|
Liên Tŕ Đại Sư
Châu Hoằng đại sư, tự Phật
Huệ, hiệu Liên Tŕ, người đời Minh, con nhà họ Trầm, ở xứ Nhân
Ḥa tại Hàng Châu. Năm mười bảy tuổi ngài đă được bổ làm Giáo
thọ, nổi tiếng là người học hạnh kiêm toàn.
Láng giềng có bà lăo, mỗi
ngày niệm Phật vài ngàn câu lấy làm thường khóa. Nhân lúc rỗi
rảnh sang chơi, ngài hỏi duyên cớ, bà đáp: "Ông nhà tôi lúc sanh
tiền chuyên lo niệm Phật đến khi sắp chết, không đau bịnh chi,
vui vẻ ṿng tay cáo từ mọi người mà qua đời. Do đó, tôi biết
công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn!" Ngài nghe nói cảm động,
từ đó hằng để ư đến pháp môn Tịnh Độ. Lại viết bốn chữ: "Sống
chết việc lớn" dán nơi vách đầu bàn để tự răn nhắc.
Năm ba mươi hai tuổi, ngài
xuất gia, rồi đi tham phỏng các bậc danh đức. Sau cùng đến học
đạo với Tiếu Nham Nguyệt Tâm thiền sư, tham câu "Niệm Phật là ai?"
Một hôm, đang đi tham cứu bỗng chợt tỉnh ngộ, làm bài kệ rằng:
Hai chục năm qua việc đáng
nghi
Ngoài ba ngàn dặm gặp sao kỳ!
Đốt hương, liệng kích dường
như mộng
Ma, Phật, tranh suông thị lẫn
phi!
Niên hiệu Long Khánh thứ năm,
Đại Sư đi khất thực ngang qua đỉnh Vân Thê, thấy cảnh nước non
cực kỳ u nhă, quyết ư cất am ở tu. Trong núi ấy có nhiều cọp,
ngài hành phép Du Già Thí Thực, từ đó các loài thú dữ không c̣n
khuấy hại nữa. Mấy năm sau, gặp lúc nắng hạn lâu, cư dân quanh
vùng đến am cầu xin đảo vơ. Ngài đáp: "Tôi chỉ biết niệm Phật,
không có tài chi khác!" Mọi người vẫn nài nỉ cố thỉnh. Đại Sư
cảm ḷng thành của dân chúng, ra thảo am gơ mơ đi dọc theo bờ
ruộng mà niệm Phật. Bước chân của ngài đi đến đâu, mưa lớn rơi
theo đến đó. Nhân dân vui mừng kính đức, cùng nhau hiệp sức xây
cất điện chùa. Tăng chúng các nơi lần lượt nương về, không bao
lâu chỗ ấy thành cảnh đại ṭng lâm trang nghiêm thanh tịnh.
Đại Sư tuy đă tỏ thiền cơ,
nhưng xét thấy căn lực người thời mạt pháp kém yếu, kẻ nói lư
th́ nhiều song ngộ lư thật rất ít. V́ muốn lợi ḿnh và người nên
ngài chủ trương Tịnh Độ, cực lực bác bỏ Cuồng Thiền. Bộ Phật
Thuyết A Di Đà Kinh Sớ Sao do ngài trứ tác, dung ḥa cả sự lư
gồm nhiếp khắp ba căn, lời dẫn giải rất là uyên áo. Về trước,
các bậc tôn đức trong Phật giáo tuy hoằng truyền Tịnh Độ, những
vẫn không bỏ Thiền tông. Đến phiên Đại Sư là người được chánh
truyền tâm ấn từ ngài Tiếu Nham thuộc ḍng Lâm Tế lại chỉ hoằng
dương Tịnh Độ. V́ thế, các nhà Thiền học đương thời rất không
bằng ḷng. Ông Tào Lỗ Xuyên, một vị học Phật, hai phen gởi thơ
đến Vân Thê gạn hỏi. Ngài cũng hai phen phúc đáp mà vài đoạn có
liên quan đến Tịnh Độ, sẽ được trích thuật ở phần sau.
