Welcome to my homepage. Hope you've enjoyed your stay here. I look forward to seeing you again.
 

Sự Tích Tả Kinh Pháp-Hoa


 

ÔNG NGHIÊM CUNG

 

          Nước Trung-Hoa, triều nhà Trần niên hiệu Đại-Kiến năm đầu ở xứ Dương-Châu có ông Nghiêm-Cung tả kinh Pháp-Hoa để phân phát cho người tụng.

 

          Lúc đó có thần ở miếu Cung-Đ́nh-Hồ mách mộng cho khách buôn đem hết của trong miếu đưa sang cho ông Cung để chi phí về việc tả Kinh.

 

          Lại một hôm ông Cung mang tiền ra phố mua giấy viết lỡ thiếu 3.000 đồng điếu, bổng thấy từ trong chợ đi ra một người cầm 3.000 đồng điếu trao cho ông Cung mà nói: "Giúp ông mua giấy". Nói xong biến mất.

 

          Rốt đời Tùy, giặc cướp đến Giang-Đô đều dặn nhau không nên phạm đến xóm của ông Nghiêm Pháp-Hoa (Nghiêm-Cung). Nhờ đó mà cả xóm an lành.

 

          Đến cuối đời Đường, nhà họ Nghiêm vẫn nối nhau tả Kinh không thôi.

 

          "Vậy thời tả Kinh, hay in Kinh công đức lớn biết dường nào, không nói đến phước báo tốt đẹp ở nhiều đời sau, mà ngay trong hiện tại cũng không thể lường được, chẳng những là ḿnh khỏi khổ nguy mà mọi người ở gần cũng được nhờ, cả Thần Thánh cũng thường theo hộ trợ như truyện ông Nghiêm-Cung đây vậy".

 


TẢ KINH THOÁT KHỔ

 

          Nhà Đường niên hiệu Long-Sóc năm thứ ba, xứ Trường-An, mẹ vợ ông Lưu-Công-Tín chết.

 

          Không bao lâu cô họ Trần, vợ ông Tín, cũng bỗng chết, thần hồn đi đến một ngục đá, thấy mẹ ḿnh ở trong cửa đá thọ nhiều sự khổ.

 

          Khóc bảo con gái rằng: "Mau v́ mẹ tả một bộ Kinh Pháp-Hoa ngỏ hầu cứu thoát khỏi tội này". Nói vừa xong, cửa đá liền khép lại.

 

          Cô họ Trần sống lại, thuật chuyện gặp mẹ với chồng. Ông Tín nhờ ông Triệu-Sư-Tử tả kinh. Ông Triệu bèn đem một bộ Kinh Pháp-Hoa hiện đă thành, tả rất tốt giao cho ông Tín sửa sang, và bộ Kinh đó vốn là của một người họ Phạm ra tiền mướn tả, mà ông Tín thiệt chưa biết, cũng tin là ông Triệu tả cho ḿnh.

 

          Không bao lâu, cô họ Trần lại chiêm bao thấy mẹ ḿnh đ̣i Kinh. Cô nói rằng đă tả xong rồi. Mẹ liền khóc rằng: "Mẹ chính v́ bộ Kinh đó mà càng bị khổ thêm. Bộ Kinh đó vốn là của họ Phạm tu phước, sao lại cướp làm công của mỉnh". Sau khi thức dậy cô Trần cùng ông Tín đi hỏi thăm lại, thời quả thật họ Phạm đă ra tiền hai trăm tả Kinh mà chính là bộ trên đó.

 

          Vợ chồng liền thuê người tả một bộ khác để cúng dường hồi hướng công đức cho mẹ.

 

          Than ôi! Công đức tả Kinh hay ấn tống lớn biết bao dường nào? Tội nặng bị khổ ở địa ngục nhờ người tả một bộ Kinh Pháp-Hoa mà c̣n có đủ phước để thoát khổ, huống nữa là ḿnh tự ra công ra tiền ư!.

