Welcome to my homepage. Hope you've enjoyed your stay here. I look forward to seeing you again.

Khái quát

một số nét về chữ “Tâm” trong đạo Phật

 

“Tâm”  là một trong những từ ngữ thường được biết, được nhắc đến nhiều nhất trong đời sống thường nhật (tâm, tâm lư , tâm linh, tâm thần, tâm niệm, tâm năo, tâm tánh, tâm trạng, tâm sự, tâm t́nh… với biết bao nổi niềm vui buồn, thương ghét…) cũng như cũng rất  phổ thông, phổ dụng  trong đạo Phật. Lư do v́ đạo Phật là đạo tu Tâm.  Nhưng “Tâm là ǵ? Tâm ở đâu? Tu tâm là tu như thế nào... lại là các điều cần được nắm vững.  Ngoài ra lại có khá nhiều từ ngữ có liên hệ rất mật thiết với chữ “Tâm” như các chữ Tánh, Thức, Ư, Ư Thức, T́nh Cảm, Xúc Cảm, Tư Duy, Lo Nghĩ,… Điều này khiến người học Phật khó tránh khỏi những hoang mang, mờ  mịt, ngờ vực  v́ khó có thể phân định chuẩn xác được các phạm trù về ư nghĩa của chữ “Tâm” trong đạo Phật.


 

Thông thường, có thể phân biệt tổng quát có hai thứ tâm: (1) “Tâm Vật Thể”  là trái tim thịt thuộc về bộ máy tuần hoàn trong cơ thể,  được gọi là “Nhục Đoàn Tâm” trong đạo Phật, và (2) “Tâm Tính Năng” là những t́nh cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ.. có nơi  tâm thức.  Đạo Phật không  đề  cập nhiều đến Tâm Vật Thể, mà  đặt trọng tâm vào Tâm Tính Năng” với các phần đi từ cạn cợt, vọng huyễn, phiền năo như những t́nh cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ… dễ thấy biết  đến các phần sâu xa vi tế, chân thật, trong sáng, thanh tịnh khó  thấy biết (mà  phần sâu xa vi tế  nhất chính  là Phật Tánh, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, Tri Kiến Phật, Như Lai Tàng Bản Thể..) nơi Tâm Tính Năng này.

Hầu như toàn bộ kinh điển  đạo Phật (3 Thừa, 12 Bộ Kinh)  đều nhằm  nói  về  tâm. Ở  đây chỉ trích một vài đoạn kinh tiêu biểu trực tiếp nói về Tâm trong các kinh thường được biết đến nhiều nhất.

Kinh Pháp Cú (phẩm Song Yếu) xác quyết vai tṛ chủ yếu của Tâm trong việc tạo tác ra tội - phước : “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe”, và “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịmh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui vẽ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bóng theo h́nh “ .

Kinh Hoa Nghiêm khai thị về cội nguồn Tâm của ba đời mười phương chư  Phật “ Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế thập phương Phật, Ưng quán pháp giới tánh, Nhứt thiết Duy Tâm tạo” (Tạm dịch” Như ai muốn rơ biết, Ba đời mười phương Phật, Nên quán tánh pháp giới, Tất cả Duy Tâm tạo”).

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật khai thị nơi Tâm của chúng sanh đều có sẵn đầy đủ Pháp Giới thân của chư Như Lai:

“Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Thế nên, khi tâm các ngươi tưởng Phật th́ tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi tướng phụ của Phật. Tâm tưởng niệm Phật, tâm quán tưởng Phật th́ tâm ấy chính là Phật”.