Đại Sư b́nh thời cũng tu các
công đức để phụ trợ Tịnh nghiệp, như truyền giới pháp, khai
những ao phóng sanh. Ngài lại thẩm định nghi Thủy Lục, hành Du
Già Diệm Khẩu để cứu khổ u minh, truyền bá văn giới sát, khiến
người quy hóa làm lành rất nhiều.
Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi,
cuối tháng 6, Đại Sư vào thành từ biệt các đệ tử và những người
cố cựu, nói: "Tôi sắp đi nơi khác!" Rồi ngài trở về chùa thiết
tiệc trà từ giă đại chúng. Mọi người không hiểu là duyên cớ ǵ.
Đến chiều mùng một tháng Bảy, ngài vào tăng đường bảo: "Mai này
tôi sẽ đi".
Qua chiều hôm sau, Đại Sư kêu
mệt rồi vào tư thất ngồi kiết già nhắm mắt. Chư Tăng, các đệ tử
tại gia và những người cố cựu trong thành đều hội đến. Ngài mở
mắt ra nh́n mọi người nói: "Các vị nên chân thật niệm Phật, đừng
làm điều chi khác lạ và chớ phá hoại quy củ của tôi". Nói xong,
hướng về Tây chắp tay niệm Phật mà qua đời. Thọ được tám mươi
mốt tuổi.
Phụ Vấn Đáp
(Lược trích)
Thơ hỏi: Kẻ hèn này từ lâu
giữ miền Đông Lỗ, đối với các kinh điển Nho và Phật, đă làm con
mọt sách từ bốn mươi năm qua. Lại thường phụng giáo với những
hàng thức giả, cũng uẩn súc được một đôi phần. Nay nhân sư Đoạn
Phàm đến Vân Thê, xin gởi mấy lời để mong sự hiệu chính nơi ngài
là bậc thiện tri thức.
1. Trong Phật pháp có ba tạng,
mười hai phần giáo, đức Thế Tôn khi xưa đă giăng nhiều thứ lưới
nơi bể sanh tử sâu rộng để tùy phần vớt các loài cá nhơn thiên
lớn nhỏ đưa lên bờ Niết Bàn. Nhưng nên nói lớn để gồm nhỏ, đâu
thể cử một mà bỏ nhiều! Gần đây, tôi nghe có kẻ bảo: nhiều kiếp
thành Phật tất là Tiệm chớ không phải Đốn. Vả Tiệm giáo cũng là
Phật dạy, chưa từng không đúng, song dùng Tiệm để bỏ Đốn giáo,
phải chăng thật đă sai lầm?
Tôn Giả bên trong ẩn giấu sự
tỏ ngộ đốn viên, ngài th́ hiển bày pháp môn Tịnh Độ. Việc này
chư Phật cũng có như thế, không đủ để hiềm nghi. Nhưng học chúng
của ngài lại chỉ trọng một đức A Di Đà mà bỏ hết mười lăm v́
Vương tử, muốn tôn một kinh Tịnh Độ mà bỏ hết ba tạng mười hai
phần kinh. Đó là điều kẻ hèn này không muốn nghe! Hiện nay tuy
nhằm thời mạt pháp, song con người há chỉ có độn tánh mà không
lợi căn? Như đức Thích Tôn v́ Ca Diếp, Kiều Trần Như th́ nói
pháp này; v́ Thiện Tài, Long Nữ lại nói pháp khác. Chỗ thuyết
giáo của Phật tùy cơ biến đổi, thật tṛn trặn như trên mặt nước
lăn trái hồ lô, nếu như cắm cọc đóng đinh, giữ cây chờ thỏ, làm
sao lợi ích hàng nhơn thiên được? Rất mong Tôn Giả tùy cơ thuyết
pháp, khi gặp hàng lợi căn nên v́ nói thượng thừa, để họ ngộ lư
viên dung không c̣n thiên trệ khiến cho đại bàng cùng chim én
đều được thích nghe. Như thế há chẳng là điều rất lành rất tốt
ư?