 


 

ĐỌC KINH THOÁT KHỔ

(TRÍCH TRONG PHÁP UYỂN)

 

          Đời Đường ở Ung-Châu, huyện Trường-An có ông Cao-Pháp-Nhăn là cháu huyền tông của ông Cao-Tần, quan bộc xạ đời Tùy. Đến niên hiệu Long-Sóc thứ ba, ngày 25 tháng giêng đến Trung dài dự thi, trưa cỡi ngựa về nhà. Nhà ông ở góc phía Nam phường Nghĩa-Ninh, phía Đông chùa Hóa-Độ. Giữa đường gặp bọn người cỡi ngựa rượt bắt, chạy về gần đến nhà té ngựa mê ngất rồi chết, mọi người tri hô, người nhà vội đến khiên về đến sáng ngày sau mới sống lại. Ông Nhăn bảo người nhà rằng: "Ta bị quỷ bắt đến địa ngục thấy vua Diêm-La lên ngồi ṭa cao, giận mắng ta rằng: ngươi sao lại đến chùa Hóa-Độ trong pḥng Thầy Minh-Tạng ăn trái của thường trụ Tăng? Nói xong bắt ta nuốt 400 ḥn sắt nóng, đương lúc nuốt thời cổ họng nghẹn rút thân thể đỏ khô co lại, biến làm màu đỏ, nuốt hết mới sống lại".

 

          Ngày 26 là ngày ông mới sống lại, lại có bọn quỷ hiện đến bắt dẫn về cho vua Diêm-Vương. Vua quở: "Tại sao ngươi không kính Tam-Bảo dám nói chuyện lỗi xấu của Tăng? Ngươi nuốt sắt xong sẽ bị cày lưỡi". Đến ngày 29 tháng đó, sau khi nuốt sắt xong sống lại qua đến ngày 30, sáng sớm lại chết đến địa ngục chịu cày sắt cày lưỡi. Tự thấy lưỡi ḿnh dài đến vài dặm, người ở bên xem thấy ông Nhăn le lưỡi ra hơn thước (thước Tàu). Vua lại bảo ngục tốt: "Người này nói việc hay dỡ của Tam-Bảo, đem búa lớn lại chặt bỏ lưỡi nó". Ngục tốt chặt măi không đứt. Vua bảo lấy búa thẻo nhỏ bỏ vào vạc nước sôi nấu, nấu măi không ră. Vua lấy làm lạ hỏi? Ông Nhăn thưa: "Tôi từng đọc Kinh Pháp-Hoa một lượt". Vua không tin tra sổ công đức, thấy trong án có ghi: "Đọc một bộ Kinh Pháp-Hoa". Vua liền truyền thả cho về.

 

          Ông Nhăn hiện c̣n, người đến thăm xem như đi chợ, người nghe thấy phát tâm tu hành rất đông. Cả nhà ông Nhăn từ đó rất mực kính tin Tam-Bảo, gắng chí tinh tấn tu hành, hằng răn nhắc nhau không hề nhàm mỏi.

 

          Tam-Bảo là con thuyền từ báu đưa chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử. Kính thời phước vô-lượng. Khinh thời họa không nhỏ. Phật là đấng Chí Tôn, Pháp là Thánh dược, Tăng là biểu hiệu của Phật và Pháp, ông Nhăn khinh Tăng mà phải tội, lại nhờ đọc Pháp mà khỏi tai ương.

 

          Chỉ đọc có một bộ Kinh Pháp-Hoa mà lưỡi chặt không đứt, nấu không ră, làm đến đỗi vua Diêm-Vương phải kinh sợ mà mau đưa về. Huống là người đọc tụng hai bộ, ba bộ đến trăm ngh́n bộ ư. Nếu người nào chí thành tụng niệm Kinh Pháp-Hoa thời công-đức vô-lượng vô-biên - Tội nghiệp đều tiêu - Phước lành đầy đủ. Sau khi xả báo thân hiện tại, quyết chắc sẽ cảm thành thân vàng Kim-Cang ở vị lai vậy.

 


 

TỤNG ĐỀ KINH: M̀NH VÀ NGƯỜI ĐỀU THOÁT KHỔ

 

          Quận Phùng-Dược, ông Lư-Sơn-Long làm chức Tả Giám Môn Hiệu úy, trong niên hiệu Vơ-Đức bệnh chết, mà trên ngực khoảng bằng bàn tay không lạnh, người nhà chưa nỡ tẩn liệm. Đến ngày thứ bảy sống lại, thuật rằng: "Đương lúc chết có người bắt dẫn đến một dinh quan rất hùng tráng rộng lớn. Trong sân có bọn tù vài ngh́n người, hoặc mang gông, hoặc xiềng xích đều đứng xây mặt về hướng Bắc, chật cả sân".