 

Kinh Tâm Địa Quán cũng xác quyết vai tṛ căn nguồn, cội gốc chủ yếu của Tâm Tính Năng này trong tu hành giải thoát:
 

“Tam giới chi trung        Tạm dịch:           ( Ở trong ba cơi

Dĩ tâm vi chủ                                                Lấy tâm làm chủ

Năng quán tâm giả                                       Người hay quán tâm

Cứu cánh giải thoát                                      Rốt được giải thoát

Bất năng quán giả                                         Người không quán tâm

Cứu cánh trầm luân                                      Rốt rồi trầm luân

Chúng sinh chi tâm                                      Tâm nơi chúng sinh

Du như đại địa                                             Ví như ruộng đất

Ngũ cốc ngũ quả                                          Các loài thực vật

Tùng đại địa sanh                                         Theo đất mà sanh

Như thị tâm pháp                                          Tâm pháp cũng thế

Sanh thế xuất thế                                           Sanh ra thế gian

Ngũ thú thiện ác                                            Năm đường thiện ác

Hữu Học Vô Học                                          Thanh Văn La Hán

Độc Giác Bồ Tát                                            Độc Giác Bồ Tát

Cập ư Như Lai                                                Cả đến Như Lai

Dĩ thị nhân duyên                                           Bởi nhân duyên này

Tam giới duy tâm                                           Ba cơi chỉ (là) Tâm

Tâm danh vi địa..                                            Tên tâm gọi (là) đất…)
 

Duy Thức Học dựa trên Pháp Tướng đă phân định rơ vũ trụ vạn hữu được bao gồm trong 100 pháp (Đại Thừa Bách Pháp). 100 pháp này đều có liên hệ mật thiết ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đến chữ “Tâm”, trong đó Tâm Vật Chất thuộc về Thân Căn (chỉ là một trong 11 món của Sắc Pháp).

100 pháp được phối hợp và liệt kê , chỉ kể tên ra theo 5 loại là:

1.    Tâm Pháp (Pháp Tối Thắng), chính là “Bát Thức Tâm Vương”, có  thể  gọi nôm na là “Tám Chủ Thể Thấy Biết -  Phân Biệt - Nhận Thức và Lưu Giử NghiệpThức” (“Thấy Biết” là  nói gọn của “Thấy Nghe Hiểu Biết” = “Kiến Văn Giác Tri”).   

“Bát Thức Tâm Vương’ gồm có:

Nhăn thức (Thấy Biết, Phân Biệt Sắc Trần nơi Mắt)

Nhĩ thức (Thấy Biết, Phân Biệt Thanh Trần nơi Tai),

Tỷ thức (Thấy Biết,  Phân Biệt Hương Trần nơi Mũi),

Thiệt thức (Thấy Biết, Phân Biệt Vị Trần nơi Lưỡi),

Thân thức (Thấy Biết,  Phân Biệt Xúc Trần nơi Thân), 

2.    Ư thức (c̣n gọi  là  Thức 6th, = Liễu Biệt Cảnh thức = Phân Biệt Sự thức = Phân Ly thức)  (=  Thấy Biết, Phân Biệt Pháp Trần nơi Ư Thức). Sự phân biệt Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) trội bật nhất là  ở nơi Ư Thức, v́ Ư Thức có công năng phân biệt mạnh mẽ nhất.  Năm thức trước (Tiền Ngũ Thức = Nhăn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân) chỉ  có công năng chính là tiếp thu trần cảnh, c̣n công năng phụ là phân biệt về  Tánh Cảnh của cảnh trần (sự phân biệt này xuất phát từ Ngũ Câu Ư Thức = phần Ư Thức chuyên biệt có nơi 5 căn Nhăn Nhĩ Tỹ Thiệt Thân).

Mạt Na thức (c̣n gọi là Thức 7th, = Ư = Ư Căn, Căn của Ư Thức = Tư Lương thức) = ḍng tư lương vi tế bất tận với thấy biết vướng chấp nặng về Năng - Sở, về Ngă - Ngă Sở Hữu, = Ngă – Pháp.

A Lại Da thức (c̣n gọi là  Thức 8th = Tàng Thức = A Đà Na Thức = Dị Thục Thức = Tâm Sanh Diệt) =  kho chủng tử, tàng chứa tất cả thành quả của Thấy Biết, Nhận Thức thức từ bảy Thức trước. Thành quả này được gọi là Nghiệp Thức, cấu chất của chủng tử).

Ba chữ thường được nhắc đến nhiều là  “Tâm”, “Ư”, và “Ư Thức” đến đây đă được Duy Thức Học minh định rơ: Tâm là A Lại Da thức = thức 8th, Ư là Mạt Na thức = thức 7th, và Ư thức = thức 6th. Điều này đă được xác quyết ở Luận Đại Thừa Khởi Tín.