2. Kinh Hoa Nghiêm là Nhứt
Thừa Viên Giáo, là vua trong các kinh. Trong bộ Di Đà Sớ Sao,
Tôn Giả lại đem kinh Di Đà sánh với Hoa Nghiêm, điểm ấy tợ hồ
chưa thỏa đáng. Đă thế, có người lại c̣n nhân đó mà làm luận đưa
cao Tịnh Độ, đè nén Hoa Nghiêm, khiến cho màu tím, sắc chu thành
ra lẫn lộn! Mong Tôn Giả v́ căn Tịnh Độ nói Tịnh Độ, với cơ Hoa
Nghiêm nói Hoa Nghiêm, đừng chê nhau cũng chớ lạm nhau, mới thật
là lưu thông Phật pháp.
Thơ đáp: Tiếp được tờ mây,
biết cư sĩ đại lượng bao la muốn đem hết chúng sanh trong pháp
giới đưa vào biển tánh Nhứt Thừa. Đó là nguyện lớn của đức Phổ
Hiền, riêng ḷng thật lấy làm kính ngưỡng!
1. Theo lời cư sĩ bảo: Tôi
nên tùy cơ diễn giáo, đó là ư kiến rất hay! Nhưng tùy muôn cơ mà
dẫn dạy, đó là việc của chư Phật ra đời. Điều ấy kẻ hèn này chưa
làm được. Như khi xưa Lục Tổ ở Tào Khê ngài không thông các giáo
pháp khác? Và như Viễn Công ở Lô Sơn riêng mở Bạch Liên Xă, gồm
các bậc cao Tăng, danh sĩ, há chỉ tiếp độ kẻ độn căn? Đến như
năm tông: Vân Môn, Pháp Nhăn, Tào Động, Quy Ngưỡng, Lâm Tế, tuy
đồng ra một nguồn, nhưng sự tiếp độ của mỗi tông đều có phần sai
khác. Những điều trên là sự thi thiết riêng của chi phái môn
đ́nh, đó cũng là lẽ tất nhiên, chẳng lấy chi làm lạ! Chư Tổ Sư
khi xưa đều như thế, huống nữa là kẻ phàm thường này ư? Nếu
không tự lượng bắt chước theo Phật, nay nói pháp này, mai diễn
pháp khác th́ thành ra mờ mịt chẳng có sư thừa. Đó tuy nói là
lợi người, kỳ thật làm cho người lầm lạc. Tại sao thế? Bởi Phật
là đấng Pháp Vương, đối với các pháp đều tự tại. C̣n kẻ dân
thường mà tiếm xưng Thiên Tử là điều nguy hiểm, há chẳng nên
kiêng dè ư?