           Quân hầu dắt Sơn-Long đến dưới dinh. Có một vị Thiên Quan ngồi giường cao, kẻ hầu hạ nghi vệ như hàng vua chúa. Sơn-Long hỏi quân hầu: "Quan nào đỏ". Quân hầu đáp: "Vua đấy". Sơn-Long đến dưới thềm. Vua hỏi: "Người thuở b́nh sanh làm phước nghiệp ǵ?" Sơn-Long thưa: "Mỗi lần người trong làng thiết lập trai đàn giảng Kinh tôi thường thí của vật đồng với người". Vua lại hỏi: "C̣n tự thân người làm phước nghiệp ǵ?". Sơn-Long thưa tôi tụng thuộc Kinh Pháp-Hoa hai quyển". Vua nói: "Rất hay! Được lên thềm". Ông Long đă lên trên nhà thấy phía Đông Bắc có một ṭa cao giống như ṭa diễn giảng. Vua chỉ ṭa nói với Sơn-Long rằng: "Nên lên ṭa này tụng Kinh". Sơn-Long vâng lệnh đến bên ṭa. Vua liền đứng dậy nói: "Thỉnh ngài Pháp-sư lên ṭa". Sơn-Long lên ṭa xong. Vua liền xây về phía ṭa mà ngồi. Sơn-Long khai Kinh tụng rằng: "Diệu-Pháp Liên-Hoa Kinh, Tựa phẩm đệ nhứt". Vua nói: "Thỉnh Pháp-sư thôi". Sơn-Long liền thôi xuống ṭa lại đứng dưới thềm. Đoái xem trong sân, bọn tù nhơn vừa rồi không c̣n một người. Vua bảo Sơn-Long rằng: "Phước đức tụng Kinh của ông chẳng những là tự lợi, nhẫn đến làm cho bọn tù trong sân nhơn nghe đề Kinh Pháp-Hoa mà đều đặng thoát khổ, há chẳng hay lắm thay! Nay tha ngươi trở về".

          Sơn-Long lạy từ. Đi đặng vài mươi bước, vua kêu trở lại, rồi bảo quân hầu: "Nên dắt người này đi xem các ngục".

          Quân hầu liền dắt Sơn-Long đi qua phía Đông hơn trăm bước, thấy một thành bằng sắt rộng lớn, trên có mái trùm kín. Quanh thành có nhiều lỗ nhỏ, thấy các nam nữ từ dưới đất bay vào trong lỗ liền chẳng trở ra. Sơn-Long lấy làm lạ hỏi quân hầu. Đáp: "Đây là đại địa ngục, trong đó nhiều lớp phân cách theo tội riêng khác. Các người đó đều theo nghiệp dữ của ḿnh đă tạo. Vào ngục chịu khổ". Sơn-Long nghe xong buồn sợ xưng "Nam-Mô Phật", xin quân hầu dắt ra. Đến cửa viện thấy một vạc lớn lửa mạnh nước sôi, bên vạc có hai người ngồi ngủ. Sơn-Long hỏi đó. Hai người đáp: "Tôi bị tội báo vào vạc nước sôi này. Nhờ hiền giả xưng Nam-mô Phật cho nên các người tội trong ngục đều đặng một ngày nghỉ mệt, nên chúng tôi ngủ". Sơn-Long lại xưng "Nam-mô Phật".

          Quân hầu đưa Sơn-Long về nhà, thấy hàng thân thuộc đang khóc, sắm sửa những đồ tẩn liệm. Sơn-Long vào đến bên thây thời liền sống lại.

          Chuyện trên đây chính là ông Lư-Sơn-Long nói với chủ chùa Tổng-Tŕ. Chủ chùa thuật lại với tôi.

