sau. Nhưng ngay bây giờ để quí vị có một ư
niệm tổng quát về trọn khóa thứ tư, chúng tôi xin tŕnh bày sơ lược
hai phần chính yếu của nó. Đó những bài nói về Ngũ đ́nh tâm quán và
Lục độ hay Sáu phép Ba la mật.
1. Ngũ đ́nh tâm quán là năm
phương pháp quán tưởng để dừng vong tâm. Vọng tâm là căn bệnh chính
làm cho con người phiền năo khổ đau. Nó thúc đẩy người ta chạy theo
ngũ dục, nó che lương tri, làm cho cái tâm vốn là sáng suốt trở nên
tối tăm, không biết đâu là thật, đâu là giả, đâu là chính, đâu là tà,
đâu là hay, đâu là dở.
Muốn sự nhận định được sáng
suốt, muốn cho ḷng ta dừng đuổi theo ngũ dục mà phải phiền năo khổ
đau, ta phải t́m phương pháp chận đứng vọng tâm là quán tưởng. Quán
là dùng trí huệ quán sát, phân tích hay suy nghiệm để t́m ra sự thật.
Có năm phép quán để chận đứng vọng tâm, để đối trị năm chứng bệnh
chính của tâm hồn chúng ta, là:
a) Quán Sổ tức: để đối trị bệnh
tán loạn của tâm trí
b) Quán bất tịnh: để đối
trị ḷng tham sắc dục.
c) Quán Từ bi: để đối
trị ḷng sân hận.
d) Quán Nhân duyên: để
đói trị ḷng si mê.
đ) Quán Giới phân biệt:
để đối trị chấp ngă.
Năm phép quán ấy gọi là "Ngũ
đ́nh tâm quán". Mỗi phép quán sẽ được tŕnh bày rơ ràng cặn kẽ trong
một bài giảng, theo thứ tự như đă tŕnh bày ở trên. Sở dĩ chúng tôi
để bài Quán Sổ tức đứng đầu trong năm phép quán, v́ muốn đi sâu vào
các phép quán, trước tiên, phải biết quán là ǵ, quán như thế nào,
và phải có một tâm trí định tĩnh, không tán loạn. Muốn được thế,
trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đă thuần phục rồi,
th́ các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt
dần các tâm bệnh: tham, sân, si, mạn.
2. Lục độ hay Sáu phép Ba la
mật: Sáu phép tu này để đối trị sáu món "tệ" thông thường, nhưng rất
nguy hiểm, v́ chúng đă làm cho chúng sinh nhiều kiếp sanh tử luân
hồi, chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ. Đó là:
a) Tham lam bỏn sen; b) Sân hận;
c) Si mê; d) Biếng nhác, trễ năi; đ) Hủy phạm giới luật; e) Tán loạn.
Để chúng sanh thoát khỏi nanh
vuốt ác độc của sáu món tệ này, đức Phật dạy sáu phép đối trị gọi là
"Lục độ". Chữ "Độ" có nghĩa là cứu độ hay vượt qua. Lục độ gồm có:
a) Bố thí: để khỏi cái tệ tham
lam bỏn sen
b) Nhẫn nhục: để khỏi
cái tệ nóng nảy, sân hận
c) Trí huệ: để khỏi cái
tội si mê
d) Tinh tấn: để khỏi cái
tệ biếng nhác, giải đăi.
đ) Tŕ giới: để khỏi cái
tội hủy phạm giới luật.
e) Thiền định: để khỏi
cái tệ tán loạn.
V́ dùng sáu phương pháp này để
trừ sáu món tệ, nên kinh nói: "Dĩ lục độ, độ lục tệ". Bồ Tát theo
sáu phương pháp này tu hành để vừa độ cho ḿnh, vừa độ cho người, độ
cho đến chỗ hoàn toán cứu cánh, nên cũng gọi là "sáu phép Ba la mật".
Lục độ, hay sáu phép ba la mật
được tŕnh bày trong tập sách này:
Bài thứ sáu, Bố thí và Tŕ giới
Bài thứ bảy, Tinh tấn và
Nhẫn nhục
Bài thứ tám, Thiền định
và trí huệ.
Xét một cách tổng quát, th́ dù
là Ngũ đ́nh tâm quán hay Lục độ, cái phần chính yếu của tập "Phật
học Phổ thông", khóa thứ tư này, vẫn nhắm đối tượng là diệt trừ bốn
món phiền năo căn bản của con người là tham, sân, si, mạn. trừ được
bốn món phiền năo ấy, từ phần thô thiển cho đến phần sâu kín, từ
nhành ngọn cho đến cội gốc, trừ bao giờ cho đến khi không thấy bóng
dáng của chúng trong tâm ta nữa, th́ khi ấy, con đường giải thoát tự
nhiên lộ bày ra trước mắt chúng ta.
Với hoài băo thiết tha ấy,
chúng tôi biên soạn tập Phật học Phổ thông này, để tŕnh bày với quư
vị Phật tử và độc giảt quư mến những phép tu mầu nhiệm để diệt trừ
phiền năo và tiến lên dường giải thoát.
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 1
Quán Sổ
Tức
A. Mở Đề
Bất luận trong công việc ǵ, sự
định tĩnh của tâm trí là một yếu tố chính yếu để thành công. Nhất là
công việc tu hành sự định tĩnh tâm thần lại càng quan trọng hơn nữa.
Người tu hành mà tâm trí luôn luôn tán loạn học trước quên sau, học
sau quên trước, tư tưởng thiếu tập trung, th́ dù có khổ công tu tập,
cũng khó được kết quả khả quan, v́ thế trong phần nhiều các tôn giáo,
người ta thường có những phút "lắng ḷng", tập trung tư tưởng vào
bên trong để khám phá nội tâm và soi sáng lẽ đạo. Riêng về Đạo Phật
th́ có những phép quán và thiện định. Về thiền đinh., chúng ta sẽ
t́m hiểu trong các bài nói về Lục độ ở phần sau tập sách này. Trong
bài này và bốn bài nối tiếp sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến phép
quán.
Phép quán đầu tiên mà chúng tôi
muốn nói đến là Sổ tức quán. Sở dĩ chúng tôi để bài quán Sổ tức này
đứng đầu trong năm phép quán, trước tiên, phải biết quán là ǵ, quán
như thế nào, và phải có một tâm trí định tỉnh không tán loạn. Muốn
được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đă thuần
phục rồi, th́ các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có
thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si mạn.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Quán Sổ tức là đếm hơi thở.
Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến
một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để hơi thở ra vào của
ḿnh, mà mục đích là để đ́nh chỉ tâm tán loạn.
II. V́ Sao Phải Đ́nh Chỉ tâm
Tán Loạn
Tâm trí chúng ta bị muôn việc ở
đời chi phối, khi vui khi buồn, khi lo việc này, khi suy nghĩ chuyện
khác, khi mừng khi giận, khi thương khi ghét, không bao giờ được
định tĩnh. Dù cho ta có ngồi yên một chỗ, khoanh tay lại, tâm trí
chúng ta cũng không dừng nghỉ, mà vẫn sống với đời sống lăng xăng
rộn ràng của nó. Bao nhiêu h́nh ảnh phức tạp như một cuốn phim hiện
lên trên màn ảnh của trí óc; và mỗi h́nh ảnh như thế lại mang theo
nó một cảm tưởng vui buồn thương ghét, cho nên khi ta ngồi yên, chỉ
là để cho thân xác được yên nghỉ, chứ c̣n tinh thần th́ vẫn hoạt
động, có nhiềụ khi lại hoạt động nhiều hơn cả lúc làm việc. Hầu hết
chúng ta đều khổ tâm, bực tức về sự hoạt động lỗi thời ấy của tâm
trí chúng ta: Không muốn nhớ nữa mà vẫn cứ nhớ, không muốn thương
nữa mà vẫn cứ thương, không muốn giận nữa mà vẫn cứ giận. Làm chủ
thể xác đă là khó, mà làm chủ tinh thần lại càng khó hơn. Nhất là
trong thế giới máy móc, phức tạp ngày nay, một thế giới đầy màu sắc
rộn ràng, âm thanh chát chúa, h́nh ảnh kỳ dị một thế giới cuồng loạn
trong ấy, trí óc không mạnh mẽ vững vàng th́ rất dễ bị rối loạn. V́
thế, theo các bản thống kê của các nhà bác học, số người mắc bệnh
điên mỗi ngày mỗi nhiều trong thế giới ngày nay.
Riêng trong phạm vi nhỏ hẹp,
chúng ta cũng nhận thấy có nhiều người học hành chẳng nhớ, gặp việc
hay quên, niệm Phật không thành công, tham thiền quán tưởng chẳng
kết quả, đều do sự tán loạn của tâm trí mà ra.
Vậy, muốn học hành mau nhớ, gặp
việc không quên, niệm Phật được nhất tâm bất loạn, tham thiền quán
tưởng được thành tựu, điều cốt yếu là phải làm sao cho tâm trí được
yên định.
V́ sao tâm trí được yên định,
th́ dễ đạt được những kết quả như trên? Ta hăy lấy một thí dụ thông
thường mà nhiều người đă kinh nghiệm: Khi ta học một bài thuộc ḷng
hay làm một bài toán vào lúc hoàng hôn hay giữa cảnh náo nhiệt, th́
ta thấy vất vả khó khăn vô cùng, v́ suốt ngày tâm ta đă mệt mỏi tính
toán lăng xăng, phân tán theo trần cảnh. Trái lại, cũng một bài học
đó, hay bài toán đó, mà trong buổi khuya thanh vắng, một ḿnh một
bóng với ngọn đèn, th́ ta lại học bài rất mau thuộc, làm bài rất mau
xong, tâm tánh ta h́nh như thông minh sáng suốt phi thường. V́ sao
vậy? V́ buổi khuya mới thức dậy, tâm trí ta yên tịnh, chưa bị trần
cảnh chi phối.
Ta có thể làm một thí dụ thứ
hai nữa để vấn đề càng thêm sáng tỏ: Một cây đèn dầu, mặc dù rất lớn
ngọn, nhưng khi thắp lên bị gió tứ phía đàn áp phải lung lay, leo
lét khi mờ khi tỏ, có nhiều khi gần muốn tắt. Một ngọn đèn như thế
chỉ làm hao dầu rất nhiều, chứ không thể soi sáng được ǵ hết. Nhưng
khi chúng ta lấy ống khói chụp lại, gió không đánh bạt được nữa,
ngọn đèn đứng thẳng và tỏa ánh sáng khắp gần xa, chiếu phá được một
vùng bóng tối trong đêm trường.
Cũng như ngọn đèn bị gió bạt
kia, tâm hành giả bị bát phong xuy động, thất t́nh lục dục chi phối,
lục trần bủa vây làm cho tán loạn, không soi sáng được ǵ cả. Vậy
hành giả, muốn cho tâm được minh mẫn th́ phải đừng cho nó tán loạn,
nghĩa là phải định tâm, định càng thâm th́ tâm càng tỏ, như ngọn đèn
càng đứng lặng, th́ ánh sáng càng tỏa. Phật dạy: "Tâm có định mới
phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trừ được vô minh để minh tâm
kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai
và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đă định mà phát minh trí huệ
sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô
sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, th́ không
việc ǵ chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm ḿnh hết tán loạn,
được yên định, th́ phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ
thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.
III. Những Điều Cần Biết
Trước Khi Quán Sổ Tức
Trước khi quán Sổ tức cần phải
theo đúng những điều sau đây:
1. Thức ăn: Phải ăn
những thức ăn hợp với cơ thể của ḿnh. Nếu ăn đồ nóng nẩy quá, th́
than thể sẽ bị bức rức, tâm sanh loạn động. Trái lại, nếu ăn những
vật sanh lănh, không tiêu hóa được , th́ thân thể sẽ nặng nề, lừ đừ
dễ sanh buồn ngủ.
2. Đồ mặc: Phải ăn mặc
cho hợp thời tiết. Khi trời nực, mặc đồ mỏng, khi trời lạnh, mặc đồ
ấm. Nếu trái lại thân thể mất sự điều ḥa, quán lâu có hiệu quả.
3. Chỗ ở: Phải ở chỗ
thanh vắng, th́ sự tu quán mới mau được thành công. Nếu ở chỗ ồn ào,
đối với người mới tu, không khỏi bị loạn động.
4. Thời giờ tu: Nên lựa
những giờ thanh vắng, như 10 giờ đêm, hay 4 giờ khuya. Nếu ở thành
thị th́ lựa giờ nào gia đ́nh ngủ hết, chung quanh bớt tiếng động.
5. Tắm rửa: Thân thể
phải thường tắm rửa sạch sẽ, để khỏi ngứa ngáy bức rức trong người.
6. Cách thức ngồi: Phải
ngồi kiết ǵa (hai chân tréo xếp lại gọn, thúc vào bắp vế cho sát),
hoặc ngồi bán già (chân mặt tréo lên chân trái hay chân trái tréo
lên chân mặt, thúc sát vào vế cho gọn gàng). Cách ngồi nầy đầu tiên
chưa quen, không sao khỏi bị tê chân (chỉ tê chân khi đang ngồi thôi);
qua thời gian hết tê rồi th́ đau mỏi cả hai chân. Khi hết đau mỏi,
về sau ngồi bao lâu cũng được.
7. Lưng: Lưng phải ngồi
thẳng như vách tường, để cho các khớp xương sống ăn chịu đều nhau,
như thế ngồi mới lâu được. Hành giả nên xem tấm vách tường kia, như
nó đứng thẳng, các viên gạch ăn chịu đồng đều, nên mới đứng lâu được
, nếu hơi nghiêng, cố nhiên nó phải ngă.
8. Hai tay: Hai cánh tay
ṿng xuôi xuống, hai Bàn tay để trên hai chân, tay mặc gác lên tay
trái, cách thức như Phật ngồi (xem h́nh đức Trung Tôn ngồi trong mỗi
chùa).
9. Cổ và đầu: Cổ phải
thẳng, đầu hơi ngă tới, hai mắt chỉ mở một phần tư (nếu mở mắt lớn
th́ tâm dễ bị loạn động, c̣n nhắm lại th́ sanh hôn trầm).
IV. Phương Pháp Sổ Tức
Khi đă ngồi yên ổn đúng với như
cách thức đă nói trên, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm,
phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều ḥa
và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả,
và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên
nhiên.
Khi thở ra, hành giả phải tưởng:
"những điều phiền năo: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người
đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không c̣n một mảy may nào". Khi hít
vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt
của vũ trụ đều theo hời thở thấm vào bủa khắp thân tâm".
Khi đủ mười hơi rồi, hành giả
bắt đầu thở đều đều , không dài không ngắn, không mau không chậm,
phải thở nhẹ nhàng như hơi rùa thở. Nếu thở mau và dài th́ tâm sanh
loạn động, c̣n thở chậm và ngắn, th́ tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất
kiết, có khi lại sanh ra giải đăi, rồi tâm dong ruổi duyên theo
ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, không mau không
chậm, th́ trong người mới được thư thới khỏe khoắn.
Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở.
Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau:
1. Đếm hơi lẻ. Nghiă là
thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, thở hơi ra đếm ba, thở hơi
vô đếm bốn, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm
từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong
khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ư.
2. Đếm hơi chẵn. Nghĩa
là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai,
cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, măi cho đến khi đi ngủ.
Phương pháp đếm hơi chẳn này
rất thông dụng,, xưa nay người ta vẫn thường dùng, và đếm hơi thở ra
dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi).
3. Đếm thuận. Nghĩa là
đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được , những tuần tự từ một
đến mười.
4. Đếm nghịch. Nghĩa là
cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một.
Bốn phương pháp này, tùy ư hành
giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho
nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho ḿnh và khỏi lộn, là thành
công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.
V. Những Điều Lầm Lộn
Thưiờng Xảy Ra Trong Khi Đếm Hơi Thở
Những điều lầm lộn mà hành giả
thường mắc phải trong khi mới bắt đầu tu phép Sổ tức là:
1. Tăng. Nghiă là thở ít
mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm
liền nhảy lên đếm tám v.v..
2. Giảm. Nghiă là thở
nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy
rồi lại đếm sáu v.v..
3. Vô kư. Nghĩa là không
nhớ rơ ḿnh đă đếm đến số mấy rồi.
Mỗi khi lầm lộn như thế, phải
bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không c̣n mắc phải những
lầm lộn nói trên, th́ tâm trí mới được yên tịnh.
C. Kết Luận:
Quán Sổ tức là một phương pháp
đối trị tâm tán loạn rất hiệu nghiệm và rất thông dụng trong các môn
phái của Phật giáo, từ Tiểu Thừa cho đến Đại Thừa, từ các nước Á
Châu đến Tây phương. Nhất là trong các giới Phật tử Nhật bản và Âu
châu, pháp quán này rất được thịnh hành. Người tu hành áp dụng pháp
quán này th́ tâm hết tán loạn niệm Phật mau được "nhất tâm bất loạn"
tham thiền quán tưởng mau được thành công.
Không những kẻ tu hành, người
thế gian cũng nên theo pháp quán này, th́ thân thể sẽ được khỏe mạnh,
tinh thần sẽ được yên tịnh thư thới, trí tuệ lại sáng suốt,, học
hành mau nhớ, suy tính, phán đoán công việc làm ăn được mau lẹ và
phân minh.
Nhưng trong mọi công việc ǵ
cũng vậy, muốn thành công, tất phải kiên nhẫn bền chí. Phương pháp
dù hay đẹp bao nhiêu mà thiếu chuyên tâm tŕ chí, th́ cũng không đưa
đến kết quả khả quan nào cả. Chúng ta hăy xem người lái đ̣ chèo
ngược nước kia, nếu chèo được năm bảy mái chèo lại buông tay ngồi
nghỉ, th́ không những chẳng đi tới được bến bờ đă định, mà c̣n thụt
lùi c̣n rất xa nữa. Cổ nhân cũng dạy: "Giả sử có một thứ giống ǵ dễ
trồng, mà một ngày nắng, mười ngày lạnh, th́ giống đó cũng khó sinh".
Vậy hành giả đừng nên thấy phép quán này dễ mà khinh lờn, giăi đăi,
tu một ngày nghỉ mười ngày, làm như thế tất nhiên không bao giờ được
thành công.
Ngoài sự chuyên cần, hành giả
c̣n phải theo đúng lời chỉ dẫn trên này, áp dụng đúng phương pháp
th́ mới được kết quả mỹ măn.
Là Phật tử , phải thực hành
pháp môn Sổ tức này để cho tâm trí hết tán loạn, trí huệ dễ phát
sinh, vô minh chấm dứt và trở lại với bản tâm thanh tịnh của ḿnh.
Nói một cách thiết thực hơn nữa,
nếu muốn tu các pháp quán trong "Ngũ đ́nh tâm quán ", mà chúng tôi
sẽ đề cập đến trong những bài sau, trước tiên phải tập quán cho
thuần thục phép Sổ tức này. Nếu quán này chưa thành công, nghĩa là
tâm đang c̣n tán loạn, mà đă vội quán những pháp khác, như "Bất tịnh
quán , Từ bi quán" v.v...th́ chẳng khác chi xây lầu trên cát, thế
nào cũng sẽ bị sụp đổ.
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 2
Quán Bất
Tịnh
A. Mở Đề
Trong thế gian này, không có ai
là không tham sống. Sự tham sống này vô cùng mănh liệt, v́ nó được
di truyền, tiếp nối từ muôn vạn thế kỷ cho đến nay. V́ tham sống nên
chúng sinh t́m hết mọi cách để được sống, để trau dồi thân mạng, và
để di truyền sự sống. V́ tham sống nên người bất chấp cả sự bất công,
phi lư và tàn nhẫn, xấu xa mà ḿnh có thể phạm đến đối với những
người và vật khác ở chung quanh. V́ tham sống, người ta đă không từ
chối hiếp đáp, giành giựt, cướp bóc, chém giết đồng loại, và có khi
cả đến đồng bào thân thích nữa. Tóm lại, sự tham sống là một nguyên
nhân chính của khổ đau, tán phá và chết chóc.
Vả lại, càng tham sống bao
nhiêu lại càng sợ chết bấy nhiêu. Mà đă sợ th́ không bao giờ có thể
vui được.
Hơn nữa, có ai sợ chết mà thoát
được chết đâu? Đă có sống th́ tất phải có cái trái lại là chết.
Chúng ta thấy đó, ḷng tham sống đem lại cho ta biết bao hậu quả tai
hại, buồn thảm, xấu xa.
Nhưng cuộc đời, thân mạng, thật
có quư báu, thật có xứng đáng cho chúng ta tham lam, mến chuộng đến
thế không.
Để xét đoán đúng đắn giá trị
của thân mạng, đức Phật dạy chúng ta thực hành một pháp quán. Pháp
quán đó mệnh danh là "quán Bất tịnh".
B. Chánh Đề
"Bất tịnh" nghĩa là không sạch
sẽ, trong lành. Quán Bất tịnh tức là quán sát một cách tỷ mỉ, cùng
tột thân con người để nhận thấy rơ rằng nó là không trong sạch, như
hầu hết con người đời đều lầm tưởng.
II. Quán Bất Tịnh Như Thế
Nào
Trong bài thứ bảy của tập Phật
học Phổ thông khóa III, chúng ta đă được biết sơ qua về pháp quán
Bất tịnh như thế nào rồi. Nhưng trong bài đó, chúng ta chỉ mới biết
một phần của pháp quán Bất tịnh mà thôi, nghĩa là hành giả, muốn
thấy thân xác là Bất tịnh như thế nào, th́ vào "thi lâm" (rừng bỏ
xác người chết) để quán sát. Nhưng cái quán sát như thế, cũng chỉ
mới biết một phần của cái thân Bất tịnh này mà thôi. Hơn nữa, cái
phần ấy cũng không phải là phần quan trọng, v́ nó thuộc về giai đoạn
sau khi chết. Nhất là đối với hạng người có quan niệm: "chết là hết",
th́ "quán thây ma" như thế chưa phải là phương thuốc mầu nhiệm để họ
nhàm chán cái thể xác của ḿnh và của người khác. Muốn cho họ nhàm
chán, ghê tởm cái thể xác th́ phải chỉ cho họ thấy tận mắt cái "Bất
tịnh" của nó, từ khi nó bắt đầu thành h́nh cho đến khi nó bị hủy
hoại, từ trong cho đến ngoài, từ thể cho đến tướng. Để sự quán sát
được rốt ráo, hành giả phải ra làm năm phần, tuận tự như sau:
Quán chủng tử bất tịnh
Quán trụ xứ bất tịnh
Quán tự tướng bất tịnh
Quán tự thể bất tịnh
Quán chung cánh bất tịnh
Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt
giải rơ năm phần quán trên
1. Quán chủng tử bất tịnh.
Chủng tử là một hột giống, là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh.
Sự vật nào cũng có nguyên nhân của nó. Thân ta vật hữu vi dĩ nhiên
cũng phải có chủng tử của nó.
Chủng tử của thân mạng gồm có
hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất. Phần tinh thần này cũng
gọi là phần thức. Thức này là nơi dung chứa tất cả nghiệp nhân lành,
dữ của thân, khẩu, ư trong quá khứ; v́ thế nên cũng gọi là tạng thức
(tạng hay tàng nghĩa là nơi chứa nhóm). Khi con người chết cái tạng
thức ấy vẫn c̣n, và theo nghiệp lực thiện, ác của nó mà dẫn sanh ở
các loài, hoặc trầm luân, hoặc giải thoát. Nó là chủ nhân ông của
kiếp sống, là sanh lực của loài hữu t́nh
Cái tạng thức hay thần thức này
lẽ dĩ nhiên là không bào giờ trong sạch cả, v́ nó là kết tinh của
những nghiệp nhân phiền năo: tham, sân, si. Hễ tham, sân, si..là
nhiễm ô, là Bất tịnh.
Đă Bất tịnh th́ tất phải t́m
bạn Bất tịnh mà kết giao (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu).
Thần thức nầy, để thể hiện một đời sống khác, đă gá vào, ḥa ḿnh
vào một chất Bất tịnh. Chất ấy tức là cái điểm ḥa hiệp của tinh
cha, huyết mẹ. Nói cách khác rơ ràng hơn, tức là cái thai mới kết tụ
vậy. Mà tinh huyết là ǵ? Chính là hai chất hôi tanh ở trong con
người. Sự Bất tịnh của nó, tưởng không cần nói, ai ai cũng đă rơ.
Xem thế th́ đủ biết cái chủng
tử, cái điểm khởi đầu của một thân mạng con người, từ tinh thần cho
đến vật chất, đều là nhiễm ô Bất tịnh cả, không có ǵ đáng để tự hào
và quí chuộng.
Trong khi quán , hành giả phải
vận dụng, tập trung ư lực để tưởng tượng một cách rỏ ràng, như thấy
trước tất cả sự Bất tịnh của chủng tử, để mà nhàm chán thân người,
dẹp ḷng tham luyến.