3.    Tâm Sở Hữu Pháp (Tâm Vương Chi Sở Hữu Pháp = Các pháp từ  Tâm Vương khởi, tương ưng với Tâm Vương và hệ thuộc nơi Tâm Vương), gồm 51 pháp, có thể xem là 51 sản phẩm được tạo thành từ công năng hoạt động từ 8 thức Tâm Vương nêu trên. Tâm Sở Hữu Pháp này chính là  những t́nh cảm của các loài hữu t́nh, trong đó  nổi bật nhất chính là những tâm sở phiền năo, thường được nhắc đến là “Thất T́nh” = Hỷ, Nộ, Ai, Cụ, Ái Ố, Dục (mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn) và Lục Dục = những t́nh cảm phát sinh từ lục căn (nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư) khi tiếp thọ với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp).  Những t́nh cảm này chi phối mạnh mẽ vào đời sống thường nhật, có khi c̣n được tôn vinh, ngợi ca (như  t́nh yêu nam nữ) nơi Tục Đế, nhưng qua lăng kính Duy Thức Học, đây chỉ là những phiền năo, và quan trọng hơn chỉ là những Tâm Sở, sản phẩm của Tâm,  không phải  là Tâm, mà nhiều người thường tưởng lầm cho rằng chúng chính là Tâm của họ.

 51 Tâm Sở pháp này gồm có:

5 món Biến Hành (Xúc, Tác Ư, Thọ, Tưởng, Tư),

 5 món Biệt Cảnh (Dục, Thắng Giải, Niệm, Định, Tuệ),

11 món Thiện ( Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quí, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại),

6 Căn Bản Phiền Năo (Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến),

20 Tùy Phiền Năo (Phẫn, Hận, Phú, Năo, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu, Vô Tàm, Vô Quí, Bất Tín, Giải Đải, Phóng Dật, Hôn Trầm, Trạo Cử, Tán Lọan, Thất Niệm, Bất Chánh Tri),

và 4 món Bất Định (Hối, Miên, Tầm, Từ).

1.    Sắc Pháp (Pháp Sở Hiện Ảnh) gồm 11 món, gồm có  5 món về Căn  (Nhăn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân) và 6 món về Cảnh Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) được h́nh thành từ sự phối hợp của Tâm Vương và Tâm Sở.

2.    Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp (Pháp Tam Vị Sai Biệt) gồm 24 món không có tương ưng với ba loại Tâm Vương, Tâm Sở, và Sắc Pháp nêu trên.  Đó là: Đắc, Mạng Căn, Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh, Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định, Vô Tưởng Báo, Danh Thân, Cú Thân, Văn Thân, Sanh, Trụ, Lăo, Vô Thường, Lưu Chuyển, Định Dị, Tương Ưng, Thế Tốc, Thứ Đệ, Thời, Phương, Số, Ḥa Hợp Tánh, và Bất Ḥa Hợp Tánh.

3.    Vô Vi Pháp ( Pháp Tứ Sở Hiển Hiện) là các pháp vô tướng, vô tác rất vi tế nên  không thuộc vào bốn loại  pháp vừa nêu trên. nhưng lúc nào cũng có hiện diện, không thiếu vắng nơi bốn pháp này.  Vô Vi pháp  gồm có 6 món  là: Hư Không, Trạch Diệt, Phi Trạch Diệt, Bất Động Diệt, Tưởng Thọ Diệt, và Chơn Như. 