(Rút trong bộ "Minh báo kư")

          Nhiệm mầu thay Kinh Pháp-Hoa! Người tụng tŕ được công đức, ngoài Phật ra không ai có thể nghĩ lường được. Đọa địa ngục v́ tội nghiệp nặng, lên ṭa vừa khai tụng đề Kinh mà cả mấy ngàn tù nhơn dưới sân đều thoát khổ. Thoát khổ bởi tội nghiệp tiêu. Tội nghiệp nặng mà tức khăc tiêu tan, nếu không phải công đức rộng lớn quyết không thể đặng. Nghe đề Kinh Pháp-Hoa mà công đức c̣n lớn dường ấy, huống là người tŕ tụng đề Kinh, huống là người tŕ tụng một phẩm, một quyển đến toàn bộ, nhẫn đến người giải nói, biên chép, ấn tống. Ông Sơn-Long được thoát ngục, được vua trọng, được quân hầu kính, phải chăng là do oai lực của Kinh Pháp-Hoa. Ta đối với Kinh Pháp-Hoa, thật nên chí thành đảnh đới, thọ tŕ, đọc tụng, giải nói, biên chép, ấn tống, nếu ta có chí tự thoát khổ và thoát khổ cho người.


TẢ KINH CỨU BẠN ĐỒNG HỌC

          Đời Tùy, niên hiệu Đại-Nghiệp, có vị Khách tăng đi đến miếu núi Thái-Sơn, muốn tạm nghỉ. Người giữ miếu nói: "Đây không có nhà nào khác, chỉ dưới hiên của miếu Thần có thể tạm nghỉ, nhưng v́ gần dây, những người nghỉ nơi đó đều chết cả".

          Khách tăng nói: "Không hề ǵ, cho ta tạm nghỉ nơi đó". Người giữ miếu bất đắc dĩ y lời dọn giường cho Khách tăng nghỉ dưới hiên miếu.

          Tối đến, Khách tăng ngồi ngay tụng Kinh. Ước chừng một canh sau, nghe trong màn có tiếng vàng ngọc khua, giây lát có vị Thần từ trong màn ra lễ lạy Khách tăng. Khách tăng nói: "Nghe người nói trước đây nhiều người bị chết tại chốn này, có phải là Đàn Việt hại đó chăng, xin chớ hại ta". Thần nói: "Ngày trước t́nh cờ những người mạng số sắp chết, nghe tiếng động của đệ tử, nhơn quá sợ mà chết, chớ chẳng phải đệ tử làm hại, xin Thầy chớ lo". Khách tăng mời Thần ngồi nói chuyện. Lát sau, Khách tăng hỏi: "Nghe nói Thần Thái-Sơn cai trị loài quỷ, có thật chăng?".

          Thần đáp: "Đệ tử phước bạc, chính có thế. Có phải thầy muốn biết rơ việc người thân của thầy đă chết chăng?".

          Tăng nói: "Ta có hai bạn đồng học đă chết, muốn thấy đó".

          Thần hỏi tên họ rồi nói: "Một người đă đầu thai làm người, c̣n một người bị tội nặng đương ở địa ngục không thể kêu đến, nếu Thầy muốn thấy cũng có thể được".

          Tăng rất mừng, liền đứng dậy đi theo Thần. Không bao xa thấy nhà ngục lửa cháy đỏ rực. Thần dắt Tăng vào một nhà, xa thấy một người đương ở trong lửa rên la nói không ra tiếng, thân thể nám đen không nh́n được, mùi thịt cháy hôi khét khiến người đau ḷng.

          Thần nói: "Chính ông ấy đó, Thầy c̣n muốn đi xem vài nơi khác chẳng".

          Tăng buồn rầu xin trở về. Giây lát đến miếu, lại cùng Thần ngồi, Tăng hỏi Thần cách cứu bạn học. Thần nói: "Có thể đặng lắm. Thầy nếu tả được cho ông ấy một bộ Kinh Pháp-Hoa, thời chắc ông ấy đặng khỏi".

          Bấy giờ gần sáng. Thần từ biệt Tăng vào trong.

          Sáng, người giữ miếu thấy Khách tăng vẫn yên lành lấy làm lạ hỏi. Tăng thuật chuyện trong đêm lại.