2. Quán trụ xứ bất tịnh.
Trụ xứ là chỗ ở. Như chúng ta đă thấy ở đoạn trên, chủng tử, cái
thai hay con người mới cấu thành là một khối hôi tanh, th́ nơi ở của
nó cũng không sạch. Kẻ xấu xa, dơ bẩn th́ t́m hoàn cảnh xấu xa, dơ
bẩn mà sống, đó là một lẽ thường, không có ǵ là khó hiểu. Nói một
cách rơ ràng hơn, chỗ ở của cái thai mà chúng tôi muốn nói đây, tức
là cái bào thai. Cái bào thai, không nói, ai cũng biết là một cái
bọc chứa đầy máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn. Cái bào thai nằm lẫn lộn và
lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ bẩn ấy, như trong một cái ngục tối.
Nhưng trong ngục, dù sao cũng c̣n có khoảng trống để xê dịch, c̣n có
cửa thông hơi để ánh sáng và không khí lọt vào. Chứ trong bào thai
th́ cái thai phải nằm co rút lại, đẫm ḿnh trong những chất nước,
máu và nhớt vô cùng tanh hôi, và không có được một chút không khí
hay ánh sáng mặt trời lọt vào. Cái thai phải sống trong hoàn cảnh ấy
không phải chỉ một ngày, một tuần hay một tháng mà phải đến chín
tháng mười ngày mới thoát ra được. Không trách ǵ, khi mới ra chào
đời, nó đă khóc thét lên...Cụ Ôn Như Hầu Nguyễn gia Thiều th́ bảo nó...
"Khóc v́ nỗi thiết tha sự thế",
"Ai bày tṛ băi bể nương dâu".
Nhưng theo chỗ chúng tôi nghĩ,
nó khóc v́ thiết tha cho sự thế vô thường th́ chỉ một phần, mà khóc
v́ tủi cực, khóc để phản đối sự giam cầm quá lâu lắc quá tàn nhẫn,
quá thiếu vệ sinh, quá mất "nhân phẩm" th́ đến mười !
Vậy quán trụ xứ Bất tịnh có
nghĩa là vận dụng toàn lực ư niệm để nhận chân một cách rơ ràng như
thấy trước mắt cái dơ bẩn, cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở chủng
tử, hầu dẹp ḷng rạo rực ham muốn tham đắm sắc thân người.
3. Quán tự tướng bất tịnh.
Sau khi đă thoát bào thai mà ra chào đời bằng những tiếng khóc, đứa
bé bắt đầu sống một đời sống riêng biệt, có đầy đủ giác quan để tiếp
xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ phận cần thiết để điều ḥa cuộc sống
thể xác của ḿnh. Những giác quan bên ngoài và bộ phận bên trong ấy,
thường bài tiết những chất dơ bẩn, hôi hám; do đó, ta biết rằng cái
thân này không trong sạch. Vậy quán tự tướng không sạch sẽ, mà mỗi
người đều có thể nhận thấy được , khi nh́n qua cái h́nh tướng bên
ngoài của xác thân...
Trong mỗi thân xác, ngoài những
lỗ chân lông thường bài tiết những mồ hôi là những thứ nước gần
giống như nước tiểu, c̣n có chín lỗ nữa, mỗi ngày cũng tiết ra nhiều
chất nhơ nhớp, hôi hám, gớm ghiếc. Chín lỗ ấy là: đường đại, đường
tiểu, miệng, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và hai con mắt. Chín lỗ này
chẳng khác ǵ chín "cái cống", lớn có, nhỏ có để tải những thứ nhơ
nhớp trong ngoài ra. Nói một cách không quá đáng, th́ chín lỗ cống
này c̣n dơ hơn cả những lỗ cống ta thường thấy ở các đô thị nữa.
Thật thế, một lỗ cống dơ nhất cũng chỉ chứa đựng những thứ như nước
tiểu, phần đờm, mũi, dăi, ghèn, nhưng ít ra những thứ ấy cũng c̣n
pha trộn và chảy theo với nước lă; chứ chín lỗ trong người chúng ta,
chỉ bài tiết rặt những thứ nguyên chất nói trên, mà không pha trộn
với nước lă như ở các lỗ cống.
Đấy là mới nói khi thân xác
đang c̣n mạnh khỏe, cường tráng; chứ khi đau ốm, già nua thân xác
không tự làm chủ được nữa, th́ những lỗ ấy tự động xuất phát, hay tự
do để cho các thứ dơ bẩn trong người chảy ra, th́ lại càng ghê ghớm
hơn nữa. Những lúc ấy th́ những "nguyên chất" nói trên lại càng hôi
hám, ung độc không khí một cách gay gắt, khó thở hơn nữa.
Những điều chúng tôi nói trên
đây không phải là quá đáng. Nếu b́nh tâm mà xét, chúng ta sẽ thấy
thân của mỗi chúng ta thật đáng ghê tởm. Nhưng ít khi chúng ta thừa
nhận như thế, v́ từ lâu đời lâu kiếp, với tánh mê chấp, với tâm tham
đắm, nhăn quang của chúng ta như có một bức màn nhung lụa phủ ngang,
nên chúng ta trông cái ǵ cũng thấy đẹp. Và cho đến khi bức màn ấy
đă bị xé toang rồi, sự thật xấu xa, dù có bày ra lộ liễu trước mắt,
chúng ta cũng bàng hoàng, không cho là thật. V́ thế cho nên hành giả
muốn thành công và nhàm chán cái thân này, phải quán tưởng nhiều lần,
từ ngày này sang ngày khác, cho đến khi nào nhận thấy một cách rơ
ràng thân này quả thật là bất tịnh mới thôi.
4. Quán tự thể bất tịnh.
Như chúng ta đă thấy chín lỗ cống trong người, mỗi ngày bài tiết
không biết bao là thứ nhơ nhớp. Vậy chắc chắn bên trong thân xác,
những chất liệu cấu kết nên thể xác chúng ta, cũng không trong sạch
được. Vậy quán tự thể bất tịnh là quán sát cái thể chất của thân
người, để nhận thấy nó bất tịnh như thế nào.
Thể chất của con người đại khái
gồm có ba chất:
Chất cứng: như xương, tóc, lông,
móng tay v.v...
Chất lỏng: như máu, nước miếng,
nước mắt v.v...
Chất sệt: (không cứng mà cũng
không lỏng) như mỡ, óc, tủy v.v...
Trong các chất ấy, dù cứng, hay
lỏng cũng chẳng có thứ nào là trong sạch.
Về chất cứng, như tóc chẳng hạn,
là một vật mỹ quan để chưng diện trên đầu. Thế thường ai cũng quư nó.
Nhưng nếu không săn sóc nó một cách chu đáo, không sửa soạn nó một
cách công phu, nghĩa là không trâm cài, lượt giắt, không chải chuốt,
gội rửa, xức ướp nước hoa, mà để bê tha cho nó tự do quét bụi, tự do
dầm sương dăi nắng, tự do rối nùi lại để làm ổ chứng cho trứng chí
simh nở, th́ dù cho không xua đuổi, người ta cũng chạy dài, không
dám lại gần. Đó là chưa nói khi nó bị đốt cháy hay rời da đầu, rơi
vào thức ăn hay vào trong miệng, th́ thật là nguy hiểm vô cùng. Tóc
là thứ ở nơi cao quư của người mà c̣n bất tịnh như vậy, th́ những
thứ khác như ruột, gan v.v...lại c̣n bất tịnh biết chừng nào?
Về chất lỏng, th́ nước miếng là
sạch nhất, v́ nó được ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi
súc rửa nhiều nhất. Thế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay
của chính ḿnh, rủi bị dính vào mặt, vào áo, th́ ta liền có những cử
chỉ tỏ rơ sự nhờm gớm ngay.
Về chất sệt, th́ năo là phần
quan trọng và được ở trong đầu óc là nơi cao quư nhất. Nhưng thử
tưởng tượng, khi chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người
ngồi bên cạnh ta bị bể đầu, năo trắng như đậu hủ tung tóe vào mặt
mày chúng ta, th́ chắc chắn những người thiếu b́nh tĩnh sẽ chết giấc
v́ ghê tởm.
Chỉ đơn cử một vài ví dụ trên,
cũng đủ thấy rơ được cái bất tịnh nhiều nữa, và chắc chắn một số quư
vị độc giả sẽ nhờm gớm mà không đọc tiếp nữa.
5. Quán chung cánh bất tịnh.
Chung cánh ở đây là muốn nói cái giai đoạn hư hoại của thân người
sau khi trút hơi thở cuối cùng. Vậy quán chung cánh bất tịnh nghĩa
là cái bất tịnh của thân người sau khi chết.
Đây là thời kỳ chung kết của
mấy mươi năm sinh trưởng của thân thể. Trong kinh đức Phật đă bảo:
Thân người do tứ đại giả hiệp mà thành, như thế dĩ nhiên khi chết,
xác con người phải trả về cho tứ đại. Trước hết, là hơi thở về với
phong đại. Kế là hơi ấm trở về với hỏa đại. Tiếp theo là chất lỏng
trong người trở về với thủy đại, và cuối cùng chất cứng và sệt như
thịt xương...hóa dẫn theo địa đại. Nhất là hai thứ sau này, trong
thời kỳ mềm hư, tan ră th́ thế gian này không c̣n thứ ǵ nhơ nhớp,
hôi hám, ghê tởm hơn nữa. Dù cho xác chết trước kia là người thân
mến nhất đời, nhưng để năm bảy ngày chưa kịp tẩn liệm, chôn cất th́
ta vẫn ghê tởm, không thể đến gần bên cạnh mà không bịt mũi. Sự thật
tàn nhẫn này được phơi bày nhan nhản khắp nơi trong những giai đoạn
chiến tranh. Nói một cách tổng quát từ kẻ sang đến người hèn, từ kẻ
giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ, từ kẻ đẹp đến người
xấu, ai ai đến giai đoạn chung cánh này, cũng chỉ có một mùi giống
nhau: mùi hôi; một chất như nhau: chất thúi. Cái bất tịnh của con
người trong giai đoạn kết thúc này đă rơ rành rành, tưởng không cần
giải bày thêm nữa. Vả lại, trong bài thứ bảy của tập Phật học Phổ
thông khóa thứ ba, cũng đă nói một cách tường tận đến cái bất tịnh
của thân người trong giai đoạn này rồi. Nếu quư độc giả nào không
nhớ, xin hăy đọc lại đoạn ấy.
Tóm lại, qua năm giai đoạn quán
bất tịnh này: chủng tử, trụ xứ, tự thể và chung cánh, chúng ta đă có
một quan niệm rơ ràng, chân xác về cái bất tịnh của thân người. Cả
một thời gian đằng đẵng, từ lúc đầu thai đến khi bị vùi xuống đất,
quả thật thân người không t́m thấy một tí ǵ thơm sạch. Dầu có tài
hùng biện đến đâu, cũng không ai có thể ngụy biện cho cái thân bất
tịnh trở thành thanh tịnh được.
III. Mục Đích Và Lợi Ích Của
Quán Bất Tịnh
Có người hỏi: Tại sao trong khi
cuộc đời đă xấu xa, đau khổ, đức Phật lại c̣n vạch thêm cho người ta
thấy cái dơ bẩn nhớp nhúa của thân người làm ǵ? Tại sao không cho
người đời có cái ảo ảnh rằng thân người là đẹp đẽ, trong sạch để họ
có thể được an ủi và quên lăng một phần nào cái xấu xa của kiếp
người, mà lại làm cho đời thêm chán chường, tuyệt vọng khi nhận rơ
cái thân bất tịnh của ḿnh?
Trước tiên, chúng ta phải nhận
định dứt khoát rằng: Đạo Phật là "Đạo như thật", đạo của chân lư.
Đức Phật không muốn lừa phĩnh chúng sinh, lấy xấu xa làm tốt, lấy dở
làm hay, hoặc trái lại.
Thứ đến, chúng ta đừng bao giờ
quên rằng: chính cái vọng tưởng rằng thân người là thơm sạch, đẹp đẽ
đă gây tai họa lớn cho người đời. V́ lầm tưởng thân người có giá trị
quư báu, nên đối với chính thân ḿnh th́ người ta nâng niu, cưng
dưỡng, t́m hiểu mọi cách, không từ một hành vi xấu xa nào để nuôi
dưỡng phụng sự nó; đối với thân người khác giống th́ say mê, đắm
đuối, t́m mọi cách để chinh phục, làm của riêng của ḿnh. V́ sự đánh
lầm giá trị, tham đắm sắc thân giả dối ấy mà cuộc đời chung cũng như
cuộc đời riêng, đă xấu xa lại càng thêm xấu xa, đă đen tối lại càng
thêm đen tối.
Lại nữa, khi đă đánh lầm giá
trị lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy thúi làm thơm, th́ tất
nhiên cái đẹp cái hay, cái thơm chân thật sẽ bị bỏ rơi, không c̣n
được biết và dùng đến. Loài người đă v́ tham đắm cai xác thân nhỏ
hẹp, xấu xa, ngắn ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng lớn đẹp đẽ trường tồn.
Vậy đức Phật khi đă xé tan cái
màn ảo ảnh bao bọc xác thân và làm lộ nguyên h́nh cái xác thân bất
tịnh là nhắm mục đích hướng tầm mắt và sự hoạt động của kẻ tu hành
vào cái giá trị chân thật đẹp đẽ, rộng lớn và trường tồn hơn.
Nhưng chúng ta cũng đừng nên
kết luận một cách sai lầm rằng: cái thân này đă là bất tịnh, thối
tha, th́ hăy diệt ngay nó đi, như năm chục vị Tỳ kheo đă làm, sau
khi nghe Phật thuyết pháp về cái thân bất tịnh. Làm như vậy là đă
xét đoán một cách nông nổi, máy móc ! Đừng khinh trong túi đất dơ
không có ngọc, chớ cho trong bể nước mặn không có vàng. Chớ nên
tưởng rằng trong thân bất tịnh này không có Phật tánh ở đâu xa. Đức
Phật thường dạy: Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Trong kinh Lăng
nghiêm, Ngài lại phát minh Phật tánh "bất sinh diệt" trong cái sinh
diệt. Phật tánh hay tánh bất sinh diệt là căn bản tinh thần của ta
đó. Nó th́ vô h́nh những không mất, lẫn lộn trong "bất tịnh" mà
thường vẫn thanh tịnh.
Biết lợi dụng cái thân bất tịnh,
vô thường này, mà t́m ra cái "tịnh" cái "thường", ấy chính là bổn ư
của đức Phật khi dạy pháp quán tưởng này.
C. Kết Luận
Chơn tâm con người vẫn là tâm
thanh tịnh; nó nằm sẵn trong xác thân bất tịnh của mỗi chúng sinh.
Nhưng v́ con người đời bị phiền năo tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh
gạt nên say mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không
thấy được bản tâm thanh tịnh.
Muốn chận đứng sự tham đắm quay
cuồng ấy, đức Phật dạy phải quán bất tịnh.
Vậy quán bất tịnh có mục đích:
Đối trị ḷng tham sắc dục, chứ
không phải để chán đời, tự hủy diệt ḿnh.
Dứt trừ vọng niệm và giác ngộ
Phật tánh, để tiến mạnh trên đường giải thoát cho ḿnh và cho người.
Nhưng, vàng không tự nhiên nằm
sẵn trong tủ, ngọc chẳng phải nằm khơi trên đất. Phật tánh cũng vậy:
Nó không tự hiến cho ta khi ta an nhiên ngồi đợi. Vậy kẻ tu hành
muốn thành tựu phép quán này để giác ngộ Phật tánh, cần phải gia
công tu luyện, và nhất là phải trau giồi ba đức tánh sau đây:
Sáng suốt (trí huệ):
Đừng để cho dục vọng làm mờ mắt, lấy giả làn chơn, lấy xấu là đẹp.
Đừng hời hợt nh́n bên ngoài, mà phải sâu sắc nh́n hẳn vào bên trong.
Thành thật: Thấy thơm
th́ nói thơm, thấy thối th́ nói thối, đừng tự ái, đừng thiên vị, chỉ
một mực tôn thờ sự thật, dù sự ấy làm cho ta đau ḷng, buồn tủi.
Kiên nhẫn: Phải bền tâm,
tŕ chí, đừng thấy khó mà ngả ḷng; đừng thấy đường dài mà lùi bước.
Ở đời không có công việc ǵ tốt đẹp mà chẳng gặp khó khăn. Một nửa
sự thành công là do ở kiên nhẫn. Nếu chúng ta có đủ ba đức tánh nói
trên, nhất định ta sẽ thành tựu tốt đẹp, trong pháp quán bất tịnh
này.
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 3
Quán Từ
Bi
A. Mở Đề
Trong các nguyên nhân gây ra
đau khổ cho ḿnh và cho người, tánh nóng giận là một nguyên nhân lớn,
chẳng kém ǵ ḷng tham lam và tánh ngu si. Từ vô thỉ đến nay sự xây
dựng của loài Người lớn lao vô kể; những sự phá hoại v́ ḷng giận dữ
của họ, cũng lớn lao vô cùng. Loài người xây rồi phá, phá rồi xây
không ngừng, chẳng khác ǵ những đứa trẻ xây nhà trên cát, xây xong
rồi đạp đi, để rồi xây lại. Và nguyên nhân của sự phá hoại ấy là
ḷng nóng giận. Có những sự nóng giận nho nhỏ trong nhà giữa vợ
chồng làm đổ vỡ chén bát; có những sự nóng giận giữa anh em làm u
đầu sưng trán; có những sự ṇng giận giữa bạn bè làm đoạn tuyệt
đường đi lối về; có những sự nóng giận giữa t́nh địch, hay đồng
nghiệp kinh doanh cần phải thanh toán bằng lưỡi dao, mũi súng hay lọ
át xít; có những sự nóng giận lớn lao hơn, giữa nước này với nước
khác, màu da này với màu da nọ, chủ nghĩa này với chủ nghĩa kia, mà
kết liễu là những thấy ma nằm ngổn ngang trên băi chiến trường,
những kẻ tật nguyền trong các bệnh viện, và những chiếc khăn tang
trên đầu các cô nhi quả phụ...
Tất cả những tai họa trên đều
do sân hận mà ra. Sân hận nằm sẵn trong ḷng mỗi người, như những
ngọn lửa âm ỉ cháy, như những ng̣i thuốc súng sẵn sàng bùng nổ bất
luận lúc nào. Lửa gặp lửa, thuốc súng gặp thuốc súng, không nói,
hẳng ai cũng biết tai hại do chúng gây ra lớn lao như thế nào !
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Thông thường, người ta có quan
niệm sai lầm rằng: Từ bi là bi lụy, mềm yếu, than khóc, tiêu cực...Người
ta tưởng rằng hễ đă từ bi , th́ ai muốn làm thế nào ḿnh cũng chịu,
sống trong hoàn cảnh thế nào ḿnh cũng theo, thiếu tinh thần tiến
thủ...Tóm lại, từ bi theo nghĩa thông thường là than khóc và nhu
nhược.
Những thật ra, từ bi theo Đạo
Phật có nghĩa khác xa. Phật dạy: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh
chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ". Nghĩa là Từ cho
vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài.
Diệt khổ và cho vui đó là tất cả nguyện vọng và hành động lợi tha,
cứu đời của người có ḷng từ bi. Thế nên, từ bi không phải là thụ
động, là trốn đời hay nhu nhược. Cái khổ và cái vui nói ở đây không
chỉ là khổ và vui vật chất mà c̣n cả khổ và vui tinh thần.
Hết khổ và được vui tức là khía
cạnh của cuộc đời, nhưng không thể rời bỏ nhau được. Khi được vui
một phần nào, tức là đă bớt khổ một phần nào, ấy là trong Từ có Bi;
và trái lại, khi bớt khổ một phần nào, tức là đă được vui một phần
ấy như thế là trong Bi có Từ. Cũng như một đứa bé đang khổ sở v́ đi
lạc đường, bỗng có ai chỉ đường cho nó, nó liền vui mừng và hết khổ.
Vậy từ bi là một ḷng thương
rông lớn vô biên, nó xui khiến người ta vận dụng tất cả khả năng,
tâm tư, phương tiện để làm cho mọi người, mọi vật thoát khổ được
vui.
II. So Sánh Từ bi Với Bác
Ái
Bác ái là t́nh thương yêu rộng
lớn. Như thế th́ bác ái và từ bi đều có một tánh chất giống nhau ở
chỗ rộng hẹp, sâu cạn mà thôi. Có người cho rằng bác ái rộng hơn từ
bi.Cho như thế là v́ chưa hiểu rơ hai chữ Từ bi. Như trên đă định
nghĩa: Từ là cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ mọi nỗi khổ
cho tất cả mọi loài. Chúng ta đă biết Phật dùng hai chữ chúng sinh
là để chỉ cho tất cả mọi sinh vật. Vậy Từ là cho vui tất cả mọi sinh
vật, chứ không phải riêng cho loài người. Tất cả mọi vật có sự sống
đều được chung hưởng t́nh thương ấy. C̣n Bi là diệt trừ mọi nỗi khổ
cho chúng sinh. Chúng ta nên để ư là trong câu định nghĩa chữ Hán,
các kinh dùng chữ "bạt" nghĩa là nhổ tận gốc rễ. Vâng, nhổ tận gốc
rễ của cái khổ chứ không phải chỉ thoa dịu cái quả khổ trong hiện
tại, mà để mặc cho cái nhân gây ra khổ măi về sau. Người có ḷng Bi
là vừa thoa dịu vết thương đau khổ trong hiện tại và vừa chữa cho
khỏi nguyên nhân hay gây ra đau khổ, như người làm vườn, không phải
chỉ phác cho sạch cỏ trên mặt đất, mà c̣n đào sâu xuống dưới, nhổ
cho hết gốc rễ của cỏ nữa.
Như thế th́ Từ bi, về phương
diện không gian, bao gồm tất cả mọi loài, c̣n về phương diện thời
gian, bao gồm tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n bác ái th́
chỉ chú trọng nhiều về loài người mà ít để ư đến sinh vật; và chỉ lo
cứu khổ, cho vui trong hiện tại mà ít nghĩ đến cái quả trong tương
lai.
Nói một cách khác, Từ bi là gồm
hết nghĩa bác ái ở trong ,c̣n bác ái th́ chẳng trùm được lư Từ bi.
III. Từ Bi Cứu khổ Và Cho
Vui Như Thế Nào
Trong khi so sánh Từ bi với Bác
ái, chúng tôi đă nói, về phương diện không gian, Từ bi bao gồm tất
cả mọi loài. Thật thế, t́nh thường của Đạo Phật vô cùng rộng lớn.
Phật dạy không được sát sinh người mà cả muôn loài vật nữa. Người
Phật tử chân chính, triệt để tuân theo lời Phật dạy, không những
không giết hại sinh vật để ăn, mà cũng không giết hại sinh vật trong
các cuộc săn bắn hay câu cá để mua vui. Ngày xưa, các vị Tỳ kheo
trước khi uống nước ao hồ, phải dùng một cái lọc để lọc nước, như
thế vừa hợp vệ sinh, vừa tránh khỏi sát sinh những sanh vật nhỏ ở
trong nước. Mỗi khi vào cầu, những người tu hành phải gơ xuống đất
ba tiếng, để cho những sinh vật dưới cầu biết mà tránh trước. Những
cử chỉ ấy mặc dù nhỏ nhặt, những đă thể hiện được một cách chân
thành ḷng từ bi của người Phật tử chân chính. Chính nhờ ḷng từ bi
ấy mà cuộc đời bớt tàn khốc, chiến trường được thu hẹp, người và vật
không c̣n sát hại nhau, mà trái lại c̣n xem nhau như anh em.
Nhưng nếu chỉ cho vui và diệt
khổ trong hiện tiền mà không nghĩ đến cho vui và diệt khổ trong
tương lai th́ cũng chưa gọi là Từ bi. Bởi thế, cần phải gây nhân vui
và diệt nhân khổ. Nhân vui và nhân khổ ở đâu mà có? Trong kinh
thường dạy: Khổ do nghiệp, nghiệp do hoặc. Hoặc tức là phiền năo.
Phiền năo đều ở trong tâm mỗi chúng ta. Tâm
là nguồn gốc của mọi hành
động, của mọi kết quả. Vậy th́ quả khổ hay vui chỉ do tâm cả. Tâm
chúng sinh đầy dẫy phiền năo tật xấu, dung chứa vô số hạt giống cay
chua, đắng độc. Dĩ nhiên, những mầm mống ấy sẽ trổ ra những quả khổ
gian lao. Bởi thế, Đạo Phật rất chú trọng vấn đề tu tâm, dưỡng tánh
cho chính ḿnh và người.