2. Kinh Hoa Nghiêm đúng là
Nhứt Thừa Viên Giáo, gồm vô lượng môn; cầu sanh Tịnh Độ là một
trong vô lượng môn của Hoa Nghiêm. Theo căn cơ thời nay nên do
một Tịnh Độ mà vào Hoa Nghiêm, không phải nêu Tịnh Độ mà bỏ Hoa
Nghiêm. Cư sĩ bảo do tôi đem kinh Di Đà sánh với Hoa Nghiêm, nên
mới có kẻ làm luận đưa cao Tịnh Độ, đè nén Hoa Nghiêm. Xin hỏi
bộ luận ấy ở đâu, do ai trứ tác? Nhưng tôi cũng chưa từng đem
kinh Di Đà sánh ngang với Hoa Nghiêm. Trong văn Sớ Sao của tôi
chỉ nói: "Kinh Hoa Nghiêm cực viên, kinh Di Đà được một ít phần
viên". Đó là bảo kinh Di Đà chỉ thuộc môt phần pháp quyến của
Hoa Nghiêm, có chi gọi rằng đồng bậc? Vả lại khi nói Hoa Nghiêm,
đă gồm Tịnh Độ và nói Tịnh Độ cũng thông với Hoa Nghiêm. Thế th́
kẻ diễn Hoa Nghiêm tự nói Hoa Nghiêm, người nói Tịnh Độ tự diễn
Tịnh Độ, vẫn đồng hành mà không trái nhau. Người thời nay chỉ
biết Hoa Nghiêm rộng hơn Cực Lạc, song không rơ đức Di Đà chính
là Phật Giá Na. Ngài Long Thọ truyền bá kinh Hoa Nghiêm mà
nguyện sanh Cực Lạc. Đức Văn Thù, Phổ Hiền đồng phụ tá Phật Tỳ
Lô Giá Na, hiệu là Hoa Nghiêm Tam Thánh, cũng phát nguyện về cơi
Liên Bang. Cư sĩ khuyên tôi v́ căn Tịnh Độ nói Tịnh Độ, với cơ
Hoa Nghiêm nói Hoa Nghiêm. Xin hỏi các ngài Văn Thù, Phổ Hiền,
Long Thọ là bậc người nào? Những vị Bồ Tát ấy niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, là căn Tịnh Độ hay Hoa Nghiêm? Cư sĩ lâu nay vẫn truyền
dương kinh Hoa Nghiêm, mà trái với đức Văn Thù, Phổ Hiền, Long
Thọ là điều tôi chưa hiểu nổi!
Thật ra, cư sĩ với tôi đều là
bạn lành trong Hoa Tạng thế giới. Nay lăo hủ lại muốn mời cư sĩ
cùng làm huynh đệ ở Liên Bang. Mong cư sĩ xét suy, đừng xem tôi
là người bên ngoài vậy.
Thơ hỏi: Đại đức Đoạn Phàm có
đem thơ phú đáp của Tôn Giả. Duyệt xem thấy lời và ư ân cần,
thật rất cảm ḷng chiếu cố! Nhưng nỗi riêng chưa tỏ hết, c̣n xin
có mấy điểm tŕnh bày:
1. Kinh Pháp Hoa, trong phần
khen công đức thọ tŕ có dẫn: "Nếu người nữ nào thọ tŕ phẩm này
sẽ thoát hẳn nữ thân, sanh về Cực Lạc". Như thế sự văng sanh
Tịnh Độ, phải chăng là nhân quả của nữ nhơn? Lại nữa, kinh Lăng
Nghiêm, trong phần tuyển lựa viên thông, đức Văn Thù đă bác môn
Niệm Phật của ngài Thế Chí là vô thường, sanh diệt. Vậy ư Tôn
Giả nghĩ như thế nào?
2. Tể Kỷ thiền sư, khi các
học giả đọc đến hai câu kệ của ngài Thiện Đaọ: "Duy có đường tắt
tu hành. Chỉ niệm A Di Đà Phật" đă quát to: "Vẫn c̣n quanh lối
cũ, niệm được cái ǵ?" Thiền sư lại bảo: "Y như trước bỏ cha
trốn đi, lưu lạc tha phương, khổ thay A Di Đà Phật!" Lời của một
bậc ngộ đạo nói như vậy, há không có ư vị ư?
3. Bởi thế bậc thức đạt đă
bảo: "Trải nhiều kiếp cần khổ tu hành không bằng một niệm ngộ Vô
Sanh Pháp Nhẫn". Người trí cần phải vượt khỏi môn quyền học Tam
Thừa, không c̣n ngă và ngă sở. Nay sự văng sanh Tịnh Độ, ta là
người hay sanh, Cực Lạc là chỗ sanh về th́ năng, sở, người cảnh
c̣n phân biệt rơ ràng, đâu gọi là cứu cánh?