Qua Duy Thức Học,  có thể thấy A Lại Da thức chính là cội nguồn chủ yếu của tâm thức phàm phu nơi chúng ta. Khi A Lại Da thức được tinh sạch, không c̣n bị  vướng chấp phiền năo che phủ, nó  sẽ  trở  thành Bạch Tịnh thức (Bản Thể Như Lai Tàng thanh tịnh). Đó chính là Pháp Thân Như Lai, Giác Thể vô thủy - vô chung, vô tại - vô bất tại, Đệ Nhất Nghĩa Đế, cơi Phật Vô Động, tự đầy đủ thanh lương bất biến, soi chiếu khắp pháp giới hằng nhiên tự  tại. Thông thường, chúng ta chỉ biết sống với “Tâm Vật Thể” và với các Sắc pháp, chỉ biết nhiều và sống thường xuyên cùng với các phần thô phù, cạn cợt của “Tâm Tính Năng” như  với 6 món Tâm Vương đầu tiên (Tiền Lục Thức: Nhăn Thức , Nhĩ Thức, Tỹ Thức,  Thiệt Thức, Thân Thức và Ư Thức) cùng các món Căn Bản Phiền Năo,  và  các món Tùy Phiền Năo,... Do vậy chúng ta quan tâm nhiều đến các món Sắc Pháp và các món Tâm Sở Phiền Năo, quan tâm ít hơn đến các món Tâm Sở Thiện và các món Tâm Sở khác, và hầu như rất xa lạ với các pháp Vô Vi. Điều này đưa đến sự h́nh thành, phát triển tự nhiên, và tồn tại lâu dài của vô minh phiền năo, chủng tử hữu lậu, ch́a khóa phát khởi nghiệp thức dẫn đưa vào sáu đường sinh tử luân lưu, bất tận trong ba cơi.

Kinh Pháp Cú (phẩm “Tâm”) có câu “Tâm phàm phu cứ xoay vần theo ngũ dục, xao động, không dễ nắm bắt. Chỉ những người nào đă điểu phục được tâm ḿnh mới được an vui”. Do đây, tâm ư phàm phu thường được ví như khỉ, như ngựa (“Tâm viên, ư mă”).

Ngài Thần Quang (về sau là Nhị Tổ Huệ Khả) thưa với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma :”Tâm con không an xin Thầy dạy con pháp an tâm”. Sơ Tổ nói: Hăy đem tâm của ông ra đây, ta sẽ an cho”. Thần Quang đáp  “Con t́m tâm mà chẳng thấy”. Sơ Tổ bảo “Vậy là ta đă an tâm cho ông rồi”. Từ đây, ngài Thần Quang đă được pháp an tâm. ( = Cái tâm mà Ngài ban đầu tưởng là không an chỉ là những tâm sở thô phù, là phiền năo, là pháp sanh diệt, chợt có chợt mất, chợt đến chợt đi theo các duyên trần. Khi tâm ta c̣n phan duyên và bị vướng mắc vào phiền năo, tâm chỉ thấy hiện ra có phiền năo nên ta dễ có ư cho rằng phiền năo chính là bản tâm ta. Chỉ cần lời dạy đơn giản là “hăy đem tâm ra đây” và “Vậy là ta đă an tâm cho ông rồi “ khiến ngài Thần Quang xoay lại quán chiếu nơi bản tâm và dứt bặt tư duy phân biệt nên thấy phiền năo huyễn hóa tự nhiên biến mất, liền được trở về với tâm thanh tịnh bản nhiên tự sẵn đầy đủ nên gọi là được pháp an tâm vậy).

Luận Đại Thừa Khởi Tín xác minh sự khởi phát của ba thức cơ bản của Bát Thức Tâm Vương là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức, và Ư Thức như sau:

1.    Ban đầu tạm gọi là có bản thể Giác Tánh thanh tịnh, viên măn  (Đây chính là Bản Giác vô thủy, vô chung).

2.    Do tác động từ cảnh trần, Bản Giác bị chao động (Đây chính là Vô Minh Nghiệp Tướng, Tế 1st của Tam Tế) nên có xuất hiện A Lại Da thức (đây là  giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 8th).

3.    Từ đó tiếp tục sinh ra có Năng Kiến Tướng (c̣n gọi là Chuyển Tướng, tức là Kiến Phần của A Lại Da thức, Tế 2nd của Tam Tế)

4.    Rồi có thêm Cảnh Giới Tướng (c̣n gọi  là Hiện Tướng, tức là Tướng Phần của A Lại Da thức, Tế 3rd của Tam Tế).Từ đây đă có sự xuất hiện của Mạt Na thức (đây là  giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 7th) với chấp mắc về Năng - Sở, Ngă - Pháp (Ngă Sở Hữu), Có -Không. 