Muốn cứu khổ cho thật t́nh,
chẳng những lo cứu khổ quả, mà c̣n phải trừ nhơn khổ cho sớm. Thế
mới đúng như định nghĩa đă nói ở trên về chữ BI (Bạt nhứt thiết
chúng sinh chi khổ). Chẳng hạn, muốn một người nào khỏi bị cái khổ
tù đày, lao lư, bắt bớ, hành hạ, ta phải dạy họ đừng tham lam, trộm
cướp và cần thiết phải biết bố thí, quư trọng của cải của người.
Muốn cho người nào khỏi khổ v́ sự chia rẻ, sát hại, thù hằn, ta phải
dạy cho họ đừng sân mà cần phải biết nhu ḥa, nhẫn nhục. Muốn cho
người nào khỏi khổ v́ sự ngu si cám dỗ, bóc lột, khinh hèn, ta phải
dạy cho họ được sáng suốt, giác ngộ cảnh đời. Khi họ hiểu rồi, tất
nhiên không bảo họ tránh khỏi, họ vẫn tránh.
Muốn cho sự nghiệp lợi tha này
được hoàn toàn, người tu hạnh Từ bi,c̣n có bổn phận phải chỉ bảo cho
người chung quanh những phương pháp tu hành cho có hiệu quả, như
niệm Phật, tham thiền chẳng hạn, để cho tâm địa của họ được tăng
trưởng công đức lành.
IV. Phương Pháp Quán Từ Bi
Trong các đoạn trên, chúng ta
đă phân tách ư nghĩa và tác dụng của từ bi.Chúng ta đă thấy được giá
trị tốt đẹp và lớn lao của từ bi. Đến đây chúng ta hăy đề cập đến
vấn đề: "làm thế nào để huân tập được ḷng từ bi".
Một trong những phương pháp
hiệu nghiệm để huân tập được ḷng từ bi là "quán từ bi". Quán Từ bi
có ba từng bậc thấp cao, tùy theo căn cơ của ba hạng tu hành:
1. Chúng sinh duyên từ. Pháp
quán này thường dành cho hạng tu Tiểu Thừa thực hành.
Chúng sinh duyên từ, nghĩa là
ḷng từ bi do quán sát cảnh khổ của chúng sinh mà phát khởi.
Chúng sinh tức là muốn nói đến
những hạn c̣n đang say mê, ch́m đắm trong bể khổ sanh tử, c̣n đang
trói ḿnh trong ṿng phiền năo nhiễm ô. Chẳng hạn như loài địa ngục
bị hành phạt đủ điều, ngạ quỷ bị đói rách bứt bách, súc sanh bị cảnh
dao thớt hành h́nh, A tu la đấu tranh, chém giết. Đến như chúng sinh
ở cơi trời tuy vui thú, nhưng vẫn c̣n bị ngũ suy tướng hiện, luân
hồi, đọa lạc như thường. Mà vẫn hơn hết là loài người, cũng chịu
không biết bao nhiêu là cảnh khổ, từ vật chất đến tinh thần, từ cá
nhân đến đoàn thể. Nhất là đối luật vô thường: sanh, già, bịnh,
chết, chưa ai thoát khỏi được. Đă không thoát được mà lại c̣n vô
t́nh đi gây chuốc thêm lấy khổ, lắm khi cứ quên mất cái tuổi già,
mối ngày mỗi chồng chất, thật đáng thương hại !
Vậy, đứng trước những cảnh khổ
của chúng sinh, người Phật tử phải làm như thế nào? Phải phát ḷng
từ bi !Nhưng làm sao cho ḷng từ bi ấy được phát?
Đức Phật có dạy chúng ta phải
quán sát tất cả chúng sinh trong lục đạo, mười phương đều như bà con
thân thuộc.
Đây là phương pháp đầu tiên để
ḥa hợp với mọi chúng sinh. Dùng cảm t́nh mà tập quán Từ bi. Trước
kia, chúng ta có thói quen là cái ǵ ngoài "ta" th́ ít khi quan tâm
đến. Giờ đây, quán từ bi tức là chúng ta đă phá bỏ cái vỏ ích kỷ hẹp
ḥi ấy mà giác ngộ và nhận định rằng:
Thế giới của loài người chúng
ta đang ở đây, tỷ như một cái nhà lớn, nơi sum họp và đoàn kết của
đại ǵa đ́nh. Vẫn biết rằng nhân loại khác nhau về màu da, chủng
tộc; những cái khác đó chẳng qua là khác về bề ngoài, chứ đă là
người th́ ai ai cũng có một thân h́nh xương thịt như nhau cũng đồng
sợ khổ ưa vui, biết xấu biết tốt v.v...V́ thế đối với người lớn
tuổi, ta phải kính trọng như ông bà cha mẹ; người ngang hàng hay
tuổi xấp xỉ, xem như anh chị em ruột thịt; người nhỏ tuổi hơn nữa xem
như con cái cháu chắt...
Rộng ra một tầng nữa, đối với
chúng sinh trong năm loại, chúng ta hăy xem như những thành phần của
đại gia đ́nh là chú, bác, cô, d́...Vẫn biết rằng về h́nh thức, loài
người khác với loài khác, và nhiều khi ta không gặp mặt nữa, nhưng
xét cho cùng, đă là chúng sinh, th́ tất nhiên đồng chung một nguồn
sống, và đă có sống th́ tất nhiên đều ham sống sợ chết, đều biết cảm
nỗi vui sướng và khổ đau. Gần với chúng ta nhất mà chúng ta có thể
thấy, gặp và nhờ cậy được là loài súc sinh. Tuy chúng không biết nói
như chúng ta, nhưng nếu chúng ta đối đăi tử tế, chúng cũng biết
thương mến và trung thành với ta. Tuy không có học thức, chúng vẫn
biết nghe lời ta và giúp đỡ ta trong nhièu công việc nặng nề. Chẳng
qua v́ nghiệp nặng, nên đời này chúng làm súc vật, nhưng biết đâu
đời trước, chúng không phải là anh em của ta? Và sau này, biết đâu
chúng lại không sẽ là bà con quyến thuộc của ta?
Phương pháp tu tập của Tiểu
Thừa này tuy chưa phá được ngă chấp, những cũng đă mở rộng được phạm
vi hẹp ḥi của cái ngă nhỏ và thể nhập vào cái ngă to hơn là đại
gia đ́nh; rồi từ cái ngă to t́nh cảm ấy, sẽ chuyển dần sang giai
đoạn lư trí cao siêu hơn, bằng phép quán "Pháp duyên từ" sau đây.
2. Pháp duyên từ. Pháp duyên từ
là ḷng từ bi do duyên "Pháp tánh" mà phát khởi. Đây là pháp quán
dành cho các bậc Trung thừa.
Hành giả trong khi tu pháp môn
này, quán sát thấy tất cả chúng sinh, cùng ḿnh đều đồng một "pháp
giới tánh", nên chúng sinh đau khổ là ḿnh đau khổ; v́ vậy hành giả
khởi ḷng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Đến địa vị
này, các Ngài không c̣n phân biệt là nam hay nữ, không c̣n quan niệm
ḿnh khác với người, không nghĩ rằng đó là bà con quyến thuộc, chỉ
thấy ḿnh cùng người đồng một "pháp giới tánh" mà thôi. Bồ Tát đă
nhận chúng sinh và ḿnh đồng một bản thể, nên khi cứu khổ, không cần
biết đó là ai, và khi làm, không chấp ḿnh đă làm. Chúng sinh có khổ
th́ Bồ Tát có Bi. Sự thông cảm tự nhiên ấy như t́nh thiêng liêng
giữa mẹ và con, hễ có cảm là có ứng, như tánh sốt sắng của vị y sĩ
có lương tâm nhà nghề, hễ thấy bịnh th́ liền trị. Với ư nghĩa này,
trong kinh Trung A Hàm có tỷ dụ: Trước một nạn nhân bị trúng tên độc,
lấy ra lập tức. Ông không cần phải hỏi người ấy tên ǵ, ở đâu, con
ai, cũng không cần coi cây tên ấy làm bằng ǵ, ai bắn v.v...
Sự cứu khổ cho chúng sinh, đối
với các vị Bồ Tát đă chứng được "pháp duyên từ" này cũng như thế,
chỉ nhằm mục đích làm sao cho kẻ khác hết khổ được vui mà thôi.
3. Vô duyên từ. Trong phạm vi
bài này, chúng ta chỉ nên học qua hai hạng từ bi trên mà thôi, là:
Ḷng từ bi do duyên ḿnh với chúng sinh khổ sở mà phát ra, hay do
duyên ḿnh và chúng sinh đống một thể tánh mà phát khởi. C̣n loại từ
bi thứ ba tức là "Vô duyên từ" là một loại cao siêu đặc biệt của Đại
Thừa, chúng ta chưa đủ căn cơ, tŕnh độ tu tập. Tuy nhiên, để có một
ư niệm đầy đủ về ḷng từ bi , chúng ta cũng nên biết qua về loại này.
Vô duyên từ, là ḷng từ bi
không có tâm năng duyên và cảnh bị duyên, không c̣n dụng công, không
c̣n quan sát, đối đăi giữa ḿnh với người, ḿnh và vật như hai thứ
từ bi trước. Ḷng từ bi này xứng theo thể tánh chơn tâm mà tự khởi
ra bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào. Cũng như ánh
sáng mặt trời chiếu khắp cả gần xa, không phân biệt thấp cao, không
chú ư một nơi nào, chiếu soi tất cả một cách vô tư và không dụng
công.
V. Lợi Ích Của Pháp Quán Từ
Bi
Có người lo rằng nếu ai cũng từ
bi th́ sẽ trở thành nhu nhược, dân tộc sẽ yếu hèn, và sự tham tàn
bóc lột sẽ lừng lẫy v.v...
Lo như thế là quá lo xa mà
thành ra không thực tế. Từ xưa đến nay, loài người không phải khổ sở
v́ quá từ bi, xă hội không phải yếu hèn, đảo điên v́ t́nh thương quá
rộng lớn. Trái lại, sự đau khổ của cá nhân cũng như của đoàn thể,
một phần rất lớn là do ḷng người c̣n độc ác. Một nhận xét không ai
có thể chối căi được là một xă hội càng văn minh th́ ḷng ác độc
càng bớt, t́nh thương càng tăng thêm, hay ngược lại, t́nh thương
càng tăng, hay ác độc càng giảm, th́ xă hội càng văn minh, hạnh
phúc. Hăy khoan lo sợ từ bi làm cho con người mềm yếu, mà chỉ nên lo
sợ, nếu sự thù hằn, độc ác không giảm, th́ loài người chắc chắn sẽ
bị tiêu diệt.
Khái lược theo kinh Tăng Nhất A
Hàm th́ quán Từ bi sẽ được những lợi ích như sau:
a) Khi thức hay ngủ đều được an
vui
b) Hiện tại được nhiều người
thương
c) Sống trong đời không bị tai
nạn trộm cướp
Nhưng thực hành pháp quán từ bi
, không phải chỉ để cho chúng ta cầu những quả báo lợi ích riêng cho
ḿnh, và có bấy nhiêu đó. Mục đích chúng ta tu là cốt làm sao chúng
ta và mọi chúng sinh trong lục đạo đều khỏi khổ được vui. Lẽ tất
nhiên, trong khi tu chúng ta sẽ:
Trừ được ḷng sân hận độc ác
Dẹp được ngă chấp hẹp ḥi
Đoàn kết được với mọi người
Đời sống cá nhân và đoàn thể
nhờ thế được vui vẻ, có ư nghĩa.
C. Kết Luận
Từ bi là một phương thuốc trị
tâm sân hận. Sân hận là đầu mối sát hại ghê gớm, là cái ch́a khóa
của tất cả kho tội lỗi. trừ được nó tức là trừ được chết chóc, và
dập tắt được cái ng̣i biến loạn. Bao nhiêu súng đạn và nhất là bom
nguyên tử sẽ trở thành vô dụng. Trong nhân loại, không c̣n ai là cừu
địch không c̣n có giai cấp bóc lột, đấu tranh. Ai cũng là người đáng
thương, đáng giúp đỡ. Giữa người và người, giữa người và vật sẽ có
một sự liên lạc, đoàn kết mật thiết. Con người sẽ vô cùng sung sướng
khi thấy xung quanh ḿnh đều là bà con quyến thuộc, bốn biển đều là
anh em và cùng chan ḥa trong Phật tánh.
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 4
Quán Nhân
Duyên
A. Mở Đề
Người đời, v́ không hiểu
sự vật
trong vũ trụ này từ đâu mà có, cho nên sanh ra nhiều quan niệm sai
lầm. Có người nghĩ rằng vũ trụ do tự nhiên sanh. Có người lại nghĩ
vũ trụ do một vị thần toàn trí, toàn năng tạo ra v.v...
Theo Đạo Phật th́ vũ trụ là vô
thỉ, nghĩa là không có điểm khởi đầu, và mọi sự mọi vật trong vũ trụ
không thể đứng riêng một ḿnh mà có được; trái lại, phải nương nhờ
nhau mà thành. Nói một cách khác, từ vật lớn cho đến vật nhỏ, từ
vât hữu h́nh cho đến vô h́nh, đều không ngoài nhân duyên mà có. V́
thế, trong kinh Phật thường nói: "Chư pháp tùng duyên".
Sự hiện hữu của loài hữu h́nh,
hay nói riêng của loài người, cũng không ngoài công lệ ấy được. Muốn
hiểu rơ một cách tường tận cái guồng máy của sự sanh tử luân hồi của
kiếp người trong bể khổ trần gian, chúng ta cần phải học lư "Thập nhị nhân
duyên". Sau khi hiểu rơ lư thập nhị nhân duyên, chúng ta lại c̣n
phải t́m hiểu phương pháp để dứt trừ cái ṿng lẩn quẩn sanh tử luân
hồi nữa.
Muốn hiểu và dứt trừ cái ṿng
sanh tử luân hồi, chúng ta phải học và thực hành pháp quán nhân
duyên, mà chúng tôi xin tŕnh bày trong bài giảng này.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Sao gọi là "Nhân duyên"? Nhân
là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp
sanh ra một vật khác, như hạt lúa làm nhân sanh ra cây lúa. Duyên là
trợ duyên, chỉ cho những vật ǵ có tánh cách trợ gíup trực tiếp hay
gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân
công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân
duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên
cho tất cả vật chung quanh nó.
Chữ "Nhân duyên" lại có nghĩa
thứ hai: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà
thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các
nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành ra cái nhà. V́ các pháp
trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay
thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".
II. Thành Phần Của Nhân
Duyên
Đoạn trên đă nói: "Các pháp do
nhân duyên ḥa hợp sanh". Vậy những nhân duyên ǵ sanh ra loài hữu
t́nh", là những nhân duyên sau đây:
1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức,
4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9.
Thủ, 10. Hữu,
11. Sanh, 12. Lăo tử.
1. Vô minh có nhiều nghĩa và
nhiều loại:
a) Theo Đại Thừa giải thích: "Không
tỏ ngộ chân tâm gọi là vô minh" (Bất giác đệ nhất nghĩa đế, vị chi
vô minh).
b) Thông cả Đại Thừa và Tiểu
Thừa giải thích: "Hiểu biết các pháp không đúng như thật (hiểu sai
lầm), nên gọi là vô minh" (Bất như thật tri chư đế lư, vị chi vô
minh); như vô ngă mà chấp thật ngă, vô pháp mà chấp thật pháp v.v...
c) Ngoài ra, c̣n những nghĩa
thông thường như: vô minh là không sáng, tối tăm, mờ ám, si mê
v.v...
Vô minh, lại có khi để chỉ các
phiền năo như tham, sân, si. Xưa có người đến chùa hỏi:
Thế nào là vô minh?
Tổ sư trả lời:
Quê mùa dốt nát đến thế, cũng
đến chùa hỏi đạo lư !
Ông khách nổi giận, mặt mày đỏ
bừng...Tổ sư nói tiếp:
Vô minh là đó (chỉ cái sân), đó
là vô minh.
Vô minh có khi chỉ riêng cho Si
tâm sở. Như nói "độc hành vô minh" hay "tương ưng vô minh" là đều
chỉ riêng cho "si tâm sở": Khi nó khởi riêng một ḿnh, hoặc chung
cùng với phiền năo, tham, sân v.v...
Vô minh lại phân ra hai loại:
căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Như trong mười hai nhân duyên,
cái "vô minh" đầu là căn bản, v́ nó là gốc sanh ra các vô minh sau;
c̣n "ái, thủ, hữu" là chi mạt vô minh. Trong tứ hoặc, th́ kiến hoặc,
tư hoặc, trần sa hoặc là chi mạt vô minh; c̣n vô minh hoặc là căn
bản vô minh. Trong ngũ trụ địa, th́ kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ
địa , sắc ái trụ địa và hữu ái trụ địa là chi mạt vô minh, c̣n vô
minh trụ địa là căn bản vô minh.
Nói chung lạu, tất cả phiền
năo, hoặc thô, hoặc tế của Đại Thừa hay Tiểu Thừa, có tánh cách làm
cho chân tâm bị ẩn, gương trí tuệ lu mờ th́ gọi là vô minh.
2. Hành là hành động , tạo tác.
Do vô minh phiền năo nổi lên, làm cho thân, khẩu, ư, tạo tác ra các
nghiệp lành hay dữ nên gọi là "hành".
3. Thức là thần thức, chỉ cho
phần tinh thần. Do thân, khẩu, ư, ba nghiệp tạo tác những nghiệp
lành hay dữ nên khi chết rồi, các nghiệp dẫn dắt thần thức đi lănh
thọ quả báo (thân) khổ hay vui ở đời sau.
4. Danh sắc là thân thể. Trong
thân thể người có hai phần:
a) Phần tinh thần (tâm) chỉ có
tên kêu gọi, chứ không có h́nh sắc nên gọi là "danh".
b) Phần thể chất có h́nh sắc,
nên gọi là "sắc".
5. Lúc nhập, gọi nôm na là sáu
chỗ vào. Khi đă có thân thể rồi, cố nhiên phải có sáu căn (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ư) là chỗ của sáu trần (sắc, thinh, hương, vị,
xúc và pháp) phản ảnh vào, nên gọi là "lục nhập".
6. Xúc là tiếp xúc. Trong sáu
căn, ngoài sáu trần thường gặp gỡ tiếp xúc với nhau, như mắt tiếp
xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp
xúc với vị, thân tiếp xúc với ấm lạnh, trơn nhám, ư tiếp xúc với
pháp trần.
7. Thọ là lănh thọ. Khi sáu căn
tiếp xúc với sáu trần, rồi lănh thọ những cảnh vui hay buồn, sướng
hay khổ, hay cảnh b́nh thường.
8. Ái là ưa muốn. Khi lănh thọ
cảnh vui th́ sinh ḷng tham, muốn làm sao cho được, khi gặp cảnh khổ
th́ sanh tâm sân hận, buồn rầu, muốn xa ĺa, gặp cảnh binh thường
thời si mê. Đây là cái động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ư, tạo tác các
nghiệp.
9. Thủ là giữ lấy, t́m cầu; nói
rộng ra là các hành động tạo tác. Do gặp cảnh thuận th́ tham cầu,
gặp cảnh nghịch lại sân, si muốn xa ĺa; mục đích là muốn t́m phương
này kế nọ để bảo thủ cho được bản ngă của ḿnh. Do đó mà tạo ra các
nghiệp sanh tử.
10. Hữu là có. V́ đời này đă có
nhân lành hay dữ do ḿnh tạo ra, th́ đời sau quyết định phải "có"
quả khổ hay vui mà ḿnh phải thọ nhận.
11. Sanh. Là sanh ra. Do "ái,
thủ, hữu" làm nhân hiện tại tạo ra các nghiệp, cho nên qia đời sau,
phải sanh ra đời để thọ quả báo.
12. Lăo, tử. Là già, chết. Đă
có sanh ra, tất nhiên phải chịu các khổ già và chết v.v...
Mười hai nhân duyên này liên
quan mật thiết với nhau, vừa làm quả cho nhân trước, vừa làm nhân
cho quả sau, nối tiếp không dứt trong thời gian và làm cho chúng
sinh phải măi măi xoay tṛn trong ṿng sanh tử.
III. Phương Pháp Quán
Phương pháp quán mười hai nhân
duyên có thể chia làm hai phần là: quán Lưu chuyển và quán Hoàn
diệt.
1. Quán lưu chuyển. Là quán sát
trạng thái sanh khởi và luân lưu của mười hai nhân duyên. Sự quán
sát này có ba loại:
a) Quán sát, trạng thái sanh
khởi của mười hai nhân duyên trong quá khứ xa xôi, từ vô thỉ. Từ vô
thỉ, v́ vô minh vọng động, làm cho bản tâm thanh tịnh phản uẩn khuất,
như mây áng nên trăng mờ (vô minh), do đó, các vọng động từ từ sanh
khởi (hành), thành ra có tâm (thức) và cảnh, đủ cả thế giới và chúng
sinh (danh sắc); trong thân chúng sinh có sáu căn là chỗ của sáu
trần thường pảhn ảnh vào (lục nhập), rồi căn, trần thường tiếp xúc (xúc)
nhau sanh ra cảm thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa (ái), v́ ưa mới giữ
(thủ); do đó mà có (hữu) sanh (sanh) và già, chêt (lăo, tử).
Đây là nói về trạng thái của
mười hai nhân duyên từ vô thỉ, do vô minh vọng động, tạo tác mà có
thế giới và chúng sinh, rồi cứ như thế, tiếp tục sanh khởi cho đến
ngày nay, và măi măi về sau v.v...
b) Quán sát trạng thái lưu
chuyển của mười hai nhân duyên trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị
lai. Đây là quán sát sự xoay vần của mười hai nhân duyên trong thời
gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. Mười hai nhân
duyên cũng như sợi dây chuyền có mười hai ṿng, ṿng này móc vào
ṿng kia, ṿng kia móc vào ṿng nọ, nối tiếp nhau không có mối manh,
và liên quan cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng trong quá
khứ vô minh và hành (căn bản vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại
(thân đời này) là "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"; quả hiện tại
(thân đời này) trở lại tạo nhân (trong hiện tại) là "ái, thủ, hữu"
(chi mạt vô minh); nhân hiện tại lại sẽ thành quả vị lai (thân đời
sau) là "sanh, lăo, tử). Nói tóm lại, do mê hoặc (vô minh) nên tạo
nghiệp (hành), v́ tạo nghiệp nên chịu quả khổ, nhân chịu quả khổ,
rồi lại mê hoặc tạo nghiệp v.v...nhân sanh quả, quả lại sanh nhân,
nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi,
như cái bánh xe lăn tṛn trên sợi dây. Chỉ có khác là bánh xe thật
th́ chỉ có một cái và biến đổi rất chậm chạp; c̣n bánh xe mười hai
nhân duyên th́ vừa chạy tới mà vừa biến đổi, luôn luôn hoại và
thành, thành và hoại...liên tiếp trong ba đời; quá khứ, hiện tại và
tương lai.
c) Quán sát sự sanh khởi và lưu
chuyển của mười hai nhân duyên trong một niệm của hiện tại. Nếu lấy
một khoảng thời gian ngắn trong hiện tại để quán sát, hành giả cũng
có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên,
chứ không cần phải quán sát ba đời. Nhưng khi đối cảnh, không rơ các
pháp đều là lưu chuyển (vô minh) mà khởi vọng niệm (hành) phân biệt
(thức) các cảnh vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục
nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lănh thọ (thọ), nhân
thọ sanh ra ưa muốn (ái), tím cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (hữu)
rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh, lăo, tử).
Phân tách ba pháp quán trên,
hành giả sẽ rút ra những nhận xét sau đây:
Trong mười hai nhân duyên, có
hai nhóm làm nhơn và hai nhóm làm quả: Một nhóm nhân quá khứ (gồm có
vô minh và hành) và một nhóm nhân hiện tại (gồm có sanh, lăo, hữu).
Về phía quả, th́ có một nhóm
quả hiện tại (gồm có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) và một nhóm
quả vị lai (gồm có sanh, lăo tử).
"Vô minh, hành" là căn bản vô
minh, "ái, thủ, hữu" là chi mạt vô minh. Có thể nói "vô minh, hành"
là cái biệt hiệu của "ái, thủ, hữu", c̣n "thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thọ" là cái dị danh của "sanh, lăo, tử". Nói như thế là v́, nếu
ta đổi qua tráo lại, sẽ thấy rơ: trong "ái, thủ, hữu", có "vô minh
và hành", c̣n trong "sanh, lăo, tử" có "thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thọ".
Vô minh thuộc về
"hoặc"; hành
thuộc về
"nghiệp"; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, thuộc về
"khổ"; ái thuộc về
"hoặc"; thủ, hữu thuộc về
"nghiệp"; sanh, lăo, tử thuộc
về
"khổ".