          Khách tăng về chùa v́ bạn tả Kinh Pháp-Hoa, tả xong, đóng b́a cắt xén tử tế lại mang Kinh đến miếu. Đêm đó Thần ra chào hỏi mừng rỡ, hỏi thăm đến có việc chi. Khách tăng đem chuyện tả Kinh xong nói với Thần.

          Thần nói: "Đệ tử đă biết rơ việc ấy, Thầy v́ bạn tả Kinh, lúc mới chép đề mục thời ông ấy đă khỏi khổ, hiện đă thác sanh vào nhơn gian rồi, chỗ này không được tịnh khiết không thể thờ Kinh, xin Thầy đem về chùa".

          Cùng nhau đàm luận, gần sáng, Thần từ biệt Khách tăng vào trong, Tăng lại mang Kinh về chùa.

          Quan Biệt Giá Trương-Đức tự nói: "Khi ông trấn nhậm ở Châu Duyện có biết rơ việc trên".

(Lại bộ Thượng Thơ Đường-Lâm biên)


TỤNG KINH THOÁT NỮ THÂN

          Đời Tùy, huyện Bác-Lăng, có ông Thôi-Ngạn-Vơ, niên hiệu Khai-Hoàng làm quan Thứ-Sử châu Ngụy. Một hôm, nhơn đi thanh tra trong địa phận ḿnh quản trị, đến một ấp nọ, bỗng ngạc nhiên vừa sợ vừa mừng; bảo kẻ tùng giả rằng: "Ta xưa từng làm vợ người ta ở trong ấp này, nay vẫn biết nhà cũ". Liền cỡi ngựa đi vào đường hẻm trong ấp, quanh quẹo đến một nhà, sai người gơ cữa. Ông chủ nhà đó đă già chạy ra lạy chào.

          Ông Ngạn-Vơ vào nhà chỉ trên vách phía Đông cách đất chừng năm sáu thước (thước Tàu) có chổ lồi cao lên mà bảo chủ nhà rằng: "Chỗ trên cao đó là chỗ mà ta xưa kia cất năm đôi thoa vàng, với bộ Pháp-Hoa của ta đọc hàng ngày. Bộ Kinh ấy cuối quyển bảy, lửa cháy sém mất chữ hết một tờ. V́ cớ đó nên hiện nay mỗi khi ta tụng Kinh Pháp-Hoa đến chương đó, thường quên lăng không nghĩ nhớ đặng". Nói xong sai người đục chỗ vách đó ra, quả thiệt đặng hộp đựng Kinh, thoa vàng cùng quyển thứ bảy cháy sém một tờ cuối quyển như lời nói trước.

          Ông chủ nhà rơi nước mắt khóc rằng: "Thoa vàng cùng Kinh quả thiệt là vật của vợ tôi ngày c̣n sanh tiền, vợ tôi thường đọc bộ Kinh Pháp-Hoa này".

          Ông Ngạn-Vơ lại nói: "Cây ḥe trước sân kia ngày trước khi ta sắp sanh, tự cởi đầu tóc mượn để vào bọng cây đó". Nói xong bảo người thử lại t́m, thật quả đặng tóc.

          Chủ nhà thấy việc như thế, biết chính quan Thứ-Sử hiện nay là vợ của ḿnh ngày trước tái sanh, vừa buồn vừa mừng.

          Thôi-Ngạn-Vơ để đồ vật vàng bạc lại, hậu cấp cho ông chủ nhà mà đi.

(Lại bộ Thượng thơ Đường-Lâm biên)

          Trong phẩm "Dược-Vương Bồ-Tát Bổn-Sự" có nói: "Nếu có người nữ nào nghe Kinh này mà có thể thọ tŕ, thời sau khi bỏ báo thân đàn bà đó, không c̣n thọ lại nữa:. Chuyện của ông Thôi-Ngan-Vơ trên đây đủ chứng thật lời trong Kinh. Làm cho chúng ta lại càng kính tin Đức Như-Lai là đấng Chơn thật ngữ.

          Một người đàn bà vợ tên dân quê ở trong ấp cùng đọc Kinh Pháp-Hoa mà đă sớm khỏi thân hèn khổ chuyển thành thân quan cao tước lớn, trong khi ấy người chồng vẫn c̣n là tên dân quê. Chồng lạy rước vợ, nào biết đó là vợ cũ của ḿnh ngày xưa.