4. Nếu như nói: "Hoa nở thấy
Phật ngộ vô sanh". Đây tất phải đợi sau khi văng sanh thấy đức
Di Đà mới được ngộ đạo, phải chăng là quá chậm trễ xa vời?
5. Trong thơ trước, tôi đă
khuyên Tôn Giả: "V́ căn Tịnh Độ nói Tịnh Độ, với cơ Hoa Nghiêm
nói Hoa Nghiêm" thật đă v́ ngài mà tỏ bày hết tâm năo. Tôn Giả
lại không lưu ư, nên vừa rồi thính chúng nơi pháp hội của ngài
từ Hàng Châu sang đất Tô, vị nào cũng nôn nao cầu về chín phẩm.
Nhân khi cùng nói chuyện, tôi vừa đề cập đến Thượng Thừa th́ họ
đều sửng mắt, kinh ḷng! Đó là lỗi của thầy hay của hàng đệ tử?
Đấng đại trượng phu khí lượng phải xung thiên, nay ngài đă ra
ứng thế, mở pháp đường, lên giảng tọa, sao không đủ tác lược của
bậc đại nhơn, mà chỉ bắt chước hành động những ông già bà cả ăn
chay ở đầu làng ngơ xóm? Nếu một mai bị bậc lanh lợi thông suốt
hỏi đến, sẽ toan ẩn ḿnh trên sao Bắc Đẩu, hay chui thân vào núi
Thiết Vi ư?
6. Thế th́ việc Tôn Giả muốn
vời tôi cùng làm bạn sen nơi Cực Lạc, khác nào bảo kẻ này gánh
gai bỏ vàng, đuổi theo vật mà chạy vào mê lộ? Há chẳng nghe nói:
Nếu là chim đại bàng kim súy, mới giương cánh đă vượt cao chín
tầng mây; ngựa nhiếp ảnh thần câu vừa cất vó đă lướt ra ngoài
vạn dặm. Hạng này không c̣n theo lớp mà ăn uống, cũng không tùy
tiện chịu vùi thân. Người xưa bảo: "Nếu muốn cứu cánh việc ấy,
phải đứng trên chót vót đỉnh non cao, đi sâu tận ḷng đáy biển
thẳm. Như chưa bỏ được sự êm ấm của khuê pḥng th́ có chỗ nào
dùng được!".
Cho nên, Phật pháp là việc
lớn, không phải phàm thường. Mong ngài nghĩ lại!
Thơ đáp: Mấy điều huệ cố của
cư sĩ, lời hay lẽ diệu, luận biện điệp trùng, thật là đáng ngợi
khen, đáng ngưỡng vọng. Nhưng trộm nghĩ: "Ḷng thương tôi tuy
sâu, song tiếc đă lắm lời phí uổng!"
Nếu cư sĩ quả muốn tuyên
dương Thiền tông, ức chế Tịnh Độ th́ không cần nói chi nhiều.
Sao chẳng bảo: "Chư Phật trong ba đời bị miệng ta nuốt mất hết
cả. Một đức Phật c̣n chẳng lập, có ai là A Di Đà?" Lại sao không
bảo: "Nếu người biết được tâm, đại địa không tấc đất. Một tấc
đất đă không, nơi nào là cơi Cực Lạc?" Chỉ dùng hai lời ấy thôi,
đủ gồm nhiếp hết những điều cư sĩ muốn nói. Nay nghĩ nếu mỗi mỗi
đều thù đáp, e phạm lỗi đấu tranh. Nếu hẳn không trả lời, v́ đạo
pháp có tương quan, lại chẳng thể im lặng. Vậy xin tỏ bày ước
lược như sau:
1. Cư sĩ dẫn kinh Pháp Hoa,
nói sự văng sanh Tịnh Độ là nhân quả của người nữ. Thế th́ việc
Long Nữ thành Phật, cũng là nhân quả của người nữ ư? Lại dẫn
kinh Lăng Nghiêm nói: Đức Văn Thù bác Niệm Phật là vô thường,
sanh diệt, không viên thông. Thế tại sao ngài Kiều Trần Như tỏ
ngộ hai chữ KHÁCH TRẦN có thể gọi là suốt lư vô thường, hợp lẽ
bất sanh diệt, lại chẳng được chọn là pháp viên thông? Nếu quả
thật: Đức Quán Âm đỗ cao, ngài Thế Chí thi rớt th́ sao cư sĩ
chẳng nghe biết điều thí dụ: "Cửa rồng chạm trán" là lời của kẻ
quê mùa miền Đông Dă ở nước Tề?