HOẶC
Khổ Nghiệp
Xem bản đồ:
12 nhơn duyên liên quan 3 đời
nhơn quả
1. NHƠN (quá khứ)
1. Vô minh (hoặc)
2. Hành (nghiệp
Căn bản vô minh (có ái thủ, hữu)
2. QUẢ (hiện tại)
1. Thức
2. Danh sắc
3. Lục nhập
4. Xúc
5. Thọ
(khổ) Thân hiện tại
3. NHƠN (quá khứ)
1. Ái (hoặc)
2. Thủ (nghiệp)
3. Hữu
Chi mạt vô minh (có vô minh,
hành)
2. QUẢ (vị lai)
1. Sanh
2. Lăo, tử (khổ)
Thân vị lai
2. Quán hoàn diệt. Là quán sát
sự tiêu diệt của mười hai nhân duyên. Có hai cách quán:
a) Diệt vô minh gốc rễ (căn bản
vô minh). Trong phần quán sát trên, hành giả đă thấy rơ: do vô minh
mà có hành, do hành mà có thức v.v...Vậy th́ bây giờ, nếu ta diệt vô
minh, th́ hành sẽ bị diệt, hành bị diệt th́ thức cũng không có v.v...Hay
nói một cách khác: do "mê hoặc" nên tạo "nghiệp", do tạo nghiệp nên
mới chịu quả "khổ". Vậy muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt
nghiệp, muốn dứt nghiệp trước phải trừ vô minh.
Trừ căn bản vô minh có hai cách:
Đối với các bậc Đại Thừa Bồ Tát,
v́ thấy rơ thể tánh chân tâm do vô minh vọng động mà có thế giới
chúng sinh, ngă và pháp, nên các Ngài dùng trí Bát nhă phá trừ "sinh
tướng vô minh", để trở lại với bản thể chân tâm. Khi đă ngộ được
chân tâm rồi, th́ tất cả sanh tử luân hồi đều hết. Như trong Bát nhă
Tâm kinh có chép: "Ngài Quán tự tại Bồ Tát khi đi sâu vào trí Bát
nhă Ba la mật đa rồi, th́ thấy tất cả năm uẩn đều không, nên khỏi
các điều khổ ách...". Hay như trong kinh Lăng Nghiêm có chép: "Đối
với người tỏ ngộ được chơn tâm, th́ mười phương thế giới đều tiêu
hết".
Đối với người không thể phá trừ
ngay được căn bản vô minh để trực ngộ chân tâm, th́ phải lần hồi
trải qua vô số kiếp tu hành, khi đến địa vị Đẳng giác, dùng trí Kim
cang phá trừ được "sanh tướng vô minh", mới chứng quả Diệu giác
(Phật ).
b) Diệt vô minh ngành ngọn (chi
mạt vô minh). Đối với hàng phàm phu và Tiểu Thừa, căn cơ thấp hẹp,
th́ không thể trực tiếp phá trừ vô minh gốc rễ như hai bậc trên, mà
chỉ có thể phá trừ vô minh ngành ngọn là "ái, thủ, hữu". Khi ngành
ngọn đă bị chặt rồi, th́ gốc rễ dần dần bị tiêu diệt, như bụi tre mà
bị xắn hết cả măng, th́ sẽ phải tàn rụi.
Diệt trừ vô minh ngành ngọn
cũng gồm hai phương diện.
Quán lư: Là dùng lư lẽ để nhận
thấy rằng các pháp chỉ do nhân duyên ḥa hợp mà sanh ra, chứ không
có thật (không hữu); bởi không có thật, nên không nên t́m cầu chấp
thủ (không thủ). Đă không chấp thủ, th́ cũng không tham muốn (không
ái). Nghĩa là bắt đầu quán "hữu", rồi đến "thủ", rồi cuối cùng là "ái".
Nếu ba cái nhân này không có, th́ cái quả "sanh, lăo, tử" cũng chẳng
có.
Quán sự: Là y theo sự tướng mà
quán sát rồi thực hành. Hành giả bắt đầu quán "ái" trước, rồi đến
"thủ" và "hữu". Kinh chép: "Hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái
nhạo hà ưu hà úy?". nghăi là: Bởi có tham muốn th́ có lo sợ. V́
khi đối cảnh, sanh tâm tham muốn (ái), nên mới tạo tác ra các nghiệp
(thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu). Bấy giờ, nếu đối cảnh
không tham ưa (không ái), th́ chẳng t́m cầu chấp thủ ( không thủ),
v́ không chấp thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng
như trong kinh Lăng nghiêm Phật dạy: "..Chỉ khi các ông đối cảnh,
không khởi vọng niệm phân biệt, th́ tham, sân, si chẳng khởi; tham,
sân, si không khởi th́ sát, đạo, dâm, vọng không sanh...".
Tóm lại, mê hoặc hết (ái) th́
nghiệp chẳng có (thủ), nghiệp không th́ khổ chẳng c̣n (hữu).
Trong bốn cách trừ vô minh, chỉ
có pháp "quán sự" này dễ dàng và thiết thật nhất, lại hợp với căn cơ
của người tu hành hiện tại.
IV. Hiệu Quả Của Pháp 12
Nhân Duyên
Hành giả sau khi thành tựu pháp
quán mười hai nhân duyên này, th́ sẽ trừ được tâm si mê là nguyên
nhân chính của khổ đau và luân hồi của chúng sinh. Đức Phật thường
bảo: "Sự khổ ở tam đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí huệ
mới là khổ thôi". Xem thế th́ đủ biết trừ được tâm si mê và làm cho
trí huệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của kẻ tu
hành.
Hơn nữa, hành giả c̣n nhờ pháp
quán mười hai nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi
Phật chưa giáng sinh, cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh
hóa của vũ trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy người ta thường gọi là
Độc giả, nghĩa là tự nghiên cứu một ḿnh mà được giác ngộ. Đến khi
Phật giáng sinh, chỉ dạy pháp quán nhân duyên nhiều người y theo
pháp quán này tu hành mà được giác ngộ, nên gọi là "Duyên giác"
(nghĩa là những vị giác ngộ nhờ quán mười hai nhân duyên).
Chỗ giải thoát của quả vị Duyên
gíac và A La Hán đều giống nhau, nhưng về trí huệ và thần thông th́
quả Duyên giác cao hơn quả A La Hán.
Sau đây là một thí dụ về sự
thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên của hai vị đại Đệ tử của đức
Phật Thích Ca , là Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên, lượt
thuật theo kinh Nhân quả:
Ở thành Vương xá, có hai người
Bà la môn rấy thông minh trí huệ, một người tên là Xá Lợi Phất và
một người tên là Mục Kiền Liên. Hai người đều tu theo ngoại đạo, có
trên một trăm Đệ tử , và có hứa hẹn với nhau rằng, nếu ai nghe được
pháp mầu trước, th́ phải chỉ dạy lại cho người kia.
Một hôm, ông Xá Lợi Phất đi
đường, được nghe một vị Đệ tử của Phật là Tỳ kheo A Xá Bà Kỳ, giảng
giải về đạo lư nhân duyên và tóm tắt lại trong một bài kệ như sau:
"Cội gốc của tất cả pháp là nhân duyên sinh, không ai làm chủ, nếu
ai hiểu được pháp này, th́ chứng được đạo chân thật" 1.
Khi nghe xong, ông Xá Lợi Phất
liền xa lià trần cấu, chứng được đạo quả thanh tịnh.
Lức trở về, ông Xá Lợi Phất
giảng nói lại cho ông Mục Kiền Liên nghe. Ông này nghe xong, cũng
chứng được đạo quả. Hai ông này liền đem 200 Đệ tử của ḿnh, đến xin
Phật cho xuất gia làm Đệ tử.
C. Kết Luận
Để độc giả có một ư niệm chung
về bài giảng này và dễ nhớ, chúng tôi xin tóm tắt những yếu điểm sau
đây:
A. Tất cả sự vật không một vật
nào riêng biệt mà tồn tại được. Chúng phải nương tựa vào nhau mới
thành vật này hay vật khác. Đó là lư nhân duyên sanh, hay trùng
trùng duyên khởi. Riêng về loài hữu t́nh như kiếp người chẳng hạn,
th́ do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sanh tử dài
vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Tùy theo cái tác
dụng của nó mà mười hai nhân duyên ấy có thể chia làm ba nhóm là:
hoặc (mê mờ), nghiệp (tạo tác) và khổ (kết qủa).
B. Muốn dứt trừ chuỗi sanh tử
dài trong biển khổ đau của cơi tục, phải quán mười hai nhân duyên.
Pháp quán này có hai phần là quán lưu chuyển và
quán hoàn diệt:
1. Quán lưu chuyển. là quán
hiện tượng sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên từ vô
minh, hành, thức..đến lăo, tử. trong khi quán lưu chuyển hành giả có
thể chỉ quán sát sự sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên
trong quá khứ, trong hiện tại hay cả trong quá khứ, hiện tại và
tương lai.
2. Quán hoàn diệt. Là quán theo
phương pháp làm cho mười hai nhân duyên phải tiêu diệt. Có hai pháp
quán hoàn diệt:
a) Một pháp dành cho những bậc
đại căn trí, như hạng Đại Thừa Bồ Tát, đó là pháp "diệt căn bản vô
minh".
b) Một pháp dành cho những
người căn cơ thấp thỏi như chúng ta, đó là pháp "diệt chi mạt vô
minh".
Pháp quán sau đây lại chia ra
làm hai là quán lư và quán sự:
Quán lư: là quán các pháp không
thật có (hữu) nên không chấp thủ (thủ); bởi không chấp thủ nên không
tham ái (ái).
Quán sự: là áp dụng cái lư đă
quán ở trên trong hoàn cảnh thực tại: Hành giả phải cố gắng thực
hiện sao cho khi đối cảnh không khởi tâm tham ái (ái), nhờ không
tham ái mới không tạo ác t́m cầu (thủ); do không t́m cầu nên không
có (hữu) thọ quả sanh tử về sau.
Hành giả thành tựu được pháp
quán mười hai nhân duyên này th́ sẽ dứt trừ được vô minh, thoát khỏi
sanh tử và chứng được quả vị Duyên giác.
Cầu mong cho quí vị độc gỉa
thấu hiêu được chân giá trị của pháp quán này và tinh tấn tu hành để
đạt được quả vị qúy báu nói trên.
Ghi Chú: Có chỗ nói bài kệ như
vầy:
"Chư pháp tùng duyên sanh, diệc
tùng nhân-duyên diệt,
Ngă- Phật Đại Sa-Môn,
thường tác như thị thuyết".
Dịch nghĩa:
Các pháp do nhân-duyên, cũng do
nhân-duyên diệt,
Đức Phật của chúng ta,
thường dạy nói như vậy.
Theo Đại Thừa th́ bài kệ về
nhân-duyên như vậy
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 5
Quán Giới Phân Biệt
A. Mở Đề
Hầu hết người đời đều tin rằng, mỗi người từ khi mới lọt
ḷng mẹ cho đến chết và cả sau khi chết nữa, đều có một
linh hồn duy nhứt, bất biến làm chủ tất cả ư nghĩa, hành
động của ḿnh. Nói theo thuật ngữ Phật giáo th́ tin như
thế gọi là "ngă chấp", nghĩa là tin có một ngă riêng
biệt, tồn tại bất biến...Từ cái ngă chấp ấy, mà sinh ra
"ngă ái", nghĩa là thương yêu, chăm sóc, ǵn giữ cái ngă,
bất chấp phải trái, hay dỡ; ngă mạn, nghĩa là ngạo mạn,
cho "cái ta" của ḿnh là cao quư, tốt đẹp hơn bao nhiêu
"cái" khác, đối lập với tất cả những ǵ không phải là ta
hay trái ư với ta.
Do sự chấp ngă ấy mà cuộc sống đáng lẽ phải rộng răi vô
biên, trường tồn bất diệt, lại bị ngăn cách chia xẻ,
giam hăm trong những cái vỏ cứng là "cái ta" riêng biệt;
và người đời, hay nói rộng hơn, tất cả chúng sinh đều
phải sống, chết, quay cuồng, điêu cứng, khổ đau v́ cái
ta riêng biệt mà họ tưởng là thuần nhất, bất biến ấy.
Nhưng thật ra, có một cái "Ta" như thế không? Nếu có,
th́ cái Ta ấy ở đâu? Trong sáu căn hay trong sáu trần,
hay trong sáu thức? Muốn hiểu rơ vấn đề này một cách
tường tận, chúng ta phải quán Giới phân biệt là một
trong Ngũ đ́nh tâm quán.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Quán Giới phân biệt: Giới có ư nghĩa là giới hạn, là
phạm vi phân chia phần này với phần khác, bộ phận này
với bộ phận khác. Chẳng hạn như trong vật chất người ta
phân chia ra nhiều loại: loại màu sắc, loại âm thanh,
loại mùi vị v.v...Hay trong con người, các bộ phận tiếp
xúc với ngoại cảnh, như mắt, tai, mũi, lưỡi...là những
Giới riêng biệt.
Trong thế giới Ta Bà gồm những vật hữu h́nh và vô h́nh
này, mặc dù có thiên h́nh vạn trạng, nhưng theo triết lư
của đạo Phật, th́ có thể chia ra làm mười tám giới (loại,
phạm vi). Vận dụng trí tuệ để quan sát, nhận định từng
phạm vi, từng giới một trong mười tám giới ấy, để xét
xem thử có một cái ngă trường tồn bất biến, duy nhất hay
không, đó tức là quán Giới phân biệt.
II Phân Giải 18 Giới:
Mười tám giới có thể phân ra ba loại lớn: Sáu căn, sáu
trần và sáu thức.
1. Sáu căn: Căn tức là chỗ nương tựa, làm gốc cho những
cái khác nẩy nở, phát sinh. Sáu căn ở đây tức là: nhăn
căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn và ư căn.
a) Nhăn căn: tức là hai con mắt, bộ phận để làm chỗ
nương tựa cho sự nhận thấy của người được rơ ràng, khi
tiếp xúc với cảnh vật chung quanh.
b) Nhĩ căn: tức là hai lỗ tai, bộ phận làm chỗ phát sinh
cho sự nghe biết của người được rơ ràng, khi tiếp xúc
với tiếng động ở chung quanh.
c) Tỹ căn: tức là lỗ mũi, bộ phận làm chỗ nương tựa cho
sự ngửi biết được xác thực, khi tiếp xúc với các mùi như
thơm, thúi...ở chung quanh.
d) Thiệt căn: tức là cái lưỡi, bộ phận làm chỗ nương tựa
của sự nếm biết của người được rơ ràng khi tiếp xúc với
các chất như chua, mặn v.v...ở ngoại cảnh.
đ) Thân căn: tức là da bao bọc thân người, bộ phận làm
cho nhận biết được cảm giác, nóng, lạnh, cứng, mềm của
các vật chung quanh.
Năm căn nay là năm bộ phận thuộc về thể chất nằm ở bên
ngoài, dễ tiếp xúc với ngoại vật. Chúng có h́nh tướng
do tứ đại hợp thành, có thể thấy được, chỉ được, rờ mó được.
Duy thức học liệt chúng về nội căn sắc pháp. Nội căn sắc
pháp này có thể phân tách ra làm hai phần:
phù trần căn
và tịnh sắc căn. Phù trần căn là chỉ cho h́nh tướng thô
phù hiện ra bên ng̣ai, như tṛng mắt, vành tai, lưỡi đỏ
v.v...C̣n tịnh sắc căn là chỉ cho phần ẩn phục của năm
căn, tức là phần ứng dụng, phần hoạt động, phần sống của
năm căn. Nói một cách rơ ràng đơn giản hơn, tức là những
dây thần kinh hệ của con người vậy. Phù trần th́ thô
thiển, tinh sắc lại tế ẩn. Nếu hai phần này rời nhau,
năm căn sẽ vô dụng.
e) Ư căn: tức là bộ phận để cho sự phân biệt phát sinh,
tức là thức thứ Bảy. Phần này rất tinh tế thuộc về phần
tinh thần. Cho nên không có h́nh sắc như năm căn trước.
2. Sáu trần. Trần, nghĩa đen là bụi. Bụi th́ nhơ nhớp
luôn luôn dời đổi lăng xăng, tụ tán không chừng. Nghĩa
bóng, trần tức là chỉ cho phần vật chất, cảnh vật chung
quanh con người. Sáu trần là: sắc trần, thanh trần,
hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần.
a) Sắc trần: là sáu sắc, đường nét h́nh dáng, những ǵ
mà mắt có thể thấy được.
b) Thanh trần: là tiếng do vật hữu h́nh hay vô h́nh phát
ra, nghĩa là những tiếng mà tai nghe được.
c) Hương trần: là mùi do vật hữu h́nh hay vô h́nh bốc
lên, tỏa ra, vật mà mùi ngửi được.
d) Vị trần: là chất trong vật hữu t́nh hay vô t́nh, vậy
mà lưỡi nếm được.
đ) Xúc trần: là những thứ mềm, cứng, trơn, nhám...của
vật hữu t́nh hay vô t́nh, những vật mà thân tiếp xúc
được.
e) Pháp trần: là những h́nh ảnh, màu sắc, hương vị..
trừu tượng của năm trần lưu lại sau khi đă năm căn duyên,
chính là cảnh bị duyên của ư căn. Màu sắc tiếng tăm,
hương vị ở đây không phải là vật thật của ngoại cảnh mà
chỉ là những h́nh bóng, âm vang...của ngoại cảnh sau khi
đă lọt qua năm giác quan, và đang bị ư căn duyên.
Chúng ta có thể làm một thí dụ tho thiển sau đây cho dễ
hiểu:
Sắc trần dụ như cảnh vật bên ngoài.
Nhăn trần dụ như cái máy quay phim.
Pháp trần dụ như những h́nh ảnh đă giữ được trong cuốn
phim.
Ư
căn dụ như người xem h́nh trong cuốn phim chiếu lên. Có
thể làm một thí dụ thứ hai sau đây:
Thanh trần dụ như các tiếng hát của một ca sĩ.
Nhĩ căn dụ như cái máy ghi âm.
Pháp trần dụ như cuốn băng nhựa đă ghi âm.
Ư
căn dụ như người nghe tiếng do cái máy phát ra.
3. Sáu thức. thức là sự phân biệt, hiểu biết, phán đoán
do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sinh. Nó thuộc
về tâm pháp (vô h́nh). Sáu thức là: nhăn thức, nhĩ thức,
tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức.
a) Nhăn thức: là sự phân biệt, hiểu biết do nhăn căn
tiếp xúc với sắc trần mà phát sinh.
b) Nhĩ thức là sự phân biệt hiểu biết do nhĩ căn tiếp
xúc với thanh trần phát sinh.
c) Tỹ thức là sự phân biệt hiểu biết do tỹ căn tiếp xúc
với hương trần mà phát sinh.
d) Thiệt thức là sự phân biệt do thiệt căn tiếp xúc với
vị trần mà pháp sinh.
đ) Thân thức là sự phân biệt, hiểu biết do thân căn tiếp
xúc với xúc trần mà phát sinh.
e) Ư thức là sự phân biệt, hiểu biết, phê phán do ư căn
tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh.
Chúng ta có thể làm một thí dụ cụ thể sau đây cho dễ
nhận:
Sáu thức như một hội đồng giám khảo của cuộc thi th́ về
văn nghệ, nữ công và gia chánh. Hội đồng này gồm có sáu
người: Một ông chủ tịch và năm hội viên chuyên môn về
năm ngành:
Một người chuyên về màu sắc và h́nh ảnh
Một người chuyên về âm thanh
Một người chuyên về mùi hương
Một người chuyên về chất vị
Một người chuyên về xúc giác
Năm hội hiên này sau khi lấy khả năng chuyên môn của
ḿnh ra phân tách, phê phán rồi, liền tŕnh sự nhận xét
của ḿnh lên ông chủ tịch, ông này thu góp tất cả những
nhận xét của năm hội viên, làm tông kết và tuyên bố kết
quả của cuộn thi ấy. Ông chủ tịch này chính là ư thức
hay là thức thứ sáu.
III. Phương Pháp Quán
Sau khi chúng ta đă biết được rơ ràng phạm vi và công
năng của mỗi giới trong mười tám giới rồi, đến đây,
chúng ta có thể bắt đầu tập phương pháp quán. Pháp quán
này gồm có hai phần: Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần
và thức; và quán sát sự giả dối của căn, trần và thức.
1. Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức. Vẫn biết
căn là một nội sắc, nhưng chúng ta rất quan hệ mật thiết.
Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần,
c̣n trần là phần bị động "được duyên" với căn. Nhờ có
căn phù trần và tịnh sắc, nên con người mới có thể nhận
biết các cảnh vật chung quanh trong sự sống hằng ngày.
Nếu không có căn, dĩ nhiên không có thức, th́ con người
không phải là con người. Họ không sáng tác, xây dựng,
cải cách, tiến hóa, và thế giới này phải là thế giới "chết",
mờ mịt không có ư nghĩa.
Nếu không có trần, con người cũng không sống nổi. Ngoại
cảnh là trường hoạt động của con người. Nó dạy khôn dạy
khéo cho con người trong cuộc sinh hoạt và làm cho con
người có ư thức về cuộc sống của ḿnh.
Thức lại tác động vào căn và trần làm cho cuộc sống càng
thêm tiến bộ, sung túc thịnh vượng.
Ba thứ này ảnh hưởng lẫn nhau như cây quẹt, chất
diệm và
đốm lửa. Sự liên quan này chứng minh một cách hùng hồn
sự không độc lập của sắc pháp và tâm pháp, cả về phương
diện cá thể lần phương diện tổng thể.
Mười tám giới này, như đoạn đầu đă nói, gồm cả thế giới
và nhân sinh, cả vật vô t́nh và vật hưũ t́nh. Một khi
chúng đă không tự lập, th́ trong vũ trụ này, không có
một vật ǵ, kể cả con người, cả cái ngă, do chúng cấu
tạo ra lại có thể biệt lập, thuần nhất được.
2. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức. Phần trên,
chúng ta thấy cái ngă không thể do tổng hợp của căn,
trần và thức mà có được một cách thuần nhứt. Đến đây,
chúng ta sẽ đi sâu vào một tầng nữa, quán sát xem cái
ngă có thể có trong một phần nào của căn, trần và thức
chăng?
a) Sáu căn là ngă chăng? Trước tiên, chúng ta hăy xét
bản chất của sáu căn là ǵ? Chính là một khối xương da
máu thịt, hợp lại có trật tự, có tổ chức, chứ không ǵ
khác. Mà đă là thịt da, xương máu th́ không có ǵ là bền
bỉ, thuần nhất. Từ "khi trắng răng đến thuở bạc đầu",
thử xem con người đă mấy lần thay đổi. Và sau một trăm
năm, thử hỏi thể xác ấy sẽ c̣n lại ǵ, ngoài "nắm cỏ
khâu xanh ŕ"?
Giả sử có một cái ngă ở sáu căn, th́ thử hỏi:
Nếu cái ngă ở nơi mắt, th́ năm căn kia không phải là ngă.
Nếu cái ngă ở nơi tai, th́ năm căn kia không phải là ngă.
Lần lượt xét cả sáu căn, chúng ta không thể nói được cái
ngă ở một phần nào trong sáu căn.
Nếu cho rằng sáu căn đều là ngă, th́ thành ra con người
có đến sáu cái ngă. Nói thế chắc không ai công nhận được.
C̣n nếu bảo rằng: Do sáu căn ḥa hợp mà có cái ngă, th́
với trái với định nghĩa về cái ngă, là thuận nhất, bất
biến. vả lại khi đă cho rằng cái ngă do nhiều thứ hợp
lại, th́ cũng phải công nhận luôn là cái ngă ấy là không
thật, là giả hợp.
Do đó, Duy thức học bảo "nhân vô ngă".
b) Sáu trần là ngă chăng? Trần với căn không khác ǵ mấy.
Căn đă không tự tại trong cuộc sinh tồn, th́ trần làm
sao đứng vững, c̣n hoài.
Giả sử, "ngă" nằm trong sắc, th́ trên thế giới này phải
không có sự đổi trắng, thay đen. Như hoa nở rồi tàn, hết
ngày rồi đêm, băi bể biến thành vườn dâu, cuộc đổi thay
đă bày rành rành ra trước mắt.
Vậy "ngă" nằm trong thanh chăng? Cũng không có lư. Thanh
không bao giờ tự nhiên mà có. Nếu có không do vật hữu
t́nh phát ra, th́ cũng do sự va chạm của những vật vô
t́nh mà có. Như thế, thanh rơ ràng là một pháp hữu vi,
có tạo tác. Mà đă là hữu vi, th́ thế nào cũng vô thường.
Vả lại, vật sinh ra nó là sắc kia đă là vô ngă, vô
thường, th́ nó không thể nào thường, là ngă được.