(Ba tướng Vô Minh Nghiệp, Kiến Phần, và Tướng Phần này được gọi chung là Tam Tế trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Tế 1st minh định sự h́nh thành A Lại Da thức, hai tế sau 2nd và  3rd, minh định sự h́nh thành Mạt Na thức).

5.     Mạt Na thức xuất hiện sẽ tiếp tục phát triển ra Lục Thô bao gồm Thô 1st =Trí Tướng (có thêm phân biệt tốt-xấu, thương-ghét), Thô 2nd =Tương Tục Tướng (vọng niệm tiếp nối liền lạc theo nhau không dứt), Thô 3rd = Chấp Thủ Tướng (khiến tâm trở nên chấp luyến, thủ đắc sự vật), Thô 4th  = Kế Danh Tự Tướng (và khiến tâm giả đặt ra danh tự gọi tên sự vật), Thô 5th = Khởi Nghiệp Tướng (rồi tâm gây tạo nghiệp lành dữ) và Thô 6th = Nghiệp Hệ Khổ Tướng (tâm phải thọ chịu quả khổ). Hai Thô đầu của Lục Thô c̣n thuộc về Mạt Na thức, c̣n bốn Thô sau  của Lục Thô chính là Tướng và Dụng của Ư Thức (khởi phát và xuất hiện Thức 6th). Như thế, Tam Tế Lục Thô chính là quá tŕnh chuyển biến từ bản thể Như Lai Tàng thanh tịnh qua các thức A Lại Da, Mạt Na và Ư thức cấu nhiễm, cơ sở cho các tác nhân gây tạo nghiệp khổ luân hồi.

 

Vậy bản thể của tâm là Giác Tánh thanh tịnh luôn có sẵn, chỉ v́ Tâm bị chao động trước cảnh trần mà khiến có Bất Giác. Bất Giác chính là sự Động Tâm, cũng  chính là Vô Minh vi tế nhất, sâu xa nhất so với các Vô Minh thô phù bên ngoài (như các Tâm Sở phiền năo Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến)… Các tông phái đạo Phật đều có cứu cánh nhắm đến chổ loại trừ, buông bỏ Vô Minh vi tế  về  sự  động tâm này. Như  Tịnh Độ  tông với pháp môn “Niệm Phật nhất tâm bất loạn”, Mật Tông với pháp môn Tam Mật Tương Ưng, Thiền Tông với pháp môn Chỉ Quán…

Mỗi động thái của Bản Giác đưa đến sinh khởi của một tướng trạng tâm. Có nhiều tướng trạng khác nhau nên tên gọi (danh xưng) của các tướng trạng này cũng khác nhau. Từ chổ Tâm bị động,  vọng niệm được phát khởi, mỗi vọng niệm phát khởi lại là một dạng tâm sở, mỗi tâm sở lại có thể tương ưng với một dạng loại phiền năo,  nên thực tế không phải chỉ có 51 tâm sở như Duy Thức Học đă tổng quát hóa, tóm gọn lại, mà có vô lượng tâm sở, vô lượng phiền năo rồi. Điều an ủi là dù có vô lượng phiền năo, nhưng chúng sanh cũng có vô lượng Bồ Tát sẵn sàng cứu giúp vượt qua chúng. Vô lượng phiền năo thường được tượng trưng với con số 84,000 trong đạo Phật như nếu có 84,000 phiền năo th́ cũng có 84,000 vị Bồ Tát hoặc có 84,000 pháp môn giải thoát… Các Bồ Tát này quí hóa thay lại có sẵn đủ, ở ngay nơi cội nguồn tâm thức của mỗi chúng sanh nên chúng sanh chỉ cần “Hồi Đầu”, th́ tức khắc “Thị Ngạn” ngay. Mỗi một niệm Giác là một Bồ Tát, từ nơi có “Hữu T́nh Giác’ mà  khiến có nên “Giác Hữu T́nh”. Do vậy Lục Tổ đă nói “Không ngại niệm khởi chỉ e giác chậm”. Đây cũng là ư nghĩa của phẩm “Ṭng Địa Dơng Xuất” trong kinh Pháp Hoa (có vô số Bồ Tát từ cơi đất của tự tâm vọt lên để hộ tŕ kinh, không cần đến các Bồ Tát ở các phương khác, cơi đất khác).