2. Về những điều của Tể Kỷ
thiền sư bảo, cư sĩ đă học Thiền, sao chẳng biết đó là các nhà
Tông Sư v́ người cởi chấp mở trói, ư ở ngoài lời, lại cứ theo
văn tự hiểu thành sự thật mà chịu chết dưới câu nói như thế? Nếu
quả vậy th́ cổ đức bảo: "Đạp trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô mà đi"
cũng là đạp thật sự hay sao? Những cơ phong ấy trong các Ngữ Lục
có đến ngàn muôn ức. Lăo hủ bốn mươi năm về trước cũng đă từng
dùng đến để cho lời nói cao siêu xuất cách, câu văn mạnh mẽ hùng
hào. Về sau xét lại biết hổ thẹn, không c̣n dám theo lề lối cũ,
nay chợt nghĩ đến hăy c̣n đỏ mặt. Như Tề Kỷ thiền sư nói: "Y như
trước bỏ cha trốn đi, lưu lạc tha phương khổ thay A Di Đà Phật!"
Xin cũng dùng chuyển ngữ đối đáp: "Nay chính thật như con nhớ mẹ,
trở lại quê xưa, vui thay A Di Đà Phật!" Thử đem cân lường câu
nói này với lời ngài Tể Kỷ, xem bên nào ít nhiều nặng nhẹ, và có
bao khoảng cách xa?
3. Trong thơ lại dẫn lời cổ
nhơn bảo: "Trải nhiều kiếp cần khổ tu hành, không bằng một niệm
ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn". Xin hỏi: "Cư sĩ đă chứng được Vô Sanh
Pháp Nhẫn chưa?" Nếu chứng được th́ không nên cho rằng: Ta là
người hay sanh, Tịnh Độ là chỗ sanh về. Tại sao? Bởi tâm tức là
cảnh, ai là người hay sanh? Cảnh tức là tâm, đâu là chỗ được
sanh? V́ không c̣n thấy năng sở, nên tuy văng sanh mà chưa từng
có sanh. Đó mới thật là chân vô sanh. Nếu cho không sanh về đâu
mới là vô sanh th́ thành ra lỗi đoạn diệt, thiên không vậy.
4. Cư sĩ bảo: Nếu đợi hoa nở
thấy Phật mới ngộ vô sanh là chậm trễ xa vời. Kẻ hiểu Thiền tông
sao chẳng biết: từ mê được ngộ như giấc chiêm bao dài mới thức
tỉnh? Người ngiệm Phật tùy theo căn cơ, có vị trong hiện đời đă
kiến tánh. Đó là hoa sen nở trong giây phút. Có kẻ sau khi văng
sanh mới kiến tánh. Đó là hoa nở về lâu. Bởi căn cơ có sáng tối,
công phu có trễ siêng, nên hoa nở mới có sớm muộn, đâu được nhất
khái cho là sai chậm ư?
5. Trong thơ c̣n đề cập đến
mấy vị Tăng ở núi hoang nào đó khi hỏi tới Thượng Thừa th́ đều
sửng mắt kinh ḷng! Cư sĩ khuyên tôi với căn Hoa Nghiêm th́ nói
Hoa Nghiêm, với cơ Tịnh Độ th́ đàm Tịnh Độ. Nay những kẻ ấy
thuộc về hàng độn căn, chính nên giảng Tịnh Độ, sao cư sĩ không
tùy bịnh cho thuốc, lại luận Thượng Thừa với họ làm chi?