Cho đến hương, vị, xúc, pháp cũng đều là vô thường, vô
ngă như sắc, thanh cả. Chúng chỉ như làn gió thoảng qua,
như màn sương phảng phất, đă vô h́nh lại bất định, nên
sự vô ngă của chúng lại càng rơ rệt hơn sắc, thanh
nhiều.
c) Sáu thức là ngă chăng? Như đoạn trên đă nói, thức là sự
nhận biết do căn và trần đối nhau mà có. Điều ấy đă
chứng minh rằng thức không thật có. Nói một cách đơn
giản th́ thức là do căn và trần đối nhau mà thành, nhưng
nếu chia chẽ một cách rốt ráo theo duy thức học, th́
thức sỡ dĩ có được c̣n là nhờ nhiều nhân duyên khác nữa.
Chẳng hạn như nhăn thức, sanh khởi được là nhờ chín
duyên sau đây:
Không: là khoảng trống không, cách biệt giữa căn và cảnh
vật.
Minh: là ánh sáng soi chiếu bởi mặt trời, trăng, sao,
hay đèn đóm.
Căn: là chỗ nương tựa của thức.
Cảnh: là các sự vật mà căn duyên được.
Tác ư: là sự mong muốn được thấy.
Phân biệt y: là chỗ nương để phân biệt, tức là ư thức,
hay thức thứ sáu.
Nhiễm tịnh y: là thức thứ bảy hay là tiềm thức.
Căn bản y: là thức thứ tám.
Chủng tử: bản năng sẽ được phát sinh.
Để có một ư niệm rơ ràng hơn về nhăn thức, chúng tôi xin
giảng giải chín duyên trên ra như sau:
Khi mắt ta thấy một vật ǵ, nó phải ở cách vật ấy gần
hay xa (không ), khi thấy là ban ngày, hay ban đêm có
trăng, sao, hoặc pha đèn (minh). Sự thấy ây dĩ nhiên là
phải từ con mắt mà có (căn) và đồng thời, lúc đó phải có
vật ǵ mới thành sự thấy (cảnh). trước lúc thấy, ta đă
có ư muốn ngó rồi (tác ư). Tác ư đây lại do ư thức đă
khởi động trước (phân biệt
y). ư thức lại phải nương
thức thứ bảy, v́ là căn của nó (nhiễm tịnh
y). Thức thứ
bảy lại luôn luôn và chấp thức thứ tám là ngă (căn bản
y). Thức này lại là nơi dung chứa các thức chủng tử.
Chủng tử là cái nhơn chánh để có ra sự vật.
Xét từ trong đến ngoài, từ duyên đầu đến duyên chót,
nhăn thức đă không có mảy may ǵ là chơn thật cả. Các
thứ kia như nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức cũng như vậy
cả; nhưng ít duyên hơn, như nhĩ thức th́ chỉ có tám
duyên (v́ không có Minh: nghe không cần có ánh sáng).
C̣n tỹ, thiệt và thân thức, th́ chỉ bảy duyên (v́ không
cần có Minh và Không). Ư thức th́ chỉ có năm duyên, là:
căn, cảnh, tác ư, căn bản y, chủng tử.
Xem thế th́ đủ rơ sáu thức đều là không thật, nghĩa là
cũng vô ngă như sáu căn và sáu trần.
Tóm lại, từ căn thân cho đến thế giới, gồm trong mười
tám giới, đều không thật có, không thật ngă. Hành tướng
do nhân duyên ḥa hợp th́ có, những thật thể th́ hoàn
toàn không.
IV. Hiệu Quả của Pháp Quán Giới Phân Biệt
Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan cái ngă
không c̣n manh giáp. Cái ngă đă bị tấn công đủ mọi mặt,
từ ngoài vào cho đến tận sào huyệt, và cuối cùng, bị
phân tán, chia xẻ, phanh phui cho đến mảy mún. Từ trước
đến nay, cái ngă chấp sỡ dĩ hoành hành được là nhờ núp
vào bóng tối của si mê. Từ nay phán quán giới phân biệt
như là một ngọn đèn pha chiếu sáng cả ṿm trời u tối làm
cho cái h́nh bóng giả dối là cái ngă cũng tan biến
như mây khói. Ngă chấp đă không c̣n, th́ ngă ái, ngă mạn
cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Nói một
cách khác, phiền năo, ác nghiệp, khổ đau, do ngă chấp mà
sanh. Nay ngă chấp đă bị diệt, th́ phiền năo khổ đau
cũng sẽ hết. Phiền năo, khổ hết th́ an vui, tự tại tức
thời hiện ra. Đó là cái kết quả chắc chắn thật đầu tiên
của pháp quán giới phân biệt.
Rồi từ sự an vui, tự tại tương đối ấy, hành giả sẽ cố
gắng tiến dần trên đường đạo. Càng tiến, hành giả càng
sáng suốt thêm, càng nhận rơ thêm chân lư. Hành giả sẽ
dần dần chứng được các quả vị Tu đà hoàn, Tu đà hàm, A
na hàm, A La Hán. Nhưng hành giả cũng không dừng lại ở
các quả vị ấy. Hành giả không cố chấp ở quả vị đă chứng
được của ḿnh, do đó sẽ giải thoát được tam giới, làm
bực Thanh văn, Duyên giác.
Nếu hành giả cố gắng tu thêm, đến khi không c̣n chấp
trước các pháp ḿnh tu, mà chỉ coi đó như là ngón tay
chỉ mặt trăng, như liều thuốc trị bệnh, chỉ cần trong
lúc đau, nếu cố gắng tu được như thế, th́ hành giả sẽ
đến bực "Vô trí, vô đắc", tức là chứng được đạo quả vô
thượng Bồ đề.
C. Kết Luận
Chúng ta đă thấy rơ công năng, diệu dụng và hiệu quả tốt
đẹp của pháp giới phân biệt. Những thấy được ,mặc dù dă
là quư, mà làm được mới thật là quư hơn. Trong trên,
chúng tôi đă hai ba lần nhấn mạnh ở những chữ "nếu cố
gắng..."Thật thế, nếu không cố gắng th́ đâu sẽ hoàn đó,
và cái ngă, mặc dù giả dối, vẫn c̣n tồn tại mănh liệt và
tác oai, tác quái như thường. Cái chấp ngă được tạo dựng
và củng cố từ muôn ngàn kiếp, mối khi một ít, những lâu
ngày trở thành rắn chắc, như những vỏ nghêu, vỏ ốc bám
vào mơm đá. Ngày nay chúng ta được may mắn đức Bổn sư
chỉ bày pháp quán giới phân biệt, để cho chúng ta thấy
được cái giả tướng của nó. Những đâu phải chỉ quán năm
bảy lần, hay vài ba chục lần là thành tựu? Cái ngă được
bồi đắp lâu đời lâu kiếp, th́ công phu tu luyện để phá
trừ nó cũng cần phải nhiều thời gian. Lư trí có thể chấp
nhận dễ dàng không có thật ngă, nhưng t́nh cảm đâu có
chấp nhận dễ dàng như thế?
Từ trước đến nay ta đang tin
tưởng quí chuộng, cưng dưỡng cái ngă, bỗng hôm nay có
người bảo rằng nó không có, nó không thật, th́ thế nào
t́nh cảm cũng nổi dậy phản dối, bịt tai không muốn nghe,
bịt mắt không muốn thấy. Ta phải cần nhiều kiên nhẫn lắm,
may ra mới thuyết phục được t́nh cảm. Những trận giặc
chiến đấu với cái ngă, đến giai đoạn này, đâu phải đă
chấm dứt ! Cái ngă chưa đầu hàng mà lui vào sào huyệt
sâu kín nhất, vào "mật khu" nguy hiểm nhất là tiềm thức
hay nói theo danh từ Duy thức học là thức thứ bảy. Sự
chấp ngă ở đây có một h́nh thức toàn diện, vô cùng bén
nhậy, như trong mật khu của mỗi người dân, từ trẻ đến
già, từ đàn ông, đàn bà đến con nít, là một chiến sĩ; và
khoảng đất, mỗi lùm cây mỗi cành lá là một cạm bẫy làm
trở ngại rất lớn cho sự chiến đấu chống cái ngă. Sự chấp
ngă của tiền thức hay vô thức diễn ra trong mỗi cử chỉ
mỗi hành động, trong thức cũng như trong khi ngủ, trong
khi lành mạnh cũng như trong khi mê sảng, trong khi sống
cũng như trong khi chết (theo thần thức và đi đầu thai).
Lực lượng của địch (chấp ngă) mạnh mẽ và hùng hậu như
thế đấy. Chúng ta cần phải hiểu rơ trước khi chiến đấu.
Biết ḿnh, biết người, trăm trận trăm thắng.
Chúng ta không bao giờ được phép khinh địch. Phải chuẩn
bị đầy đủ trước khi chiến đấu. Và trong khi chiến đấu
phải quyết tâm và kiên nhẫn. Với hai điều kiện căn bản
ấy, chắc chắn hành giả sẽ thành công trong cuộc chiến
đấu, dẹp tan cái ngă tên giặc nguy hiểm nhất trong mỗi
chúng ta, và cầm đầu các tên giặc khác là: tham, sân, si.
Trừ được tên đầu đảng này là hành giả đă hoàn toàn thành
công trong trận giặc chống phiền năo, khổ đau và bắt đầu
bước lên đài giải thoát.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 6
Lục Độ
Độ thứ nhất: Bố Thí Ba La Mật
A. Mở Đề
Đạo Phật thường được gọi là Đạo Từ bi, v́ t́nh thương
trong Đạo Phật rất bao la, sâu rộng. Đức Phật tổ v́ từ
bi mà xuất gia để t́m đạo cứu khổ cho chúng sinh. Vậy
người Phật tử, khi noi theo dấu chân Phật, cũng phải lấy
từ bi làm động tác chính cho sự tu hành của ḿnh.
Nhưng làm thế nào để thể hiện được ḷng từ bi và làm cho
nó tăng trưởng? Phương pháp mầu nhiệm nhất là thực hành
pháp môn Bố thí Ba la mật, một trong sáu pháp môn (lục độ)
mà đức Phật đă chế ra cho kẻ tu hành có tâm trí rộng lớn
thực hành để độ ḿnh và độ người ra khỏi biển sanh tử
luân hồi và đến bờ giác ngộ.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Bố thí là cùng khắp: Thí là cho, là trao tặng. Bố thí là
cho cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi.
Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita. Người Trung
hoa dịch nghĩa là "Bỉ ngạn đáo", nói theo tiếng Việt là
"đến bờ bên kia".
Bố thí Ba la mật, tức là một môn tu hành bằng phương
pháp bố thí, có công năng như một chiếc thuyền, đưa ḿnh
và người từ bờ mê lầm của chúng sinh sang bờ giác ngộ
của chư Phật.
II. Thành Phần Của Bố Thí Ba La Mật
Bố thí Ba la mật gồm các loại sau đây: Tài thí, Vô úy
thí. Dưới đây chúng ta lần lượt t́m hiểu ư nghĩa của các
loại bố thí ấy:
1. Tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật
thực của ḿnh ra cho. Tài thí có hai loại:
a) Nội tài. Là những vật chí thân quí báu nhất của ḿnh
như thân mạng, đời sống của ḿnh. Thí nội tài ở đây tức
là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan.
Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng
ta đă thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài
lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền ch́m đă tự hy
sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà ḿnh
đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số
khác khỏi chết đuối.
Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ
những người giàu ḷng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu
c̣n xem thân mạng ḿnh là quư, là trọng hơn thân mạng kẻ
khác th́ chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố
thí này.
b) Ngoài tài. Ngoại tài là những vật thường dùng của
ḿnh như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn,
nhà cửa v.v...Đem những vật ấy ra cho những người túng
thiếu, nghèo khổ th́ gọi là thí ngoại tài.
2. Pháp thí. Đem lời hay, lẽ phải, những chân lư đúng
đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày,
khuyên bảo người khác; hoặc y theo giới luật của Phật tu
hành thành thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ
dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí. Pháp thí
có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, và tài thí
chỉ giúp người khác đở túng thiếu về phương diện vật
chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một
đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về
phương diện tinh thần, không riêng ǵ đối với người
nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải
chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân
lành cho nhiều đời kiếp về sau. V́ những lẽ đó, nên
người Phật tử chân chính, không bao giờ bỏ mất một dịp
nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo (dùng
lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy, lẫn phương diện thân
giáo (dùng đời sống chân chính hợp đạo để chỉ dạy).
3. Vô úy thí. Vô úy nghĩa là không sợ. Vô úy thí là làm
cho người khác không sợ, hết sợ. Phép thí này mới nghe
th́ tưởng như là không quan trọng ǵ cả. Nhữnh nếu suy
nghĩ một cách chín chắn, chúng ta sẽ thấy đức Phật thật
vô cùng thâm thúy khi chế ra pháp thí này.
Chúng ta hăy nghĩ lại mà xem, có phải trong một đời
người, cái sợ đă chiếm nữa cuộc đời rồi không? Khi nhỏ
chúng ta sợ la rầy, sợ đánh đập, sợ ma quỉ...khi tráng
niên sợ thiếu ăn, thiếu mặc, sợ giặc, sợ thiếu công danh,
sự nghiệp; khi già sợ đau, sợ ốm, sợ già, sợ chết...Chỉ
toàn sợ và sợ. Đó là chưa nói đến gặp thời buổi loạn lạc,
c̣n phải sợ sưu cao, thuế nặng, sợ quan tham, lại nhũng,
sợ trộm cướp, lưu manh, sợ tù, sợ tội, sợ chém, sợ giết...Bao
nhiêu thứ sợ chồng chất lên đầu người, làm cho họ không
dám ngửng lên, lưng họ c̣m xuống, đầu gối họ sắp quỵ.
Muốn có một h́nh ảnh tượng trưng cho sự sợ hăi, th́ hăy
lấy h́nh ảnh của người dân quê Việt nam trong thời Pháp
thuộc th́ rơ: Hai tay họ sẵn sàng chắp lạy, mắt không
dám nh́n lên, lưng c̣ng xuống và hai đầu gối sẵn sàng để
quỳ xuống mỗi khi nghe tiếng nạt của ông quan hay ông
thực dân hống hách.
Đời sống đă khổ, lại càng khổ thêm v́ sợ. Cho nên làm
cho người hết sợ, chính là đă cứu cho họ bớt đi quá nửa
khổ đau trong kiếp sống. Ḷng từ bi của đức Phật
không nở thấy
chúng sinh khổ sở v́ sợ, nên đă chế ra phép thí vô úy.
Muốn thực hành pháp môn này, hành giả trước tiên phải
luyện cho ḿnh một đức tính đừng sợ ǵ cả. Mà kẻ tu hành
chân chính, hiểu rơ giáo lư của Phật, th́ c̣n sợ nỗi ǵ?
Tiền của, họ không tham lam cho nên không sợ mất; danh
lợi, họ không màn, nên không sợ thiếu, sanh mạng, họ xem
như giả tạm, nên không sợ chết. Do cái tâm lư đó mà cơi
ḷng họ luôn luôn không xao động, nét mặt họ luôn luôn
b́nh tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm.
Người tu hạnh thí vô úy sẵn sàng để nhảy xuống nước vớt
người sắp chết ch́m, nhảy vào lửa để cứu người sắp chết
thiêu, xông vào đám cướp để cứu người lương thiện, đến
gơ cửa công, để minh oan cho người vô tội...
Tóm lại, người tu hạnh thí vô úy, hễ đi đến đâu th́ đem
đến đó một nỗi binh tĩnh, an vui cho mọi người và mọi
vật.
III. Phải Bố Thí Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp
Chúng ta đă biết qua các lối Bố thí Ba la mật. Đến đây,
chúng ta cũng cần biết rơ thái độ của người tu hạnh bố
thí phải như thế nào.
Sự bố thí như đă nói trên, thật ra không khó và không
hiếm. Rất nhiều người có thể làm được. Trong đời, chúng
ta thường thấy có nhiều kẻ giàu có đem bạc ngàn bạc vạn
ra bố thí, có nhiều người bỏ cả tài sản ra lập nhà
thương, kư nhi viện, trường học, có nhiều người dám liều
mạng xông vào lửa để cứu kẻ sắp chết thiêu, nhảy xuống
nước cứu người sắp chết đuối; có những kẻ anh hùng đem
tài năng ra bảo vệ kẻ yếu hèn, hay dám đương đầu với bọn
xâm lăng để giữ ǵn đất nước.
Về phương diện thí pháp, có nhiều người đi đâu cũng đem
đạo lư ra giảng nói, đi đâu cũng tỏ ra ta đây hiểu đạo,
chứng quả.
Nếu nh́n bề ngoài, th́ những hành động ấy đều là bố thí
cả. Nhưng nếu xét về tâm lư và động lực thúc đẩy bên
trong, th́ có thể có hai trường hợp khác xa nhau.
1. Bố thí chấp tướng. Nghĩa là bố thí với một dụng tâm
không trong sạch. Chúng ta đă biết bố thí do từ tâm mà
ra. Bố thí là một pháp môn để tự độ và độ tha. Những nếu
bố thí với một dụng tâm khác như cầu danh, cầu tài lợi (cho
ít mà cầu được trả nhiều), hoặc v́ ganh đua, hoặc v́
muốn làm nhục người chịu ơn, hoặc v́ bị ép buộc, hoặc
cho với một tâm lư khinh rẻ, hối tiếc hoặc cho với một
tâm lư lừa lọc, bất công, thiên vị; nếu bố thí với một
tâm lư, một thái độ như thế, th́ tất là bố thí chấp
tướng.
Chẳng hạn đem tiền của ra lập nhà thương, trường học để
được nêu trên báo, để được nhắc nhở đến luôn; hoặc nhảy
xuống sông cứu người chết đuối để được "người đẹp" tán
thưởng; hoặc giết giặc để mong được tấm huy chương, hoặc
giảng đạo lư để tỏ ra ḿnh học rộng biết nhiều. Những
hành vi bên ngoài đẹp đẽ ấy, bên trong thật không có giá
trị ǵ.
Bố thí với tâm lư, với động lực như thế, không phải là
Bố thí Ba la mật; và phước đức của những hành động ấy
thuộc về hữu lậu rất mỏng manh, như mây nổi giữa hư
không, gặp gió thổi liền tiêu tan.
2. Bố thí không chấp tướng. Nghĩa là bố thí với một dụng
ư trong sạch, đúng với ư nghĩa của nó.
Trong khi bố thí, hành giả v́ tâm từ bi b́nh đẳng, xem
chúng sinh như con, nên không sinh tâm vị kỷ, không phân
biệt bỉ thử, thân sơ. Hành giả v́ biết tài sản cũng như
thân mạng ḿnh đều là giả tạm, vô thường, nên không tham
lam, tiếc nuối. Hành giả v́ biết cái ngă không có thật,
nên khi cho không thấy có kẻ cho và người nhận, không tự
cao, tự đại.
Bố thí với một tâm địa trong sạch như trên sẽ được phước
vô lậu thanh tịnh, mới đúng là Bố thí Ba la mật.
IV. Công Đức Bố Thí Ba La Mật
Pháp bố thí là cái nhân lành của quả phúc ở thế gian và
xuất thế gian. Trong lục độ vạn hạnh, pháp bố thí đứng
đầu, v́ nó tương đối dễ làm hơn tất cả các pháp, mà công
đức lại lợi lạc được cả đôi bên người nhận và kẻ cho:
1. Đối với người nhận. Người đời không ai là đầy đủ. Kẻ
được phần này th́ thiếu phần khác: kẻ được vật chất th́
mất tinh thần, kẻ đầy đủ tinh thần th́ thiếu thốn vật
chất.
Kẻ đang thiếu thức ăn mà được ăn, kẻ đang thiếu mặc mà
được mặc, kẻ đang đau xót mà được vỗ về, an ủi, kẻ đang
lo sợ mà được đùm bọc che chở th́ thật là may mắn sung
sướng vô cùng. Trong một xă hội có được nhiều người giàu
ḷng từ bi bác ái, luôn luôn t́m cách giúp người, th́ xă
hội ấy chắc chắn sẽ được an vui thịnh đạt.
2. Đối với người cho. Sự bố thí đă đành là lợi lạc cho
người nhận, những đối với người cho cũng không kém phần
quư báu. Ngoài sự sung sướng được thấy ḿnh làm việc
phải, được thấy quần sinh sung sướng, vui mừng, hành giả
c̣n nhờ bố thí mà tiến mau, tiến xa trên đường đạo. Mỗi
khi đem của cải ra cho, là hành giả có một dịp để chiến
thắng ḷng tham lam, bỏn sẻn, ích kỷ và
nới rộng ḷng
từ bi; mỗi khi hy sinh tánh mạng để cứu giúp người, là
hành giả có dịp để thử thách ḷng tham sống, sợ chết, và
trau dồi đức tánh lợi tha, b́nh tĩnh. Mỗi khi cho mà
không kể kẻ thân người thù, là hành giả có dịp để chiến
đấu với ngă chấp ngă ái, ngă mạn. Nếu hành giả thí pháp,
th́ đó là những cơ hội để ḿnh tự nhắc nhở, ghi nhớ
những lời đức Phật dạy, những công đức mà Ngài đă làm để
noi theo.
C. Kết Luận
Chúng ta đă thấy rơ giá trị của pháp Bố thí Ba la mật.
Công đức của nó không những chỉ riêng cho người nhận, mà
lẫn cả người cho nữa. Nó vừa độ người mà vừa độ ḿnh.
Có
công năng đưa ḿnh và người từ bờ mê lầm đến bờ giác ngộ,
từ địa vị phàm phu đến quả vị Bồ Tát.
Vậy xin khuyên các Phật tử đều phát tâm Bồ đề, tu hạnh
Bố thí Ba la mật, để trên cầu thành quả Phật, dưới hóa
độ chúng sinh, đền ơn Tam Bảo.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 6 (tt)
Độ thứ hai: Tŕ Giới Ba La Mật
A. Mở Đề
Bất luận một đoàn thể, một tổ chức nào trong xă hội,
muốn có qui củ, có đường lối để tiến triển, đều phải có
kỷ luật hay giới điều. Kỷ luật càng chặt chẽ th́ đời
sống chung của tổ chức, cũng như của mỗi cá nhân trong
tổ chức ấy lại càng mau tiến phát. Trái lại, một đoàn
thể không kỷ luật là một toán người ô hợp, dù ban đầu có
đông đảo, hùng mạnh bao nhiêu, rồi chẳng bao lâu cũng sẽ
tan.
Kỷ luật bao giờ cũng do những người lănh đạo đặt ra. Một
người lănh đạo càng sáng suốt bao nhiêu, có kinh nghiệm
bao nhiêu, th́ qui luật, giới điều mà họ chế ra, lại
càng có giá trị thực tiễn, có công dụng quí báu bấy
nhiêu.
Đạo Phật là một cái đạo có mục đích đưa người đến chỗ
giác ngộ, và sáng lập là đức Thích Ca, một đấng giác ngộ
hoàn toàn. Vậy những giới luật, những giáo điều của đạo
Phật tất nhiên là phải có một giá trị, một công dụng quí
báu, bổ ích vô cùng cho những ai muốn theo dấu chân của
đức Phật.
Chính v́ sự quan trọng và lợi ích lớn lao của giới luật
như thế, nên đức Phật đă nhiều lần nhắn nhủ với các hàng
Đệ tử của Ngài ,phải nghiêm tŕ giới luật. Ngài thường
dạy: "Gặp thời không có Phật ,hăy lấy giới luật làm thầy".
Kinh Phạm vơng cũng có chép: "Giới sáng như mặt nhật,
quí báu như ngọc châu anh lạc, các vị Bồ Tát đều do tŕ
giới thanh tịnh mà thành Chánh giác".
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
"Tŕ"
là giữ giới chặt chẽ; "Giới" là những điều răn dạy, ngăn
cấm, những qui luật mà đức Phật đă chế ra để hướng dẫn
các Đệ tử của Ngài đi vào con đường chánh, và tránh cho
họ những hầm sâu hố hiểm mà họ có thể rơi vào, trên con
đường đi đến quả vị Phật.
Vậy tŕ giới ba la mật là một môn tu để đi đến bờ giác
ngộ bằng cách giữ ǵn nghiêm chỉnh, trọn vẹn giới luật
mà đức Phật đă răn dạy.
II. Thành Phần Của Giới Luật
Căn cơ của chúng sanh không đồng nhau, và sự tu hành của
Đệ tử Phật cũng có nhiều cách; v́ thế, đức Phật phải chế
ra rất nhiều giới luật và phân ra nhiều loại để áp dụng
cho sát vào căn cơ và lối tu của mỗi hạng người. Tuy thế,
chúng ta có thể phân chia giới luật của Phật ra làm ba
phần và hai cấp bậc:
Giới tại gia cho hàng Tiểu Thừa.
Giới xuất gia
Giới Đạo và Tục thông hành (Bồ Tát giới) cho hàng Đại
Thừa.
1. Giới tại gia. Giới tại gia là những giới dành cho
những người chưa xuất gia trong hàng Tiểu Thừa, tức là
những cận sự nam và cận sự nữ (cư sĩ tại gia). Những
người này có thể thọ tŕ từ một đến năm giới (Ngũ Giới)
hay tám trai giới (bát quan trai).