 

Kinh Duy Ma Cật phân biệt về các tâm với tên gọi khác nhau có được trên tiến tŕnh tu tập, dựng xây cơi Tịnh Độ, kể tên sơ lược một số tên gọi: 1st là Trực Tâm = tâm không cong vạy, thẳng hướng về bản thể Chơn Như, 2nd là Thâm Tâm = tâm tinh tấn đi sâu vào Chơn Như, 3rd là Bồ Đề Tâm = tâm thể phát sáng, cảm nhận được chất liệu trí tuệ - an lạc nơi Chơn Như, 4th là Hồi Hướng Tâm = tâm dụng từ Chơn Tâm hướng đến lợi ích cho chúng sanh… để dần dà có Thanh Tịnh Tâm rồi có cơi Tịnh Độ (Phật quốc). Ở đây, kinh Duy Ma Cật xác minh tu tâm không dừng lại ở phương tiện phá dẹp, buông bỏ phiền năo nơi các Thức v́  đây chỉ giống như  hớt bọt trên mặt biển nổi sóng mà không biết đến nguyên nhân sâu xa khiến phát sinh bọt biển chính là do nước biển yên lành đă bị chao động theo những cơn gió từ các duyên trần cảnh từ bên ngoài. Kinh đă nhấn mạnh đến nơi cứu cánh, nổ lực hướng thẳng đến Chơn Tâm bản tánh, tinh tấn cho đến khi thành Phật.

Một vị tăng hỏi thiền sư Thiên Nhan: “Thế nào là Lư Bản Thường?”. Thiền sư Thiên Nhan đáp: “Động”... Vị tăng lại hỏi “Khi động th́ sao?”. Ngài đáp: “Chẳng phải Lư Bản Thường”. Ở đây, câu trả lời của thiền sư Thiên Nhan không nhằm giải đáp cho chính câu hỏi (phát khởi từ nguồn thức 6th,thức 7th ,    thức 8th của học tăng)  mà đă rốt ráo hơn, cụ thể hơn, từ bi thiết thực hơn nhổ đinh, tháo chốt  thẳng vào ngay nơi động thái của Bản Giác nơi người nêu ra câu hỏi vậy. Thiền Sư sau đó đă khai thị tiếp về việc “Nhận” và “Chẳng Nhận” (động thái vi tế hơn ở nguồn tâm của học tăng): “Nhận tức chưa thoát khỏi căn trần, c̣n chẳng nhận th́ c̣n hằng ch́m trong sanh tử” .

Kinh Duy Ma Cật, phẩm 12 “Kiến A Súc Phật” khai thị  về  cơi nước Diệu Hỹ cũng nhằm vào ư nghĩa này: khi tâm thức không bị chao động trước cảnh trần, quán chiếu thấu được “Thực Tướng” ngay nơi tự thân sẵn đủ th́ chính lúc đó là quốc độ Diệu Hỷ rồi. Tâm “Hỷ Lạc” ở đây có ư nghĩa thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc nơi Tục Đế thế gian (tâm vui thích v́ được thành toại tham dục với cảnh trần bên ngoài), cũng thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc của thiền cảnh cơi trời Sắc Giới (Ly Sanh Hỷ Lạc = Xa rời ngũ dục thế gian mà tâm được vui thích, Định Sanh Hỷ Lạc = Tâm không c̣n chao động với ngũ dục thế gian mà được vui thích.), nên được gọi là Diệu Hỷ (cái vui mầu nhiệm bất khả tư ngh́ mà ai cũng sẵn có đầy đủ nhưng lại thường hay bị bỏ quên nên không thể biết về nó và không thể sống với nó).