Cư sĩ lại bảo tôi đă ra ứng
thế, mở pháp đường, lên giảng tọa, mà không đủ tác lược của bậc
đại nhơn. Lăo hủ chưa từng dám đương với danh dự ra ứng thế, nên
tự ưng không có tác lược của bậc đại nhơn. Điều này hăy tạm gác
qua, không cần bàn luận. Nhưng nếu bỉ người tu Tịnh Độ là hạng
ông già bà cả ăn chay quê mùa, thật ra không phải chê các vị đó
đâu, mà chính là bỉ đức Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ
vậy! Đâu riêng ǵ những vị Bồ Tát ấy, mà chư Tổ như Huệ Viễn,
Thiện Đạo, Thiên Thai, Vĩnh Minh, chư đại thiện tri thức, các
hàng danh nhơn niệm Phật, theo cư sĩ, cũng là hạng quê mùa cả ư?
Song hạng quê mùa nếu niệm Phật được văng sanh, sẽ lên ngôi Bất
Thối Chuyển, cũng đâu nên xem rẻ khinh chê? Những ông già bà cả
ăn chay niệm Phật cũng dáng khen là họ biết giữ theo quy củ quê
mùa của chính ḿnh. C̣n hạng thông minh tài biện, ăn thịt uống
rượu, vọng nói Bát Nhă, hôm sớm cứ t́m chư Tăng gạn Thiền nói
đạo th́ thế nào?
Đến như việc các ông già bà
cả khi bị kẻ lanh lợi thông suốt hỏi đến th́ chẳng cần lên sao
Bắc Đẩu, vào núi Thiết Vi làm chi cho cao xa. Họ chỉ cần đặt
giường nằm nơi cổ họng, trải ṭa ngồi trên đôi mắt của các vị
lanh lợi thông suốt ấy. Làm như thế để chi? Để chúng hăy tạm
đóng môn tam muội nơi cửa miệng, biết nhắm mắt hồi quang phản
chiếu xét trở lại chính ḿnh đó thôi!
6. Cư sĩ cho rằng việc khuyên
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là điên đảo, đuổi theo vật vào mê lộ,
là gánh gai bỏ vàng, làm khuất nhục đến ḿnh. Nhưng các thí dụ
ấy c̣n chưa thân thiết. Nay lăo hủ xin đem một thí dụ khác thay
thế:
Có một lăo nông chân thật gởi
thiếp vào cửa vị phú trưởng giả, mời đến nhà ở đồng ruộng của
ḿnh viếng cảnh. Mọi người nghe nói đều cười. Lăo nông lại quét
dọn đường sá sạch sẽ, đến mời thỉnh lần nữa. Người gác cửa nhà
phú trưởng giả cười bảo: "Chủ nhơn lần trước không quở trách ông
là may lắm rồi. Ông định làm mặt dày hay sao?" Lăo ông đáp: "Tôi
thấy trong các nhà giàu, có kẻ làm giàu mà bất nhơn. Có người
ngoài giàu nhưng trong nghèo. Có kẻ chưa giàu song tỏ ra kiêu
mạn trước. Có người chỉ giữ kho, giữ sổ sách ở nhà giàu, mà tự
cho là ḿnh giàu. Vả lại cảnh giàu sanh như Kim Cốc, Mỵ Ổ, nay
c̣n đâu ư? Tôi là một lăo già ở đồng ruộng, an hưởng sự vui thái
b́nh nên quên phận thấp kém của ḿnh, mới thương xót mà mời
thỉnh. Thôi từ nay cũng xin tự biết lỗi rồi!” Nói xong cùng nhau
cười rộ mà chia tay.
▲
Đầu trang |