          Tên dân quê đó cùng một ít kẻ lân cận, khi người đàn bà đọc Kinh Pháp-Hoa chết, hoặc giả lại có niệm nghĩ rằng: "Tụng Kinh không phước, trái lại bị chết yểu". Niệm ngu si, ḷng chê Kinh ấy, khi gặp Thôi-Ngạn-Vơ như tuyết gặp nước sôi vậy.

          Ôi! Công đức bất khả tư ngh́ của người tŕ Kinh diệu dụng bất khả tư ngh́ của Kinh, cùng lư nhơn quả nhiệm mầu, kẻ tâm vụng về, trí thức thô thiển có thể nào mà thấu đáo được. Tôi rất lo ngại cho hạng người bài nhơn quả, hủy báng Kinh Đại-Thừa và thiết tha mong sao những hạng người ấy không nên quá nông nổi.

          V́ khổ báo của người hủy báng Kinh, Đức Phật Thế-Tôn đấng Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác như thật ngữ đă có huyền kư rơ ràng.

(Xem đoạn cuối phẩm Thí-Dụ quyển hai)


NGHE KINH KHỎI THÂN CHIM

          I.- Đời đường, đất Tinh-Châu, nơi chùa Thạch-Bích có một vị lăo Tăng siêng năng tụng Kinh, tham thiền. Cuối niên hiệu Trinh-Quán, có bồ câu làm ổ trên xiêng pḥng mớm mồi cho hai chim con. Vị lăo Tăng mỗi khi có thức ăn dư, thường đến bên ổ đút cho hai chim con. Sau hai chim con lần lớn lên tập bay rớt xuống đất chết. Lăo Tăng lại chôn cất cho... Cách tuần sau lăo Tăng lại mơ thấy hai đồng tử đến thưa v́ đời trước tạo tội nên bị đọa làm thân bồ câu, gần đây nhờ nghe Thầy tụng Kinh Pháp-Hoa và Kinh Kim-Cang Bát-Nhă, nên tội diệt phước sanh. Chúng con thác sanh làm con trai nhà ông... ở làng bên cạnh cách chùa mười dặm, mười tháng sau sẽ nên thân người. Vị lăo Tăng y kỳ qua xem, thấy nhà có một người đàn bà đồng thời sanh hai đứa con trai, chính đương cúng đầy tháng. Lăo Tăng bèn hô: "Thằng bồ câu". Hai đứa trẻ đồng đáp "Dạ".

(Rút trong Minh Báo Thập Dị)

          II.- Đời Thanh, tỉnh Hồ-Quảng, ông Liên-Dẫn trưởng giả tại chùa Pháp-Luân ở Đoan-Châu nói với ông Thiết-Kiều rằng: "Anh tôi ở một ḿnh trên núi, hằng ngày tụng Kinh Pháp-Hoa. Thường có một con chim trĩ hằng ngày đến nghe xong lại bay đi. Về sau đă mấy ngày mà vẫn không thấy đến. Cách núi chừng mười dặm có người làng sai người đến núi thưa với Thầy: "Vừa rồi có một người đệ tử của Thầy thác sanh làm con trai ông chủ tôi, nhưng ngày gần đây cứ khóc măi, không nín, nên chủ tôi sai tôi đến mời Thầy qua xem thử". Thầy tự nghĩ không có đệ tử nào, chỉ có một con chim trĩ thường ngày đến nghe Kinh, nay đă vài ngày rồi không thấy đến hoặc là chim trĩ ấy nhờ công đức nghe Kinh mà đặng sanh làm người chăng? Thầy liền đi qua nhà đó. Chủ nhà bồng con ra, đứa con vừa thấy Thầy liền thôi khóc vui mừng. Do đó mà định chắc là chim trĩ thác thân vậy".