Cuộc vấn đáp giữa ngàiTriệu Châu (người hỏi) và thầy ḿnh là Tổ Nam Tuyền (người đáp) minh định tâm Vô Động (gọi là Tâm B́nh Thường ở đây) với ư nghĩa Tâm B́nh Thường không phải là tâm hằng ngày thường khiến ta bận bịu,  phiền năo vướng chấp theo duyên trần, nghĩ ngợi lăng xăng phải-quấy, tốt xấu, khen chê, thương-ghét) mà Tâm B́nh Thường chính là Đạo,  là tâm ở nơi cội nguồn thanh tịnh, nơi đó không c̣n có vọng động, khiến tâm xa ĺa các ư niệm về tiến – lùi, nghĩ ngợi, nhận biết theo duyên trần của Ư thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức.  

·         Thế nào là đạo?

·         Tâm b́nh thường là đạo.

·         Lại có thể nhằm tiến đến chăng ?

·         Nghĩ nhằm tiến đến là sai rồi

·         Vậy khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo ?

 -    Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô kư. Nếu thật đạt đạo th́ chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy?

Ngay câu nói này, thiền sư Triệu Châu được ngộ lư.

Như trên đă nói, đạo Phật chính là đạo về Tâm. Nhưng nếu cho rằng đạo Phật là đạo Duy Tâm th́ cần khéo  hiểu ư nghĩa của chữ Tâm này, chữ Tâm với ư nghĩa trọn vẹn, bao trùm đầy đủ các pháp giới từ thô đến tế, từ cạn cợt đến vào sâu suối nguồn ẩn kín, chữ Tâm vượt qua khỏi các  phạm trù “Duy” và “Chẳng Duy” với nhậm vận diệu dụng  “Bất Biến mà Tùy Duyên”, và tuy là “Tùy Duyên nhưng lại Bất Biến” .

C̣n nếu cho rằng đạo Phật là đạo Vô Thần, th́ cần khéo hiểu ư nghĩa về bản thể và diệu dụng của nguồn tâm thể bản hữu. Chính ngay từ ngữ “Vô Thần” đă bị vướng chấp vào hai ư niệm: 1st là ư niệm về Vô - Hữu (Có - Không), 2nd là ư niệm về “ Là (Thần) - Chẳng Là (Thần)”.  Hai ư niệm này c̣n thuộc phạm trù của các Thức (Ư thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức), chưa chạm vào đến nơi cội nguồn bản thể thanh tịnh của A Lại Da thức là Bản Giác hằng nhiên thanh tịnh mà chiếu soi cùng khắp, vượt qua tất cả ư niệm về không gian và thời gian, về Có – Không, về Là-Chẳng Là . Đó là diệu dụng bất khả tư ngh́ của cội nguồn Chơn Tâm Thường Trú “thanh tịnh bản nhiên, “tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, chu biến pháp giới” (kinh Thủ Lăng Nghiêm). Cội nguồn này là nơi xuất sanh và cũng là nơi trở về (sanh hay diệt tùy theo các nhân duyên tụ tán) của vô lượng sanh thể, sanh khí, sanh tướng của chúng sanh , bao gồm tất cả dạng loài chúng sanh trong ba cơi ( Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới), trong sáu đường (Trời, Người, thần A Tu La, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục), và cả mười pháp giới (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và sáu đường nêu trên).

Như thế, gán ép cho “Tâm” nói riêng và cho đạo Phật nói chung bất kỳ một danh hiệu nào, một nhăn hiệu nào… đều không chuẩn xác và xứng hợp hoàn toàn. Bởi v́ Tâm nơi cứu cánh chính là nguồn  sống thiên sai vạn biệt của tất  cả chúng sinh mà ở tận cùng nguồn sống ấy lại là giác thể thanh tịnh bản hữu chung cùng, bản vị b́nh đẳng nơi mỗi sinh linh. Đây cũng chính là điểm tinh yếu vô cùng đặc sắc và độc đáo của đạo Phật Đại Từ - Đại Bi - Đại Hỷ - Đại Xả vậy.

                                                                                         
 Quảng Minh LKH

Plano_ February 22, 2017