2. Giới xuất gia. Xuất gia gồm có năm chúng: Sa di, Sa
di ni, Thức xoa ma na ni, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Các
chúng này tùy theo sự tu hành thấp hay cao, nam hay nữ
mà giữ giới nhiều hay ít:
Sa di và Sa di ni phải giữ 10 giới.
Thức xoa ma na ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh
giới.
Tỳ kheo phải giữ 250 giới
Tỳ kheo ni phải giữ 348 giới.
3. Giới đạo tục thông hành. Giới đạo tục thông hành
chính là giới Bồ Tát. Ấy là giới mà Phật tử tại gia và
xuất gia trong hàng Đại Thừa phải thọ tŕ, sau khi đă
phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh để mở rộng bề làm Phật sự
và hóa độ thế chúng sinh.
Phạm vi bài này chỉ nói về Đại Thừa Bồ Tát giới và đây
những giới mà người tu hạnh tŕ giới ba la mật cần phải
biết và giữ cho đúng.
Bồ Tát giới gồm có:
Nhiếp luật nghi giới. Người thọ tŕ "Nhiếp luật nghi
giới" là người quyết giữ đúng mười hai giới trọng và bốn
mươi tám giới khinh, nghiă là quyết không làm một việc
ác nào cả.
Nhiếp thiện pháp giới. Người thọ tŕ "nhiếp thiện pháp
giới" là người quyết tâm làm tất cả các việc lành.
Nhiêu ích hữu t́nh giới. Người thọ tŕ giới này là người
quyết tâm tu hạnh từ bi ,hỷ xả, làm tất cả những điều
lợi ích cho tất cả chúng sinh, không một loài nào mà
chẳng hóa độ.
III. Phải Tŕ Giới Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp
Cũng như pháp tu bố thí nói ở bài trước; tŕ giới ba la
mật cũng có hai cách: Tŕ giới sai chánh pháp và tŕ
giới đúng chánh pháp, hay nói theo danh từ nhà Phật là:
Tŕ giới chấp tướng và tŕ giới không chấp tướng.
1. Tŕ giới chấp tướng. Tŕ giới chấp tướng là tŕ giới
mà chỉ có h́nh thức bên ngoài, chứ bên trong th́ rất
nhiễm ô. Chẳng hạn tŕ giới v́ háo thắng để được người
đời khen ngợi; tŕ giới với một tâm lư tự cao tự đại,
cho ḿnh hơn người, và khinh dễ người phàm giới; tŕ
giới v́ bị ép buộc, nên thiếu hoan hỷ mà sanh tâm buồn
phiền, miễn cưỡng...Tŕ giới như thế là thiếu thành tâm,
là giả dối, đánh lừa ḿnh và người. Tŕ giới như thế
chẳng ích lợi ǵ, chỉ thêm mất thời giờ và không phải là
tŕ giới Ba la mật.
2. Tŕ giới không chấp tướng. Tŕ giới không chấp tướng
là làm theo đúng vẹn toàn các điều răn cấm mà đức Phật
đă chỉ dạy, không v́ danh lợi, không v́ háo thắng, không
v́ bị hoàn cảnh ép buộc mà làm.
Trong khi tŕ giới, hành giả không hề nghĩ ḿnh giỏi hơn
người, cũng không chấp nê theo giới luật, khinh dễ người
phạm giới. Hành giả chỉ v́ thuận theo đức tánh vốn không
nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sinh và
nh́n nhận "tŕ giới" là bổn phận của ḿnh không thể bỏ
qua được. Tŕ giới như thế mới đúng là tŕ giới Ba la
mật, công đức sẽ vô lượng vô biên.
IV. Công Đức Tŕ Giới Ba La Mật
Như trên đă nói, tŕ giới Ba la mật có một hiệu lực rất
lớn lao cho việc tu hành của người Phật tử. Phật tử thọ
tŕ giới luật nghiêm trang thanh tịnh th́ lúc hiện tiền
tâm được thơ thới an vui, không có ǵ phải ân hận. Đối
với làng nước, hành giả được niềm nở kính nhường, nhất
là đối với các tín đồ, lúc nào cũng được hoan hỷ, quư
trọng. Trong kiếp vị lai, hành giả chắc chắn được chứng
quả Bồ đề, thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi.
Nếu chúng ta đem so sánh pháp môn bố thí với tŕ giới Ba
la mật, th́ sẽ thấy phép tŕ giới hơn hẳn bố thí một
bậc.
Người Phật tử có tài thí, pháp thí mà không có tŕ giới,
th́ không thể thành Phật được, v́ người ấy vừa tạo phước
và cũng vừa gây tội, do chỗ không tŕ giới, thành thử
gây nghiệp thiện ác xen tạp, đâu được trọn lành mà mong
chứng đến quả Thánh?
Trái lại, người Phật tử, nếu chỉ chăm chú nghiêm tŕ
giới luật, th́ chắc chắn sẽ thành Phật. V́ sao vậy? V́
trong lúc chuyên tâm tŕ giới là đă có tài thí và pháp
thí hàm súc rồi:
Khi hành giả tŕ giới được thanh tịnh, th́ tâm từ bi ,hỷ
xả bủa khắp. Hễ họ thấy kẻ nào làm hạnh tài thí, pháp
thí cho ai, th́ liền sanh tâm hoan hỷ tán thành công đức,
như thế tức là người ấy được một phần công đức "tùy hỷ
bố thí".
Hơn nữa, khi hành giả thành thật chuyên tŕ giới luật,
thực hành theo đúng lời Phật dạy, làm gương mẫu cho quần
sinh bắt chước, tức là đă thí pháp bằng thân giáo. C̣n
khi hành giả tŕ tụng giới luật cho nhập tâm thuần thục,
cũng tức là thí pháp bằng khẩu giáo.
Xem như thế th́ tŕ giới Ba la mật là một pháp môn rất
thần diệu, có thể bao gồm cả bố thí lẫn tŕ
giới, chắc
chắn sẽ đưa hành giả đến bờ giải thoát.
C. Kết Luận
Giá trị và công năng của tŕ giới Ba la mật đă được
chứng minh một cách rơ ràng, chúng ta không c̣n nghi ngờ
điều ǵ nữa. Giờ đây chúng ta c̣n một quyết định dứt
khoát là phát tâm dơng mănh tŕ giới Ba la mật.
Sự tu chỉ cốt ở thực hành. Dù thông minh tài trí đến đâu,
dù thâm hiểu giáo lư đến đâu, mà không thực hành, th́
cũng vô ích. Chúng ta đừng nên quên rằng chữ "hành"
thường đi theo chữ "học" và chữ "tu" (học hành, tu hành).
Đạo Nho cũng có câu: "học nhi thời tập chi". Đạo Phật
lại dạy một cách mạnh mẽ hơn: "tu mà không học là tu mù;
học mà không tu là cái đảy sách". Nhất là khi đă mang
danh Phật tử, đă thọ giới mà không giữ giới, th́ chẳng
khác ǵ đem giới luật của Phật ra mà phỉ báng và làm tṛ
cười cho thế nhân.
Vậy chúng tôi xin khuyên quí Phật tử, sau khi đă nhận
chân giá trị cao quí và lợi ích lớn lao của pháp môn tŕ
giới Ba la mật, hăy mau mau phát tâm rộng lớn tu hành
tŕ giới này, để chóng thoát ṿng sinh tử khổ đau.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 7
Lục Độ (tiếp theo)
Độ thứ ba: Tinh Tấn Ba La Mật
A. Mở Đề
Ngạn ngữ ta có câu: "Ăn không lo, của kho cũng hết".
Thực vậy, dù tiền rừng bạc biển mà ăn rồi ngồi không,
th́ cơ nghiệp cũng có ngày tiêu tan. Đối với người giàu,
lười biếng c̣n như thế, huống hồ đối với người nghèo
túng, th́ lười biếng là một chứng bệnh rất nguy hiểm...
Người làm ruộng không siêng năng cày cấy, bón phân tát
nước, thức khuya dậy sớm, lo lắng mọi việc, th́ đến mùa
lúa, chắc chắn sẽ bị thất bại, thiếu trước hụt sau, nợ
nần vây kéo, cả năm buồn bả.
Anh thợ máy hay chị thợ may không siêng năng với nghề
nghiệp, lười biếng ăn chơi măn tháng suốt năm, v́ tiền
bạc không dư nên phải vất vả, đến khi đau ốm lại càng
khổ vô cùng.
Người đi buôn bán, không siêng năng thức khuya dậy sớm,
mua tảo bán tần, th́ phải bị lỗ lă, thâm thủng nhiều
ngày, mang công mắc nợ, nên phải sang tiệm thế đồ, gia
tài khánh kiệt.
Trong đạo Phật cũng vậy, lười biếng là một cái tội.
Người học đạo không tinh tấn thức khuya dậy sớm tham
thiền, quán tưởng, niệm Phật tụng kinh, không lo hoằng
dương chánh pháp, cứ biếng nhác qua ngày, tiêu pha của
đàn na thí chủ; như thế ḿnh đă không tự độ, th́ làm sao
độ tha được ! Hiện tại không có lợi ích ǵ cho đạo, sau
khi chết phải trả nợ cho đàn na thí chủ. Nói chung lại,
người lười biếng dù ở ngoài đời hay trong đạo, dù làm
việc ǵ cũng không thành công.
Muốn tránh những điều tai hại trên, ta phải tu pháp Tinh
tấn Ba la mật.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
"Tinh"
là tinh chuyên (ṛng rặt) một việc không có xen tạp. "Tấn"
là tiến tới măi măi không dừng, không gián đoạn hay thối
lui.
Hai chữ tinh tấn nói theo nghĩa thông thường là siêng
năng chuyên cần; theo Duy thức học, th́ tinh tấn là món
trong mười một món thiện tâm sở, không phải thuộc về
phần tội ác. Bởi vậy, người siêng năng làm những điều
sai quấy như siêng năng đào đường
khoét vách, cờ bạc
rượu chè th́ không phải là tinh tấn, mà duy thức học gọi
là "phóng dật" (buông lung)
II. Thành Phần Của Tinh Tấn Ba La Mật
a) Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh. Nghĩa là các
điều ác, từ trước đến giờ ḿnh chưa làm đến, th́ từ nay
về sau cũng phải tinh tấn đừng cho nó phát sinh. Thí dụ
như từ hồi nào đến giờ, ta không hề sát sinh hại vật,
trộm cướp gian giảo, trêu hoa ghẹo nguyệt, nói lời dối
trá hung ác và cờ bạc rượu chè v.v...th́ từ đây về sau
ta cũng phải tinh tấn thêm lên, cố gắng giữ ǵn cho đừng
sanh khởi.
b) Tinh tấn diệt cho mau các điều ác đă sanh. Nghĩa là
các điều ác mà ḿnh đă lỡ làm rồi, th́ phải tinh tấn
diệt trừ cho mau, thí dụ như ta lỡ tạo những tội ác tham
lam trộm cướp, đa mê sắc dục, giận dữ kiêu căng, th́ nay
ta phải tinh tấn đừng cho nó tăng trưởng thêm nữa, mà
trái lại phải diệt trừ cho chóng.
c) Tinh tấn làm cho các điều lành phát sinh. Nghĩa là từ
trước đến nay có những điều lành ta chưa thực hiện được,
th́ nay ta phải tinh tấn để cho nó phát hiện ra trong
hành động. Thí dụ, lâu nay ta chưa làm những việc thiện
xă hội, bỏ công bỏ của ra giúp người nghèo đói tật
nguyền, hay ta chưa quy y thọ giới, ăn chay niệm Phật,
học đạo nghe kinh v.v...th́ từ ngày hôm nay ta phải tinh
tấn làm cho các điều làm này được phát sanh.
d) Tinh tấn làm cho các điều lành tăng trưởng. Nghĩa là
các điều lành đă được phát sanh rồi, nay ta phải tinh
tấn làm cho nó tăng trưởng hơn nữa, hay ta đă quy y rồi,
bây giờ phải tinh tấn phát nguyện tŕ giới. Nếu ta đă
thọ Ngũ Giới rồi, bây giờ phải tinh tấn tu Bát quan
trai...Tóm lại, tất cả việc lành từ ngoài đời cho đến
trong đạo, ḿnh đă làm th́ phải tinh tấn làm sao cho mỗi
ngày được phát triểủn.
IV. Phải Tinh Tấn Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp?
Tinh tấn, cũng như bố thí và tŕ giới, đều có hai phương
diện:
a) Tinh tấn có chấp tướng. Có người trước mặt mọi người,
th́ rất tinh tấn, lăng xăng làm việc này việc khác, tỏ
ra cần mẫn chăm chỉ để được tiếng khen, nhưng khi không
ai nḥm ngó, th́ lại rất giăi đăi. Có người v́ sợ người
trên la rầy, quở phạt mà tinh tấn; nhưng khi được tự do,
không ai kiểm soát th́ lại buông lung. Có người tinh tấn
với một tâm lư háo thắng, quyết hơn người để tự cao tự
đại.
Tinh tấn với một dụng tâm không trong sạch, như v́ danh,
v́ lợi, v́ sự kiêu căng v.v...đều là tinh tấn chấp
tướng, không đúng là tinh tấn Ba la mật.
b) Tinh tấn không chấp tướng. Tinh tấn không chấp tướng
tức là tinh tấn một cách chân thành, không v́ dục vọng
mà chính v́ ḿnh nhiều tội lỗi, nên quyết tâm sửa chữa,
thấy ḿnh cần giải thoát ra khỏi luân hồi, nên phải gấp
rút chuyên cần tu luyện. Người tinh tấn không chấp tướng
th́ dù ở giữa đám đông người hay ở một ḿnh, dù có người
nhắc nhở kiểm soát hay không ,dù đạt được quả vị cao hay
thấp v.v...cũng không bao giờ thay đổi ư chí và thái độ
quyết tiến của ḿnh, mà mục đích là giải thoát ḿnh và
người ra khỏi cảnh khổ sanh tử luân hồi.
IV. Công Đức Của Tinh Tấn Ba La Mật
Trong tất cả sự nghiệp, vĩ đại ở đời, hay kết quả vẻ
vang trong đạo, cái bí quyết duy nhất để thành công là
pháp tinh tấn. Tinh tấn như là chất dầu xăng làm cho
chiếc xe hơi chạy. Động cơ dù tốt, người lái dù giỏi,
con đường dù bằng phẳng, mục đích dù gần, mà không dầu
xăng th́ chiếc xe vẫn ở nguyên một chỗ.
Cho nên câu nói cuối cùng của đức Phật Thích Ca với các
Đệ tử trước khi nhập diệt là: "Hỡi các người, hăy tinh
tấn lên để giải thoát". Người thọ tŕ Tam quy, tinh tấn
giữ năm giới và làm các điều phước thiện, th́ sẽ được
sanh lại làm nhân đạo, phúc thọ song toàn. Người tinh
tấn tu Thập thiện và tu Tứ thiền, Bát định, th́ sẽ sanh
về cơi Trời Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Người
thấy các khổ cảnh sanh ḷng nhàm chán cảnh đời, quyết
tâm dứt trừ các phiền năo, tinh tấn tu ba mươi bảy phẩm
trợ đạo, kết quả sẽ chứng được bốn quả Thanh
Văn. Người
quán thấy mười hai nhân duyên là nguồn gốc của nhiều
kiếp sanh tử luân hồi, tinh tấn tu hành, quyết đoạn trừ
mười hai nhân duyên, sẽ thành quả Duyên giác. Các vị Bồ
Tát, xứng theo tự tánh vô tham của ḿnh, tinh tấn tu
pháp bố thí ba la mật; xứng theo tự tánh vô sân, tinh
tấn tu pháp nhẫn nhục ba la mật; xứng theo tự tánh vô si,
tinh tấn tu pháp tŕ giới ba la mật; xứng theo tự tánh
tịch tịnh, tinh tấn tu pháp tu pháp thiền định ba la mật...Tóm
lại, các vị Bồ Tát trong khi tu, v́ xứng với thể tánh
chân tâm của ḿnh mà tu pháp lục độ, không chấp ở nơi
ngă tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng,
không thấy ḿnh có, có người, có năng sở, bỉ thử, th́
khi nhân hạnh Bồ Tát được viên măn, sẽ thành quả Phật.
Xem thế đủ biết công đức của tinh tấn lớn lao biết chừng
nào. Tu pháp môn nào cũng vậy, hễ có tinh tấn mới có
hiệu qủa, không tinh tấn th́ ḥan toàn thất bại.
C. Kết Luận
Giá trị và lợi ích của tinh tấn không thể nghĩ bàn, vậy
trong khi làm việc đời cũng như việc đạo, chúng ta phải
luôn luôn chuẩn bị sẵn đức tinh tấn, như người tài xế
chuẩn bị xăng nhớt, trước khi làm những cuộc hành tŕnh
xa xôi. Nếu chúng ta không luyện được đức tinh tấn,
không chiến thắng được tánh giải đăi, buông lung th́
chúng ta hăy cân nhắc rằng, công việc mà chúng ta sắp
làm sẽ hoàn toàn thất bại. Công việc tu hành, đi từ bờ
mê đến bến ngộ, đường dài muôn trùng vạn dặm, trải qua
băo táp mưa sa, nếu không có được đức tinh tấn, như các
bùa hộ mệnh và bí quyết tiến thủ, th́ chúng ta chỉ quanh
quẩn măi trong biển sanh tử luân hồi.
Một lần nữa, hăy nghe lời đức Bổn sư dạy c̣n văng vẳng
bên tai: "Hỡi các người! Hăy tinh tấn lên để giải thoát".
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 7 (tt)
Độ thứ tư: Nhẫn Nhục Ba La mật
A. Mở Đề
Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn
chướng môn khai" (một niệm ḷng sân hận nổi lên, th́
trăm ngàn muôn ức cửa nghiệp chướng đều mở ra). Thật
vậy, lắm người v́ một phút không dằn được cơn tức giận,
mà đánh đập vợ con đến tàn tật, đốt phá của cải quư báu
của ông cha để lại, rồi phải ân hận suốt đời. Lắm lúc,
v́ không làm chủ được tánh nóng nẩy mà t́nh cốt nhục
phải chia ly, nghĩa vợ chồng phải phân rẽ, bạn chí thân
trở thành kẻ oán thù...
Người học đạo cũng vậy, nếu gặp nghịch cảnh không nhẫn
nhịn được, thối chí nản ḷng, đôi khi phải bị đọa đày.
Như ông Độc giác tiên nhân, v́ một niệm sân hận không
nhẫn được, mà phải bị mất năm pháp thần thông. Ông Uất
Đầu Lam Phất, v́ sân hận mà phải đọa làm loài phi ly
trùng (chồn bay). Nên sách có nói: "Nhất sân chi hỏa
năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn" (Nghĩa là một
đóm lửa sân, có thể đốt tan muôn mẫu rừng công đức).
Vậy muốn trừ sân hận một cách có hiệu quả, phải tu pháp
Nhẫn nhục Ba la mật.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
"Nhẫn"
là nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch ḷng. "Nhục"
là điều sỉ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến ḷng tự
ái của ḿnh.
Nhẫn nhục Ba la mật là nhẫn nhục đến chỗ cùng tột không
c̣n ai có thể nhẫn nhụ hơn thế nữa.
II. Thành Phần Của Nhẫn Nhục Ba La mật
1. Thân nhẫn. Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng
lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ,
làm bức năo nơi thân, ḿnh cũng cam chịu, không phàn nàn
hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác.
2. Khấu nhẫn. Thân đă nhẫn chịu không chống lại người và
miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rủa độc ác,
trước những lời mạ nhục chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay
đánh dập tàn nhẫn.
3. Ư nhẫn. Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không
oán giận, không nổi lên ư phản đối, những tư tưởng hắc
ám để trả thù.
Trong ba thứ nhẫn này, "ư nhẫn" là khó nhất và quan
trọng nhất. Có nhiều khi thân có thể chịu đựng được
các
h́nh, nhưng miệng vẫn lẩm bẩm nguyền rủa. Thêm một lần
nữa, miệng tuy không thốt ra những lời phản đối, nguyền
rủa, nhưng ư vẫn ngấm ngầm phản đối, và tức giận đốt
cháy tim gan.
Đến khi "tâm ư" cũng không ngấm ngầm nổi dậy phản đối,
sự tức giận lắng xuống tận đáy ḷng; đứng trước mọi
nghịch cảnh, ḷng vẫn phẳng lặng như không, th́ nhẫn
nhục mới thật là hoàn toàn.
Nếu bên trong vẫn chưa nhẫn được, th́ thế nào giận giữ
cũng có ngày xuất hiện ra trong lời nói và hành động.
III. Phải Nhẫn Nhục Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp?
1. Nhẫn nhục có chấp tướng. Nhẫn nhục v́ sợ quyền thế;
Nhẫn nhục v́ đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể
trả thù được; Nhẫn nhục để mong cầu được người khen, hay
được chức trọng, quyền cao; Nhẫn nhục v́ khinh bỉ đối
thủ, hay tự cho ḿnh cao hơn người, không thèm chấp nê,
phản đối. Nhẫn nhục như thế là Nhẫn nhục chấp tướng v́
c̣n do dục vọng tham, sân, si, mạn thúc đẩy, chưa phải
là Nhẫn nhục Ba la mật.
2. Nhẫn nhục không chấp tướng. Người tu hạnh Nhẫn nhục
ba la mật, trước hết phải do ư muốn diệt trừ ḷng sân
hận, kiêu mạn, tất đố, tự ái, tham lam...Nếu có người
chửi mắng, ḿnh phải b́nh tĩnh tự nghĩ rằng: "Ta có làm
điều ǵ sái quấy không? Nếu có, th́ ta bị sỉ nhục là
phải, ta nên cảm ơn người. Nếu ta trong trắng, th́ những
lời sỉ nhục ấy có dính líu ǵ đến ta đâu, mà phải khổ
tâm nghĩ đến?"
Hơn nữa, người tu Nhẫn nhục c̣n nhắm
mụt đích trao dồi
ḷng từ bi và hỷ xả, ta Nhẫn nhục không oán giận, không
trả thù là v́ ta thương người, ta muốn xem mọi người như
thân thuộc anh em. ta Nhẫn nhục v́ ta không muốn cuộc
đời là một đấu trường, một băi chiến, một ḷ lửa của sân
hận, đốt thiêu tất cả.
Chúng ta hăy tập cho được Nhẫn nhục như ông Purna trong
câu chuyện sau đây: "Khi Phật c̣n tại thế, một Đệ tử của
Phật, ông Purna xin Phật đi qua truyền đạo tại xứ
Chronaparanta, là một xứ có tiếng rất hung ác. Phật hỏi
ông Purna:
Ông đă phát nguyện đem đạo pháp của ta đến truyền bá cho
dân xứ ấy, nhưng nếu ho không nghe, lại c̣n dùng lời
hung ác mắng chửi ông, th́ ông nghĩ sao?
Bạch Thế tôn, con nghĩa: Họ là người tốt, v́ họ không
dùng cây đánh đập con, hay lấy đá ném con.
Phật hỏi tiếp:
Nếu họ lấy cây đánh ông, hay dùng đá ném ông, th́ ông
nghĩ sao?
Bạch Thế tôn, con nghĩ: Họ vẫn c̣n ḷng nhân, v́ họ
không chém giết hay đập con đến chết.
Phật lại hỏi:
Nếu họ chém giết hoặc đánh chết ông th́ ông nghĩ sao?
Bạch Thế tôn, con nghĩ: Họ là ân nhân của con, v́ nhờ họ
mà con thoát được thân đau khổ, bỏ được bọc thúi tha, từ
biệt đời sống khốn nạn này.
Đức Phật khen:
Hay lắm ! Ông nhẫn nhục được như vậy th́ mới có thể qua
xứ ấy truyền đạo được !
Ông Purna qua xứ Chronaparanta truyền đạo không bao lâu,
dân chúng xứ ấy đều qui đầu Phật pháp cả.
Nhẫn nhục như ông Purna mới thật đúng là Nhẫn nhục Ba la
mật, nghĩa là nhẫn từ ngoài thân đến trong tâm, nhẫn mà
không thấy ḿnh nhẫn và cảnh nhục để nhẫn.
IV. Công Đức Của Pháp Nhẫn Nhục Ba La mật
Như đoạn mở đầu đă nói, lửa sân hận có thể đốt thiêu tất
cả những ǵ quí báu, mà loài người đă xây dựng được trên
thế giới này. Lửa sân hận chỉ có thể bị dập tắt bằng
nước Nhẫn nhục Ba la mật.
Không Nhẫn nhục th́ gia đ́nh ly tán, bạn hữu chia ĺa,
tớ thầy đoạn tuyệt, đồng bào xung đột, thế giới chiến
tranh.
Có Nhẫn nhục th́ gia đ́nh sum họp, bạn hữu tương thân,
tớ thầy trung tín, đồng bào đoàn kết, thế giới ḥa b́nh.