(Rút trong Thiết Kiều tập)

          III.- Triều Tấn, niên hiệu Ngươn-Hưng, tại núi Dư Hằng có Thầy Sa môn tên Pháp-Chi thường tụng Kinh Pháp-Hoa, có chim trĩ bay liệng bên góc chỗ ngồi, h́nh như nghe Kinh, như thế đến bảy năm, chim trĩ chết. Thầy chôn cất. Đêm đó Thầy chiêm bao thấy tên đồng tử đến thưa rằng: "Con nhơn v́ nghe Kinh mà khỏi loài lông cánh, nay thác sanh vào nhà họ Vương ở trước núi đây". Sáng ngày Thầy sai người qua hỏi thăm thật quả Vương thị vừa hạ sanh một trai.

          Ít lầu sau, họ Vương thiết trai, thỉnh quư Thầy. Thầy Pháp-Chi vừa bước vào cửa, đứa trẻ đă reo mừng: "Ḥa thượng của con đến ḱa!". Thầy cũng vuốt ve nó mà nói: "Thằng trĩ của ta đây". Cởi áo nó ra xem dưới nách thấy quả có ba lông trĩ. Bảy tuổi, cha mẹ cho xuất gia, v́ dưới nách có lông chim, nên đặt pháp hiệu là Đàm-Dực, Đàm-Dực chuyên tụng Kinh Pháp-Hoa về sau cảm Đức Phổ-Hiền Bồ-tát thị hiện.

(Rút trong Bộ Thông Tài)

*

* *

          Trong Kinh có câu: "A Dật Đa! Nếu có người v́ Kinh Pháp-Hoa này mà đến chốn Tăng phường, hoặc ngồi hoặc đứng, nghe Kinh tin nhận trong khoảng giây lát, nhờ công đức đó, sau khi bỏ thân hiện tại, sanh ra đặng giàu sang hoặc ở cung trời...*"

          Xem ba chuyện, bồ câu cùng chim trĩ ở trên, loài cầm nghe Kinh nhờ công đức đó mà sớm chuyển thân chim thành thân người, lại là thân người toàn vẹn sanh trong những gia đ́nh phong phú tử tế cả. Chẳng những thế mà cả ba đều biết túc mạng, nhất là ông Đàm-Dực mới đó là chim trĩ, mà chỉ hơn khoảng mười năm sau đă nghiễm nhiên thành một vị cao Tăng.

          Loài chim c̣n được như thế, huống chi là loài người, Kinh nói: "Giây lát nghe Kinh, người ấy sẽ ở cung Trời" rơ là chơn thiệt.

          - Công đức nghe Kinh Pháp-Hoa nào có thể nghĩ bàn.

          - Giống Vô-thượng Chánh-giác một phen gieo vào tâm điểm.

          - Sớm muộn quyết định thành Phật, đâu chỉ những hưởng phước ở thế gian mà thôi ư?

          Nghe c̣n thế, huống là tự ḿnh thọ tŕ, biên chép. Người mà không kết duyên với Kinh Pháp-Hoa, thiệt là tự phụ bạc lấy minh vậy.

____________________

* Quyển VI Phẩm "Tùy Hỷ Công Đức" thứ mười tám.


KINH CỨU TOÀN THÀNH

          Triều Tấn, đất B́nh-Nguyên có ông Lưu-Đô; làng của ông ở, có hơn một ngh́n nóc nhà đều phụng Phật pháp, thường cúng dường Tăng Ni. Gặp lúc xứ Bắc-Lỗ có nhiều người trốn vào ở trong thành ông Lưu. Chúa xứ Bắc-Lỗ giận lắm, sắp sửa giết hết cả thành. Được tin dữ ấy, cả thành già trẻ đều kinh sợ, ông Lưu khuyên người trong thành kẻ th́ tụng Kinh Phổ-Môn, người thời niệm Quán-Thế-Âm, cả thành đều y theo lời ông Lưu. Vài ngày sau, trong điện chúa Lỗ, bỗng có một vật từ trên không rơi xuống sân chầu chạy quanh cột điện rồi dừng lại, xem ra là quyển Diệu-Pháp Liên-Hoa Kinh Quán-Thế-Âm Bồ-Tát Phổ-Môn Phẩm. Chúa Lỗ thấy điềm vậy vừa mừng vừa cảm động bèn tha cho cả thành.

(Rút trong Pháp-Uyển Châu Lâm)

Share

Trang trước|Trang mục lục