Riêng đối với bản thân, không Nhẫn nhục th́ lửa giận
thiêu đốt ḷng ḿnh và dục vọng hoành hành, sự nghiệp
tiêu tan, mọi người xa lánh, đạo quả khó tṛn.
Có Nhẫn nhục th́ ḷng từ chan chứa, thanh tịnh tràn lan,
sự nghiệp dâng cao, người người quí trọng, đạo quả viên
thành.
V́ nhận thấy công đức lớn lao và quí báu của Nhẫn nhục
cho nên cổ nhân đă có nhắn nhủ với người đời một cách
mạnh mẽ như sau:
Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận
Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu
Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc
Hưu hưu hưu, cái thể công danh bất tự do
Nghĩa là:
Nhẫn nhẫn nhẫn (thân nhẫn, miệng nhẫn, tâm nhẫn)
th́ những điều trái chủ oan gia từ đây dứt hết.
Nhịn nhịn nhịn (thân nín, miệng nín, tâm nín) th́ cảnh
giới thần tiên vô hạn cũng do đây mà được.
Thôi thôi thôi (thân, miệng, tâm đều thôi) th́ những
công danh cái thế không c̣n tự do.
C. Kết Luận:
Chúng ta không c̣n nghi ngờ ǵ nữa giá trị và công đức
lớn lao, quư báu của nhẫn nhục. Giờ đây chúng ta chỉ c̣n
quyết tâm thực hành ngay pháp môn này. Nhất là đối với
Phật tử nào đă nhiều lần bị lửa giận tàn phá tâm can,
gia đ́nh và sự nghiệp của ḿnh, hăy mau mau tu tập pháp
nhẫn nhục này. Đừng để phải ăn năn, hối tiếc và khổ đau
thêm một lần nữa v́ lửa nóng giận.
Kẻ tu hành lại càng gấp rút thực hành pháp môn này.
Không có ǵ tai hại cho sự nghiệp tu hành của ḿnh mà
làm cho người chung quanh khinh lờn, xa lánh bằng sự
nóng giận, cọc cằn nơi một kẻ xuất gia cầu đạo. Dù những
người ấy có tinh thông kinh điển bao nhiêu, tu hành bao
nhiêu ,mà khi thấy nét mặt họ đỏ gay, giọng nói họ quát
tháo, cử chỉ họ mất tự chủ, th́ người chung quanh không
c̣n tin tưởng ở sự tu hành của họ nữa, v́ sự nóng giận
tố cáo họ một cách hùng hồn.
Chúng tôi tưởng không cần phải nói nhiều hơn nữa về
những tai hại của giận dữ; v́ chắc rằng những ai đă có
lần giận dữ cũng đă thấy rơ như thế rồi.
Để kết luận bài này, chúng tôi chân thành cầu mong cho
mọi người cùng chúng tôi, đều thật hành pháp môn nhẫn
nhục này một cách có hiệu quả, để cơi đời thêm phần an
lạc
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 8
Độ thứ năm: Thiền Định Ba La Mật
A. Mở Đề
Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu
cả phước lẫn huệ. Trong bốn độ trước của lục độ mà chúng
ta đă học, chỉ nói về tu phước. Trong hai độ cưối cùng
là Thiền định và Trí huệ, chúng ta sẽ học về tu huệ.
Trước tiên, chúng ta hăy t́m hiểu tánh cách quan trọng
và giá trị của Thiền định.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Thiền định là ǵ? Thiền phiên âm theo tiếng Phạn là
Thiền na, xưa dịch là tư duy, nay các học giả dịch là
Tĩnh lự. Tu Tư duy có nghĩa là tu tập bằng phương pháp
suy nghiệm, nghiên tầm và suy cứu về những đối tượng của
tâm thức. Tĩnh lự có nghĩa là dùng tâm thể vắng lặng để
thẩm sát các vấn đề đạo pháp.
C̣n chữ Định phiên âm theo tiếng Phạn là Tam muội
(Samadhi), có nghĩa là tập trung tâm lư vào một đối
tượng duy nhất, không để cho tâm ư tán loạn. Hợp hai chữ
Thiền và Định lại, ta có một định nghĩa chung: Tập trung
tâm ư vào một đối tượng duy nhất không cho tán loạn, để
tâm thể được vắng lặng và cho tâm dụng được mạnh mẽ, hầu
quan sát và suy nghiệm chân lư.
II. Các Loại Thiền định
Thiền định có thể gọi là một trạng thái của tâm lư,
trạng thái ấy gọi là trạng thái Tĩnh lự. Song ở Dục giới,
tâm lư không thể có được trạng thái ấy, v́ nó chỉ phát
hiện ở Sắc giới, và Vô sắc giới. Rơ hơn nữa là Thiền
thuộc về Sắc giới và Đinh thuộc về Vô sắc giới. Ở mỗi
giới, Thiền và Định đều phân làm bốn cấp bực từ thấp lên
cao, cho nên có danh từ là Tứ thiền và Tứ định.
Tứ thiền và Tứ định này, tuy là kết qủa của công phu tu
tập Thiền định, hay gieo trồng thiện căn, nhưng cũng là
chung cho cả Phật pháp, cả Thế gian pháp, cả Thánh cả
Phàm. Nói rơ hơn, là dù theo phương pháp Đạo Phật hay
phương pháp nào, nếu có đường lối, có công phu đều có
thể đạt đến Tứ thiền và Tứ định; nhưng đây cũng chỉ là
thế gian pháp mà thôi.
C̣n nói về pháp Định của chư Phật, Bồ Tát và A La Hán
th́ khác. Đó là Thiền định thuộc Xuất thế gian pháp,
không thể phát hiện trong phạm vi Dục giới, Sắc giới và
Vô sắc giới được. Muốn đạt đến trạng thái Tĩnh lự của
các bậc ấy, người ta phải đạt đến sự thoát ly tam giới.
C̣n lẩn quẩn trong tam giới th́ tâm ư chỉ có thể đạt đến
Tứ định là cùng.
Muốn có được Tứ thiền và Tứ định, chỉ phải thoát ly và
đoạn diệt phiền năo ở Dục giới. Nhưng nếu muốn đạt các
pháp Định vô lậu, th́ phải diệt trừ tất cả các phiền năo
của Vô sắc giới.
Trước khi mong đến được Định vô lậu, phải vấn đến Thiền,
bởi v́ Thiền là căn bản của Định. Có được ngũ nhăn, lục
thông cũng nhờ Thiền. Vả lại, Thiền có công dụng thẩm
sát, nghiên cứu. Nếu muốn quan niệm chân lư, tất phải
nhờ đến Thiền, do đó Thiền là pháp tối yếu cho kẻ học đạo.
Đứng về phương diện các tŕnh độ của Thiền, kinh sách có
dạy như sau:
1. Thế gian thiền. Thiền này có hai loại: Căn bản vị
thiền và Căn bản tịnh thiền. Căn bản vị thiền gồm có
mười hai phẩm, phân làm ba: Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ
không.
Người phàm chán cảnh tán loạn của Dục giới th́ tu Tứ
thiền. Người muốn phước lớn th́ tu Tứ vô lượng. Kẻ nhàm
chán cảnh sắc giới chật hẹp th́ tu Tứ không. V́ mười hai
phẩm Thiền này có thể làm căn bản cho thịện pháp xuất
thế gian, nên gọi là căn bản Thiền. Với lại, an trú
trong mười hai phẩm ấy, người tu Thiền c̣n ưa thích cảm
giác lạc thọ của Thiền, nên gọi là
căn bản vị Thiền.
Căn bản vị thiền, phân làm hai: Lục diệu môn và Thập lục
đặc thắng. Ai có huệ tánh nhiều th́ tu Lục diệu môn, kẻ
nào có định tánh nhiều th́ tu Thập lục đặc thắng. Những
ai có huệ tánh và định tánh đều nhau th́ có thẻ tu cả
hai loại. V́ người ta có thể căn cứ vào pháp Thiền này
để phát sinh vô lậu trí, không phải chỉ thuần hữu lậu,
như ở Căn bản vị thiền, nên gọi là căn bản tịnh thiền.
Tuy nhiên, cả hai loại đều chỉ là thế gian thiền mà
thôi, v́ trước thời Phật giáng thế, phép Thiền này đă
có.
2. Xuất thế gian thiền. Pháp thiền này là của bậc xuất
thế. Có bốn thứ Thiền quán: Cửu tướng quán, Bát bối xả
quán, Bát thắng xứ quán và Thập nhất thiết xứ quán. Tu
bốn thiền quán này, tuy là lấy các pháp hữu vi làm đối
tượng suy nghiệm, những có thể đi đến kết quả ly dục,
phát sinh vô lậu trí, nên gọi là Xuất thế gian thiền.
3. Xuất thế gian thượng thượng thiền. Đây là pháp Thiền cao tột của các bậc đại nhân. Kinh Địa
tŕ có giải về chín môn đại thiền này như sau:
Một là "Tự tánh thiền", nghĩa là quán sát thật tướng của
tự tâm, không cần lấy đối tượng ngoại cảnh.
Hai là "Nhất thiết thiền", có công năng tự hành và hóa
tha.
Ba là "Nan thiền", môn Thiền gian nan, thâm diệu, khó
tu.
Bốn là "Nhất thiết môn thiền", có nghĩa là tất cả các
pháp Thiền định đều do môn (cửa) này mà phát xuất.
Năm là "Thiện nhân thiền", môn Thiền của những chúng
sanh có đại thiện căn cùng tu.
Sáu là "Nhất thiết hạnh thiền", bao nhiếp tất cả hạnh
pháp của Đại Thừa.
Bảy là "Trừ năo thiền", có năng lực trừ diệt phiền năo,
khổ đau cho chúng sinh.
Tám là "Thử thế tha thế lạc thiền", có năng lực làm cho
chúng sinh an lạc trong hiện tại và tương lai.
Chín là "Thanh tịnh tịnh thiền", có năng lực đoạn trừ
hoàn toàn các hoặc nghiệp, và chứng được Tịnh báo đại Bồ
đề. Đến môn Thiền này, tâm ư hoàn toàn thanh tịnh và lại
cũng không c̣n thấy cái tướng thanh tịnh ấy nữa, nên gọi
là Tịnh báo.
III. Công Năng Của Thiền định
Theo Bồ Tát hạnh, có thể tu tập Thiền định và đạt đến
mười kết quả tốt đẹp sau đây:
Một là được an trụ trong pháp thức uy nghi. Tu Thiền
định phải theo pháp thức mà hành tŕ, như vậy trải qua
một thời gian khá lâu, th́ ngũ căn được tịch tịnh, chánh
định phát khởi, không cần có sự cố gắng mà vẫn được an
trụ trong pháp thức oai nghi.
Hai là được thực hành cảnh giới từ bi. Khi tu Thiền định,
th́ giữ được tâm từ bi, thương yêu chúng sinh, muốn cho
tất cả được an ổn.
Ba là không c̣n phiền năo. Nhờ năng lực Thiền định mà
các phiền năo tham, sân, si, không c̣n phát sinh nữa.
Bốn là ǵn giữ được các giác quan. Không cho sắc, thanh,
hương, vị, xúc lay động.
Năm là vui vẻ lạc thú. Xem Thiền định là một món ăn ngon
lành hơn tất cả các món ăn khác trong thế gian.
Sáu là xa ĺa được ái dục. Một khi tâm niệm đă lắng yên,
ái dục không c̣n phát sinh và làm nhiễm trước được nữa.
Bảy là chứng được chân không ,nhưng không bao giờ bị rơi
vào chỗ chấp đoạn diệt hư vô.
Tám là cởi mở được tất cả những dây trói buộc sự giải
thoát.
Chín là khai phát được trí huệ vô lượng và an trú trong
cảnh giới của chư Phật.
Mười là đạt đến sự giải thoát thành thục, đến chỗ mà tất
cả hoặc nghiệp không c̣n nhiễu lại được
nữa.
C. Kết Luận:
Chúng ta có thể tóm tắt thành quả tốt đẹp của Thiền định
như sau:
Ngũ căn được tự tại, phiền năo được dứt trừ ,từ bi được
mở rộng, trí huệ được phát chiếu, cảnh giới giải thoát
được phô bày ra trước mắt. Một pháp môn có công năng quí
báu, có diệu dụng phi thường như thế, làm sao chúng ta
có thể bỏ qua được?
Mong rằng v́ lợi ích thiết thực nói trên, quí vị Phật tử
hăy gắng công tu tập pháp môn Thiền định này cho chíng
có kết quả.
▲
Trở Lên |
|
Bài Thứ 8 (tt)
Độ thứ sáu: Trí Huệ Ba La Mật
A. Mở Đề
Trong đạo Phật, hai tiếng vô minh được nhắc nhở đến luôn,
v́ chính vô minh là nguồn gốc, là đầu dây mối nhợ của
đau khổ của sanh tử luân hồi. Phật thường dạy: "Cái khổ
của lạc đà, của lừa ngựa chở nặng măn kiếp, cái khổ trôi
lăn trong tam giới chưa gọi là khổ. Ngu si không trí huệ
tin tưởng sai lạc, không biết hướng đi, cái ấy mới thật
là khổ".
Ngài c̣n dạy một cách mạnh mẽ, dứt khoát hơn: "Si là gốc
của tội lỗi, Trí huệ là gốc của muôn hạnh lành". Chúng
ta là Phật tử chúng ta không muốn gây tội lỗi để chịu
quả khổ đau, chúng ta chỉ mong làm được các hạnh lành để
hưởng phước quả và được giải thoát. Vậy tất nhiên chúng
ta phải tu huệ, tŕ Trí huệ Ba la mật.
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Trí huệ là ǵ? "Trí" phiên âm chữ phạn là Phă na; "Huệ"
phiên âm chữ Phạn là Bát nhă. "Trí" có nghĩa là quyết
đoán; "Huệ" có nghĩa là giản trạch, Tự điển Phật học
Trung Hoa định nghĩa như sau: "Trí là biết Tục đế và Huệ
là thông hiểu Chân đế".
Cũng có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch,
Huệ là cái Diệu dụng xét soi tự tại. Trí huệ Ba la mật
là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một
cách thấu đáo tinh tường đến nơi đến chốn, không thể sai
lầm được.
II. Các Loại Trí Huệ
Trí huệ như định nghĩa trên là trí huệ của đạo Phật, chứ
không phải trí huệ phổ thông, thường dùng trong các sự
học hỏi hiểu biết, suy luận hằng ngày trong đời.
Theo triết học Phật Giáo, khả năng nhận thức có hai loại:
Hiện lượng và tỷ lượng.
1. Hiện lượng: Là sự nhận biết trực tiếp không cần qua
trung gian suy luận. Hiện lượng lại chia làm hai:
Chân hiện lượng, là nhận thức trực tiếp mà đúng.
Tợ hiện lượng, Là nhận thức trực tiếp mà sai
2. Tỷ lượng: Là sự nhận biết qua trung gian suy luận. Tỷ
lượng cũng có hai thứ:
Chân tỷ lượng, là lối hiểu biết bằng suy luận đúng đắn.
Tợ tỷ lượng, là lối hiểu biết mà suy luận mà sai lầm.
Hiện lượng của địa vị phàm phu rất kém cỏi và phần nhiều
là tợ hiện lượng. Tỷ lượng của địa vị phàm phu lại c̣n
kém cỏi hơn nữa và phần nhiều là tợ tỷ lượng. Đứng về
phương diện tính chất, Đạo Phật chia trí huệ ra làm hai
loại lớn là " Căn bản trí" và " Hậu đắc trí".
1. Căn bản trí: Căn bản trí, là giác tính minh diệu mà
mỗi chúng sinh vốn đă có sẵn, nhưng v́ bị phiền năo che
lấp, nên chưa phát chiếu ra được. Có thể so sánh căn bản
trí như là một chất kim khí quí báu (vàng, bạc) đang ở
trong trạng thái khoáng chất, nằm lần lộn với đá (phiền
năo vô minh)
2. Hậu đắc trí: Hậu đắc trí, là trí huệ có được nhờ công
phu tu tập như tŕ giới, thiền định v.v...Có thể so sánh
Hậu đắc trí như chất kim khí (vàng, bạc) được lọc từ
khoáng chất ra và không c̣n lẫn lộn với đất đá, bụi bặm
nữa (phiền năo, vô minh).
Theo Duy thức học, sau khi đạt đến địa vị Giác ngộ,
nghĩa là có được "Hậu đắc trí", th́ tám thức chuyển
thành bốn trí:
Thức thứ tám, A lại da có tác dụng là chấp trí sanh mạng
và chủng tử, được đạt đến địa vị vô lậu và biến thành
"Đại viên cảnh trí" (trí sáng như bức gương lớn và tṛn
đầy, tượng trưng cho biển cả chơn như).
Thức thứ bảy, Mạt na có tác dụng là chấp ngă, biến thành
"b́nh đẳng tánh trí" (trí có năng lực nhận thức cách b́nh
đẳng, vô ngă của vạn pháp).
Thức thứ sáu, Ư thức có tác dụng là phân biệt, biến
thành "Diệu quan sát trí" (trí có năng lực quan sát thâm
diệu).
Năm thứ cuối (nhăn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức,
thân thức) biến thành "Thành sở tác trí" (trí có năng
lực nhận thức cùng khắp và thần diệu)
III. Làm Thế Nào Để Có được trí Huệ?
Muốn có được trí huệ, đức Phật chế ra nhiều pháp tu.
Trong số nhiều pháp tu ấy th́ "Văn, Tư, Tu" và "Giới,
Định, Huệ" là những pháp thường được nhắc nhở và thực
hành nhiều nhất.
Văn, Tư, Tu: Văn, Tư, Tu là ba pháp tu để có được trí
huệ:
Văn huệ: là huệ do tai nghe âm thanh, mắt thấy âm tự của
Phật, hay qua các kinh điển mà hiểu được nghĩa lư.
Tư huệ: là huệ do trí suy nghĩ, t́m ṭi, rơ được nghĩa
lư, hiểu được sự thật.
Tu huệ: là huệ do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lư,
mà gíac ngộ, chứng được sự thật.
Văn, tư, tu rất tương quan mật thiết với nhau, hành giả
cần phải chuyên tu cả ba thứ, không thể bỏ qua một thứ
nào mà thành tựu được. Hăy nghe Phật dạy:
"
Văn huệ, tư huệ, tu huệ, ba môn khuyết một không được.
Nếu ai nghe mà không suy nghĩ, th́ như làm ruộng mà
không gieo mạ; nếu suy nghĩ mà không tu, th́ như làm
ruộng mà không tát nước, bừa cỏ, rốt cuộc không có kết
quả. Ba huệ được đầy đủ th́ chứng quả Tam thừa?" (Sa Di
thập giới).
Giới: là lời răn dạy của Phật
(xem lại bài Tŕ giới Ba
la mật).
Định: là thiền định, giữ cho tâm ư không loạn động, để
suy nghiệm đến những vấn đề căn bản của Đạo (xem lại bài
Thiền Định Ba la mật).
Huệ: là sự phát chiếu của Trí, sau khi đă tẩy sạch phiền
năo và vô minh.
Giới, Định, Huệ tương quan mật thiết với nhau: Do tŕ
giới mà thân tâm không loạn động. Do thân tâm không loạn
động mà tâm trí được Định. Tâm trí khi đă định th́ Trí
huệ phát chiếu.
Ngược lại, Trí huệ phát chiếu th́ tâm dễ Định, Tâm đă
Định th́ Tŕ giới không khó khăn.
Tóm lại: Giới, định, huệ, đều tương duyên tương quan mật
thiết với nhau, một cái tăng th́ hai cái kia cũng tăng.
IV. Công Năng Của Trí Huệ
Như chúng ta đă thấy trong phần chia loại, trí huệ khi
đă đạt đến địa vị Giác ngộ (tám thức chuyển thành bốn
trí) th́ công năng, diệu dụng của nó rộng lớn vô cùng,
không thể nói hết. Tuy thế, để có một quan niệm tương
đối rơ ràng, chúng ta có thể nêu lên ba công năng chính
của trí huệ như sau:
1. Dứt trừ phiền năo: Phiền năo là do mê lầm phát sinh.
Khi trí huệ đă có th́ mê lầm phải mất, như khi ánh sáng
phát ra th́ bóng tối tất phải tan biến. Mê lầm đă mất
th́ phiền năo tất không c̣n phát sinh nữa.
2. Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, như
màn sương sớm che phủ cảnh vật, nay trí huệ phát chiếu
vào sự vật, chẳng khác ǵ khi ánh sáng mặt trời lên, th́
màn sương tất phải tan biến, lúc bấy giờ thực tướng thực
tánh của sự vật được lộ bày như thật.
3. Thể nhập chân lư: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che
th́ người ta với vật tưởng như riêng biệt,
sai khác. Nay nhờ trí huệ soi sáng, thấy rơ được tâm
cảnh đều chơn không, nên thể nhập được chân lư, giác ngộ
hoàn toàn.
C. Kết Luận
Gíá trị và công năng của trí huệ lớn lao không thể nói
hết. Nó là cứu cánh của người Phật tử. Cứu cánh ấy,
chúng ta phải cố đạt cho được.
Trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật cũng đă thiết tha
khuyên các Đệ tử phải trao dồi trí huệ như sau:
"
Trí huệ là chiếc thuyền kiên cố chở khỏi biển già, đau,
chết; là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều
thuốc hay chữa hết thảy bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt
găy cây phiền năo. Vậy các người phải lấy sự nghe, sự
suy nghĩ, sự tu tập mà tự tăng ích cho trí huệ ḿnh". (Kinh
Di Giáo).
Những lời nhắn nhủ thống thiết của đức Bổn sư, chúng ta
không thể không ghi nhớ và thực hành được. Vả chăng,
trong sáu độ Ba la mật mà chúng ta đă học trong ba bài
kế tiếp này, mục đích cũng chỉ để dẫn đến độ thứ sáu là
trí huệ, cái mức độ cuối cùng của đạo Giác ngộ và giải
thoát.
Cầu mong tất cả quư vị Phật tử có được trí huệ để tự độ
và độ tha đến bên kia bờ giải thoát.
Tổng Kết Về Lục Ba La Mật
Đạo Phật là đạo từ bi, mà cũng là đạo giác ngộ. Từ bi
thuộc về phước, giác ngộ thuộc về huệ. Phước và Huệ là
hai cánh làm cho con chim đại bàng là hành giả làm bay
thẳng đến bờ giải thoát. Do đó, trong kinh thường nói: "Phước,
Huệ song tu mới thành ngôi Chánh giác". Trong sáu pháp
Ba la mật, bố thí và nhẫn nhục thuộc về tu phước; thiền
định và trí huệ thuộc về tu huệ; c̣n tŕ giới và tinh
tấn là hai chất liệu có công dụng kiểm soát và đốc thúc
cho việc tu phước và huệ được thành tự hoàn toàn.
Nếu chúng ta đem so sánh một cách mộc mạc và đơn giản
sáu pháp Ba la mật với chiếc thuyền Bát nhă đưa người từ
bờ mê đến bến giác, th́: Từ bi là thức ăn, nhẫn nhục là
nước uống, tinh tấn là cánh buồm và chèo, tŕ giới là
bánh lái, thiền định là la bàn và trí huệ là đèn đuốc.
Sáu thứ ấy đều cần thiết cho người thủy thủ sẽ gặp khó
khăn trong công cuộc hành tŕnh vạn dặm của ḿnh.
Đứng về một khía cạnh khác để nhận xét giá trị của lục
độ, chúng ta sẽ thấy như thế này: Bố thí và nhẫn nhục
thuộc về bi, thiền định và trí huệ thuộc về Trí, c̣n tŕ
giới và tinh tấn thuộc về Dũng. Một Phật tử hoàn toàn
phải có đủ ba phương tiện Bi, Trí, Dũng mới mong đi đến
bờ giác ngộ một cách thông suốt và nhanh chóng.
Vậy trong quí vị Phật tử tại gia cũng như xuất gia,
trong khi học và hành sáu pháp Ba la mật, đừng nên xem
thường một pháp nào. Có như thế mới đủ phương tiện
và
năng lực để tự đọ và độ tha, đến nơi cùng tột và đúng
với ư nghĩa Ba la mật.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 9
Bốn Món Tâm Vô Lượng
A. Mở Đề
Đứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, th́ tâm
của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không
có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách.
Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn,
th́ tâm có muôn h́nh vạn trạng, tùy theo chủng tánh của
chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ
đến tham, sân, si, mạn v.v...th́ tâm trở thành nhỏ hẹp,
lớn bé, ngàn sai, muôn khác, cũng như cùng một thứ bột mà
do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon,
bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v...Cho
nên Tôn cảnh Lục có chép: " Tâm tạo chư Phật, tâm tạo
chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm
vọng động th́ ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm b́nh th́
thế giới thản nhiên, tâm phàm th́ ba món độc trói buộc,
tâm thánh th́ sáu món thần thông tự tại, tâm không th́
nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu th́ vạn cảnh tung hoành. Tự
ḿnh đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho ḿnh.
Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự ḿnh gây nên,
không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có
".
Xem thế th́ cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm
cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải
thoát.
Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả
vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau giồi cho được
một tâm vô cùng rộng lớn, một "vô lượng tâm".
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Vô lượng là ǵ? Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không
thể lường tính được.
Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự
ràng buộc của các thứ phiền năo đê hèn của phàm phu, phá
vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp ḥi của Nhị
thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao
trùm đến vô lượng chúng sinh, và t́m phương cứu cho tất
cả. Vô lượng tâm cũng có nghĩa là "Đẳng tâm", cái tâm
b́nh đẳng, phổ biến; b́nh đẳng, v́ tâm này chỉ tự nhiên,
không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi
nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn.
Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành b́nh đẳng,
phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công
năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn
bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị
Bố tát và Phật đà.
Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng
chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô
lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một
đời, mà c̣n lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô
lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật.
Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng
nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô
lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và
Bồ Tát.
II. Thành Phần Và hành Tướng Của Bốn Món Tâm Vô
Lượng
Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô
lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.
1. Bi vô lượng. Bi là ḷng thường xót rộng lớn trước
những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho
dứt trừ những đau khổ ấy. Như chúng ta đă học trong
khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là
mênh mông, rộng lớn không thể nói hêt. Nó bao trùm cả
nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn
thánh, thật đúng là vô lượng khổ.
Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu:
"Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả". Chúng sinh v́ không
sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ,
chứ trong khi đang gây nhân th́ lại không nhận thấy, mà
vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ
mà họ không biết, nhiều khi lại cho là vui. Họ hoan hô
tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là
vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá,
rồi vỗ tay reo mừng với nhau. V́ thiếu sáng suốt cho nên
đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác ǵ làm cho đỡ
khát bằng cách uống nước mặn.
Khổ nằm trong quả. Đă gây nhân quả, th́ tất phải chịu
quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được
đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như
thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết,
làm cho cơi đời đă đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc
sống đă khổ sở lại càng khổ sở thêm.
Khổ sở bao tùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ
chưa bao giờ dứt, mà cứ trồng thêm lên măi. Nó gây nhân
rồi lại kết quả, kết quả rồi lai gây nhân, cứ thế tiếp
tục măi trong một ṿng lẩn quẩn, như bánh xe lăn tṛn
trên đường thiên lư, không bao giờ dừng nghỉ.
Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở
và quốc độ; ở đâu có vô minh th́ ở đó có khổ! Mà vô
minh th́ như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một
thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận
như thế nào, th́ nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như
thế ấy:
Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh đă đành là khổ vô cùng, loài người v́
say đắm ngũ dục lạc, và tham sân, si chi phối, nên cũng
quay cuồng lặn hụp trong biển khổ như c̣n chư thiên mặc
dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái
khổ v́ ngũ suy tướng hiện. Cho đến các hàng thánh như
Thanh Văn, Duyên giác, v́ c̣n mê pháp, trụ trước Niết
Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dị sanh tử.
Xem thế đủ biết nơi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có
được một ḷng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với
nỗi đau khổ vô lượng và có một
chí nguyện cứu độ tất cả
thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng.
Các vị Bồ Tát nhờ có ḷng đại bi nên đă phát tâm bồ đề
rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy
ḿnh có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh,
nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các
Ngài là gần gũi chúng sanh để:
Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cơi đời, rơ
thế nào là tà là chánh, là khổ là vui.
Làm cho chúng sanh nhận rơ được thân phận của ḿnh mà
thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.
Xem như thế đủ biết ḷng đại bi chính là động lực chánh
để đi đến quả vi bỗ tát và Phật. Trong đại hội Hoa
Nghiêm đức bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế
này: "Nhơn v́ chúng sanh mà khởi ḷng đại bi. Nhơn ḷng
đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành
ngôi chánh giác".
Câu nói của Ngài Phổ Hiền đă rơ ràng, không c̣n nghi ngờ
ǵ nữa. Phật đă dạy: "Hạt giống Bồ đề, không thể gieo
trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi".
Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải
mở rộng ḷng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân,
ngă, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa
là phải tu luyện cho có được một ḷng Bi vô lượng.
2. Từ vô lượng. Từ là mến thương và v́ mến thương mà gây
tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là ḷng mến thương vô
cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo
cho chúng sanh cái vui chân thật.
Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, v́ cái vui ấy
không bền, cái vui ấy c̣n phiền năo chi phối: khi tham,
sân, si, mạn được thỏa măn th́ vui, nhưng có bao giờ
những thứ dục vọng ấy có thể thỏa măn được hoàn toàn và
lâu bền đâu?
C̣n vui xuất thế gian là cái vui chân thật, v́ nó lâu
bền, thoát ra ngoài ṿng phiền năo của tham, sân, si,
mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn
ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, v́ là cái vui của
cảnh giới giải thoát siêu phàm.
Muốn có được cái vui này, th́ trước tiên phải dứt trừ
cho hết các khổ do phiền năo gây ra. Nếu không ngăn chặn
được tham,sân, si hoành hành, th́ chỉ có thể có được
một cái vui nhất thời giả dối.
Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, th́
trước tiên phải có ḷng từ bi vô lượng như đă nói trên,
để luôn luôn răn nhắc chúng sanh đừng gây tội d́u dắt
chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm.
Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn
chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con
đường sáng để tiến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui
vĩnh viễn. Nói một cách rơ ràng hơn là ḷng Từ phải đi
theo ḷng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và
khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rơ
phương pháp diệt khổ và được vui.
Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn,
th́ trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ
đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho
thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng
sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, th́ cái
vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho
chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, c̣n động lực dạy
cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ.
Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đă là vô lượng, ḷng Bi đă
là vô lượng, th́ ḷng Từ cũng phải như thế. Muốn thành
tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm
lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng
sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ
chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời.
Tùy cơ: Nghiă là quan sát tŕnh độ căn bản của chúng
sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh
của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng
vô lượng. Nhưng chính v́ bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô
lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có
các vi lương y đại tài như Hoa Đà, Biển Thước mới làm
được.
Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ,
ngoài trí huệ sáng suốt, c̣n có một tâm Từ vô lượng,
không quản khó khăn, không ngạị gian nguy, một ḷng kiên
nhẫn vô biên như ḷng kiên nhẫn của người mẹ đối với
người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới
thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất
là ḷng từ bi vô lượng như các vị bồ tát th́ khó tránh
khỏi cái nạn thối chuyển v́ trần sa hoặc.
Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có
thể chứng minh một cách hùng hồn ḷng Từ vô lượng của
đức Phổ hiền:
"...Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có
bao nhiêu chúng sanh ở cơi nước mười phương trong cả
pháp giới, hư không giới...tôi đều tùy thuận mà chuyển
mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kính cha mẹ,
như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực
Như Lai
đều đồng không khác. Với kẻ bịnh khổ th́ làm lương y cho
họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong
đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng,
khiến cho họ được gặp của...Bồ Tát làm lợi ích b́nh đẳng
với tất cả chúng sanh như thế là v́
Bồ Tát nhận thấy
rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường
chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn
trọng thừa sự Như lai..".
Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà
hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến
chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng,
thay đổi theo bốn mùa, th́ ḷng người cũng có khi thích
cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không
biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn
cảnh, với giai đoạn th́ phương pháp dù hay ho bao nhiêu,
cũng chẳng thu được kết quả ǵ tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rơ
như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế,
biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo
pháp được thích hợp với căn cơ.
Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa th́
Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ
và tùy thời. Kinh "Tâm Địa Quán" cũng có dạy:
"
Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp,
bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không
phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không
phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp".
Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi th́
hiện thân, khi th́ ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại
nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại Từ ḥa. Công
hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ
phát sinh từ một ư duy nhất là tạo cái vui chân thật cho
chúng sanh.
Nên nhớ "tạo cái vui chân thật" ở đây, không có nghĩa là
tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho
những chúng sanh thân yêu của ḿnh vào hưởng, như người
ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh
cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh, dắt dẫn
chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách
tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, nhờ các hành
động lành ấy mà kết quả vui mới thôi.
Đấy, ḷng Từ vô lượng là thế. Như trên đă nói Từ phải đi
theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, th́ đại nguyện của Bồ
tát chưa thành, v́ mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui.
Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập
cho ḷng Từ mở rộng, mở rộng măi cho đến vô lượng vô
biên.
3. Hỷ vô lượng. Hỷ là ǵ? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa
là "vui theo". "Vui theo" có nhiều cách:
Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh,
nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp..để mặc cho nó làm
chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp
trừ những hiện hành phiền năo, ấy là vui theo dục vọng,
theo thói quen phóng túng của ḷng phàm.
Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh,
uống rượu, trộm cướp..đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại
không, c̣n bằng ḷng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui
theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác
vậy.
Vui theo những việc nhơn từ phước thiện, như khi thấy
người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành,
giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là
một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta
nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo,
c̣n nếu không v́ ḷng thiện, nhưng v́ thấy người làm
thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà
ḿnh cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen
lây, th́ không khéo chỉ gây thêm ngă ái ngă mạn.
Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường
của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết
Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách
trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, th́ cũng c̣n hẹp
ḥi, thiếu ḷng Từ bi rộng răi và chưa phải đúng nghĩa "hỷ"
vô lượng tâm. Đức Phật c̣n quở đó là cái vui "Khôi thân
diệt trí" hay "thu tịch Niết Bàn".
Chỉ có sự "vui theo" sau đây của Bồ Tát mới đúng với
nghĩa tâm Hỷ vô lượng.
Trong khi thật hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau
khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết
khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo.
Trong luận Đại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy
rằng: "Sự vui này c̣n nhiều gấp bội sự vui của chúng
sinh được hưởng". Bồ tát c̣n xác nhận rằng:"Nếu làm
chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được
vui mừng". Đó là lời nói của đức Phổ Hiền.
Nên nhớ cái "Hỷ" của bồ tát có những đặc điểm sau đây:
Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà c̣n giác
ngộ cái mê và được giải thoát.
Không c̣n bị buộc trong ṿng vui tự đắc làm tăng trưởng
ngă mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho
chúng sinh xuất thế.
Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và b́nh đẳng
đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt
nguồn từ ḷng Từ bi mà phát ra. Ḷng Từ bi rộng lớn bao
nhiêu th́ cái "hỷ" này cũng rộng ớn như thế.
Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập
cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ
tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ,
hẹp ḥi của phàm phu hay hàng Nhị thừa.
4. Xả vô lượng. Xả là cái ǵ? Xả là bỏ, không chấp không
kể.
Thói thường, khi chúng ta làm điều ǵ, nhất là khi được
két quả tốt, th́ hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghể. Sự bất b́nh, căi vả xung đột giữa bạn bè thân
thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp
trước. tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy
là do sự chấp ngă, chấp pháp mà ra.
Phàm phu th́ vừa thấy có ḿnh làm (chấp ngă) vừa thấy có
công việc kết quả ḿnh đạt được (chấp pháp) nên cứ bị
trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngă, bỉ thử
và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu.
C̣n hàng Nhị thừa tuy đă xả được chấp ngă, nhưng chưa xả
được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly
được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài
coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu
tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị
thừa vẫn c̣n bị biến dịch sanh tử.
Chỉ có các vị bồ tát là những bậc chứng được pháp không,
nên đă ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công
cứu khổ cho chúng sinh, th́ đó là một sự cảm ứng tự
nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí
hoàn toàn vô phân biệt để được b́nh đẳng phổ biến theo
đồng thể đại bi.
Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy
ḿnh là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài c̣n thấy
chúng sinh là ân nhân của ḿnh trên bước đường lợi tha
tiến đến công hạnh viên măn. Bởi thê, ḷng Từ, ḷng Bi
của Bồ Tát thoát khỏi ṿng ái kiến và trụ trước, tức là
xả vậy. Đến như ḷng "Hỷ" cũng thế, Bồ Tát vui ḷng từ
bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự
đắc, vui v́ thành thật tán thán công đức chung cùng chư
Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui v́
dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn
toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần
"Xả".
Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả.
Ở đó,
không kiến lập một tướng nào. Kẻ
gần người xa đều b́nh
đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, ḿnh và người không
khác; làm tất cả mà thấy như không làm ǵ cả; nói mà
thấy ḿnh không có nói ǵ cả, chứng mà không thấy ḿnh có
chứng và quả ǵ được.Cho nên trong kinh Tứ thập nhị
chương có chép "Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm,
hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp
nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu.
Lư hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rơ là xa đạo".
Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát.
Nếu c̣n chấp một tướng ǵ, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng
chưa phải là Bồ tát. Hăy nghe trong kinh Kim Cang Phật
dạy ông Tu Bồ Đề. "Này ông Tu Bồ Đề, nếu có vị Bồ Tát
c̣n tướng ngă, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ
giả, tức chẳng phải là Bồ Tát".
Ư
nghĩa chữ Xả đă rơ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ c̣n cố
gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu
được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là
chứng quả Bồ đề.
III. Sự đối Trị Của Bốn Món Tâm Vô lượng
Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát,
nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh
Bồ tát.
Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện
và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn:
hễ thiện thắng th́ ác lùi, hễ ác thắng th́ hiện lùi.
Khi ḷng Giận hừng hẩy, th́ tâm Bi bị lấn.
Khi ḷng sân bừng dậy, th́ tâm Từ bị che khuất.
Khi Ưu năo dẫy đầy, th́ tâm Hỷ không phát hiện.
Khi ḷng Ái dục c̣n nặng nề, th́ tâm xả không sanh.
Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, th́ ḷng Hận phải yếu ṃn.
Khi tâm từ lan rộng, th́ ḷng sân phải lùi.
Khi tâm hỷ bừng lên, th́ ḷng Ưu năo phải dẹp xuống.
Sự chiến đấu với phiền năo cũng như sự chiến đấu với
giặc cướp, phải tiếp tục măi cho đến khi toàn thắng mới
dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đă
vội thỏa măn và dừng nghỉ, th́ giặp cướp sẽ tái phát và
hoành hành trở lại.
Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xă, chống
sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho
đến toàn thắng, nghĩa là Bành trướng các đức từ, bi hỷ,
xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị
tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang c̣n, là v́ ánh
sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, th́
ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ
xả, đă trở thành vô lượng th́ phiền năo sẽ không c̣n và
hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Đó là ư nghĩa "phiến năo
tức là Bồ đề" mà Ngài Bồ tát Trần Na đă dạy trong Luận
Đại Thừa Trang nghiêm.
C. Kết Luận
Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn
tiếng "từ bi hỷ xả". Những chính v́ "quen" quá mà chúng
ta không để ư phân tách ư nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức
tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho
nhau, thiếu một không được:
V́ thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng
sinh. V́ thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh
khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải
làm xong nhiệm vụ của t́nh thương, nên cần phải tiếp tục
làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ
được vui, ḿnh mới vui được (Hỷ). Nhưng nếu cái vui này
mà c̣n vướng ngă mạn, tự đắc v́ tự cho ḿnh đă thành tựu
những công hạnh lớn lao, th́ cái vui ấy trở thành ái dục,
dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy
cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn
xa ĺa các thứ chấp trước như nhân, ngă, bỉ, thử, chúng
sinh, Bồ tát...(Xả).
Đó là về phần phẩm, c̣n nói về phần lượng th́ bốn đức
tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ
thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức
cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới
lấn át tất cả những phiền năo và không cho chúng có đất
sống để tái phát và nhiễu loạn.
Đó là hành tướng và ư nghĩa của bốn món Tâm vô lượng,
hay của bốn đức: Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả, mà
chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ
tát hay Phật.
Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không
phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đă nằm sẵn trong bản tánh
thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà
lại chùn chân, lùi bước. Có công việc ǵ được thành công
lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu?
Yếu tố quan trọng gíúp cho sự thành công là sự quyết tâm và ḷng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi.
Đừng thấy núi cao mà nản chí, sờn ḷng. Trước tiên phải
lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó
tuần tự kiên nhăn bước từng bước một, đừng hấp tấp và
cũng đừng trễ nải th́ một ngày kia thế nào cũng đặt chân
lên được chót núi cao.
Người tu hành cũng vậy, hăy phát bốn lời thệ nguyện lớn,
rồi cứ tuận tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn
Phật đă chế cho đến khi thành tựu mới thôi.
Cầu mong quí vị Phật tử đều phát tâm dơng mănh tu bốn
món Tâm vô lượng.
▲
Trở Lên
|
|
Bài Thứ 10
Ngũ Minh
A. Mở Đề
Người Tây phương thường chê đạo Phật là tiêu cực. Thật
ra, giáo lư của đức Phật như chúng ta đă học trong mấy
khóa phổ thông và nhất là trong khóa IV này, chứng tỏ
một tinh thần vô cùng tích cực, lợi tha, cứu thế. Nhưng
trong thực tế, chúng ta phải công nhận rằng, phần đông
các nhà hành đạo trong quá khứ; v́ thiếu phương tiện và
khả năng chuyên môn nên chỉ hoằng pháp lợi sinh bằng
phương tiện nội điển, mà không đi sâu vào các ngành sinh
hoạt khác của xă hội. Do đó, Đạo Phật bị thu hẹp phạm vi
hoạt động và mất rất nhiều ảnh hưởng trong đời sống đại
đa số quần chúng.
Nhất là trong thế giới phức tạp ngaỳ nay, mà ḷng người
bị chi phối rất nhiều v́ những sinh hoạt kinh tế, chính
trị văn hóa,...nếu người hành đạo cứ giữ những lề lối cũ,
không có những phương thức hoằng pháp thich hợp với xă
hội mới, không có những kiến thức và khả năng thích hợp
với các ngành hoạt động trong xă hội, th́ đạo Phật sẽ
mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai tṛ lănh đạo của
ḿnh nữa.
Những ư nghĩ trên đây không phải là những phát minh mới
mẻ ǵ của chúng tôi, mà chính hơn 2.500 năm trước, đức
Phật đă nghĩ đến trông dạy các Đệ tử của Ngài phải học
Ngũ minh, nếu muốn truyền giáo cho có hiệu quả.
Vậy Ngũ minh là ǵ và có tầm quan trọng thế nào? Đó
chính là vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây:
B. Chánh Đề
I. Định Nghĩa
Ngũ minh là ǵ? Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng
pháp cần phải có, phải hiểu biết.
Những kiến thức ấy là những kiến thúc nào? Đó là những
kiến thức về nôi minh, nhân minh, thanh minh, công xảo
minh và y phương minh.
II
Giải Rơ Về Ngũ Minh
1. Nội minh. Trước tiên, người hoằng pháp phải cần có
Nội minh, nghĩa là phải có kiến thức về nội điển Phật
giáo.
Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá
trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, th́
trước tiên ḿnh phải tự t́m hiểu giáo lư của đạo Phật
đă.
Chúng ta đă biết rằng không hiểu giáo lư, th́ không ai
có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những t́nh
trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở
dĩ có ra cũng v́ người hành đạo thiếu sự am tường giáo
lư nội điển. V́ không biết rơ nội điển cho nên không
biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta
mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mă, đồng
bóng, cúng sao, cúng hạn, dời mả, giết hại
sinh vật để tế
Thần tế Thánh, cúng kiến ông bà.
Muốn cho t́nh trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải
tự ḿnh thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lư cho
tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ
trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc
đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu
được nôi giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không
ai có thể tha thứ được cái
thái độ "nhứt manh dẫn quần
manh" ấy.
Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lư đă dành. Các
bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức
Phật học cũng không thể không hiểu giáo lư. Một tệ đoan
mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế
nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật
học phải là những người có học đạo.
Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người
thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển
trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia
đ́nh Phật tử chẳng hạn.
Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội
điển. Phải t́m hiểu giáo lư hàm chứa trong ba tạng: Kinh,
Luật, Luận. Giáo lư cao siêu trong ba tạng phân làm ba
hệ thống rơ ràng:
a) Hệ thống Bát nhă: Giáo lư chân không chủ trương rằng
vạn pháp là không thực, để hiển lư tánh chân không.
b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lư Duy thức chủ trương vạn
pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn
sai muôn khác.
c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lư pháp tánh là dẫn tướng
qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do
chơn như duyên khởi mà có.
Về mỗi hệ thống giáo lư, có vô số pháp môn để chúng sinh
thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp
cần thông hiểu các hệ thống giáo lư và các pháp môn
phương tiện để có thể đem ra ứng tiếp với xă hội cho hợp
thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều
quan hệ vào bậc nhất.
2. Nhân minh. Am tường giáo lư chưa đủ. Muốn tŕnh bày
giáo lư ấy một cách rơ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết
vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương
pháp luận lư; phương pháp luận lư ấy gọi là nhân minh.
Nhân minh là ǵ? Là một môn luận lư học của Phật Giáo,
chủ trương chứng minh lập thuyết bằng "Nhân", nghĩa là
bằng cách suy cứu đến lư do.
Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân
minh đai sớ. Ở đây, chúng ta t́m hiểu qua đại cương để
hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi.
Một lập luân đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần:
Tôn, Nhân, Dụ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ
trương của ḿnh. Nhân là lư do thành lập chủ trương ấy.
Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và
nghịch). Ví dụ:
Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết.
Nhân: V́ ông Nguyễn Văn A đă có lúc bị sanh ra.
Dụ: Phàm cái ǵ đó sinh tất phải có chết, như Không Tử,
Trần Trọng Kim v.v...(đông dụ). Trái lại, phàm cái ǵ
không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ)
v.v..
Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt).
Dị dụ là những thí dụ khác loại (không sinh th́ không
chết).
Ta thêm một ví dụ khác:
Tôn: Tṛ B sẽ bị phạt
Nhân: V́ tṛ B học bài không thuộc.
Dụ: Phàm, ai không thuộc bài th́ đều bị phạt cả, như tṛ
C, tṛ Đ,C (đồng dụ). Phàm, ai thuộc bài th́ đều không
bị phạt như tṛ Mít, tṛ Ổi.
Ta nhận thấy môn luận lư nhân minh có hơi giống với luận
lư học h́nh thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy
đủ tinh vi hơn luận lư học này, v́ nó có đủ tính cách
diễn dịch và qui nạp.
Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên
lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến
Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối
không có tính cách của dị dụ. C̣n dụ bao giờ cũng phải
dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn
đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển
PHPT khóa IX).
Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy,
thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp
tướng học, bởi v́ các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này
trong khi viết các bộ luận kia.
3. Thanh minh. Đây là môn học về ngữ môn văn tự, về âm
thanh và về văn học. Sự truyền giáo cũng đă rất cần đến
môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền
bá ở các nước, đă phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đă
phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo
lư lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những
giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về
thanh minh rất rộng răi vậy.
Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú
trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh
minh. Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới
có thể học hiểu giáo lư tu tập; môn học này.
Người truyền giáo phải
có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các
nước Phật Giáo trên hoàn cầu.
Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh:
Phật Giáo Việt Nam đang đ̣i hỏi một kho kinh điển bằng
tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế
các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ư đến việc học
tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền
Phật học bằng quốc văn.
4. Công xảo minh. Đây là môn học về công nghệ và kỹ
thuật:
Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo
nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra
những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có
thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người
nghèo đói tật nguyền, thể hiện ḷng từ bi bác ái. Công
nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật
tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo
rộng răi trong phạm vi xă hôi nhân sinh.
Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh
doanh vụ lợi ích kỷ, th́ không đáng cho ta phải bận tâm.
Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, th́ gây đau
khổ cho loài người chừng ấy, bởi v́ chúng sẽ biến ra lợi
khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ
của máy móc, của bom đạn đă là một sự đe dọa ghê ghớm.
Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công
nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo ḷng vị
tha và bác ái muốn cho muốn loài có hạnh phúc chân thực,
tránh những tai hại do dục vọng gây nên.
5. Y phương minh. Đây là môn học về các phương pháp chữa
bệnh. Các đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh
và cả thân bệnh cho chúng sinh, đức Dược Sư Lưu Ly là
một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau
khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa
bệnh tinh thần đă đành rằng rất cần thiết, nhưng những
phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là
không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời
giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có
thể thực
hành một công tác xă hội rất thích hợp với ḷng từ bi:
đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật
tử th́ đă có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan
trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong
cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một
phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật.
Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những
bệnh viện do Phật tử chăm
sóc ngày đên, và mỗi một ngôi chùa
địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho
đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.
C. Kết Luận:
Trong thời đại hiện tại, xă hội đ̣i hỏi một phương thức
hoằng pháp rộng răi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng
những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phạm vi
của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử
cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là
một chiến sĩ từ thiện xă hội, lo xây đắp cho nền Phật
giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được
hoài bảo cứu tế
to rộng của đức Bổn sư.
▲
Trở Lên
|
| |