Welcome to my homepage. Hope you've enjoyed your stay here. I look forward to seeing you again.

Phật Học Phổ Thông

Khóa 7
Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa


 
 
 

Khóa Thứ Bẩy
Triết Lư Đạo Phật
hay là Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm
(Tiếp Theo)

Bài Thứ Tám: Ông Phú Lâu Na Hỏi Phật Hai Câu Quan Trọng
Bài Thứ Chín: Phật Dạy Chân Tâm Phi Tất Cả Tướng
Bài Thứ Mười: A Nan Thuật Lại Chỗ Ḿnh Đă Ngộ
Bài Thứ Mười Một: Ngài A Nan hỏi Phật: Trói Cột Ở chỗ Nào và Làm Sao Mở được
Bài Thứ Mười Hai: Ngài A Nan hỏi Phật pháp tu viên thông
Bài Thứ Mười Ba: Phật bảo Ngài Văn Thù lựa pháp tu viên thông
Bài Thứ Mười Bốn: Phật dạy tŕ chú Lăng Nghiêm
Bài Thứ Mười Lăm: 10 món ma về thọ ấm, 10 món ma về tưởng ấm
Bài Thứ Mười Sáu: 10 món ma về hành ấm, 10 món ma về thức ấm

 
 

Bài Thứ Tám

 

I.- Ông Phú Lâu Na hỏi Phật hai câu quan trọng

II.- Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt

III.- Phật chỉ cái nguyên nhơn chung: sanh ra hư không thế giới và chúng sanh

IV.- Phật chỉ cái nguyên nhơn riêng và tuần tự sanh ra vũ trụ

V.- Phật chỉ nguyên nhơn có chúng sanh (nhơn sanh)

VI.- Phật chỉ nguyên nhơn chúng sanh tiếp tục sanh

VII.- Phú Lâu Na hỏi tiếp: Chư Phật đă chứng được chơn tâm thanh tịnh rồi, vậy chừng nào nổi vọng trở lại

VIII.- Phật dùng ba thí dụ để trả lời

IX.- Phật trả lời câu hỏi thứ hai của ông Phú Lâu Na

X.- Phật chỉ chơn tâm tùy duyên biến hiện

XI.- Chúng sanh đi ngược với chơn tâm sáng suốt và hiệp theo vọng trần

XII.- Chư Phật hiệp theo chơn tâm sáng suốt.
  

I. ÔNG PHÚ LÂU NA HỎI PHẬT HAI CÂU QUAN TRỌNG

 

       Lúc bấy giờ ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử đứng dậy lạy Phật, chắp tay cung kính và thưa rằng: Bạch Thế Tôn, trong hàng tứ chúng, Phật thường khen con thuyết pháp hơn hết; ở trong hội này con lại chứng được quả Vô lậu. Thế mà hôm nay con nghe Phật nói pháp nhiệm mầu cao thượng, hăy c̣n chưa hiểu. Cũng như người điếc đứng xa một trăm bước nghe tiếng muỗi kêu; thấy c̣n không được, huống chi lại nghe.

Bạch Thế Tôn:

            1. Chơn tâm này đă vốn thanh tịnh, tại sao lại thoạt sanh ra sơn hà đại địa và các chúng sanh?

            2. Lại nữa, Phật nói “đất, nước, gió, lửa, tánh nó vắng lặng thường c̣n, viên dung khắp giáp pháp giới”. Bạch Thế Tôn, nếu nước khắp tất cả, th́ lửa phải tắt; c̣n lửa biến khắp thời nước phải khô; tánh lửa th́ nóng, tánh nước lại lạnh, hai thứ trái nhau, tại sao đồng cùng khắp cả hư không, mà nó không diệt nhau? Lại nữa, đất th́ có h́nh chất, c̣n hư không lại trống, tại sao hai thức đều khắp giáp cả pháp giới, mà không có chướng ngại nhau? Cúi xin đức Như Lai vén mở ngút mây mờ cho chúng con.

Thưa hỏi xong, ông Phú Lâu Na kính cẩn trở lui, để chờ nghe lời Phật chỉ dạy.

 

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này ông Phú Lâu Na hỏi Phật hai điều:

           1. Chơn tâm đă thanh tịnh tại sao thoạt sanh ra có thế giới và chúng sanh? 

           2. Đất, nước, gió, lửa, tánh nó chống trái nhau, tại sao lại dung ḥa được và biến khắp cả pháp giới?

Về câu hỏi trước th́ trong kinh này Phật đă trả lời rơ rồi. C̣n về câu hỏi sau chúng ta cũng nên phân biệt cho rơ: Phật nói nước, lửa v.v... biến khắp cả pháp giới, đó là Phật chỉ về phần “bản thể” mà nói. Ông Phú Lâu Na nghi nước, lửa v.v... trái nhau, làm sao đều biến khắp được. Thế là ông Phú Lâu Na đứng về phần “hiện tượng” mà hỏi.

Về phần hiện tượng th́ có chướng ngại, c̣n bản thể thời không bao giờ chướng ngại.

 

***

 

II. PHẬT TRẢ LỜI CÂU HỎI THỨ NHẤT

 

           Phật day: Này Phú Lâu Na, như lời ông hỏi: “Chơn tâm đă vốn thanh tịnh, tại sao lại sanh ra sơn hà đại địa, thế giới và chúng sanh”.

           Vậy ông có thường nghe ta nói: “Chơn tâm nhiệm mầu vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi” không? (Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu)

           Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn, con có thường nghe Phật dạy như thế.

           Phật hỏi: Vậy chơn tâm này, ông cho nó tự có tánh sáng suốt chiếu soi (phân biệt) hay là không có sáng suốt chiếu soi?

           Phú Lâu Na thưa: V́ nó sẵn có tánh sáng suốt chiếu soi (phân biệt) nên mới gọi là tâm. Nếu nó không có tánh sáng suốt chiếu soi (phân biệt) th́ không gọi là tâm, v́ nó không phân biệt được cái ǵ cả.

           Phật dạy: Như lời ông nói: “Nếu nó không sáng suốt chiếu soi (phân biệt) th́ không phải là tâm, v́ nó không phân biệt được cái ǵ cả”. Vậy ông có hiểu chăng: nếu có chiếu soi phân biệt, th́ không phải là chơn (v́ có năng phân biệt th́ phải có bị phân biệt), c̣n không có chiếu soi phân biệt, th́ chắng phải là tâm. Nếu tâm mà không sáng suốt th́ không phải là chơn tâm thanh tịnh rồi.

           Ông nên hiểu: Chơn tâm vẫn sáng suốt, v́ ông vọng chấp cái “sáng suốt phân biệt" làm tâm, nên thành ra có năng phân biệt (tâm) và bị phân biệt (cảnh).

           Chơn tâm của ông không phải cái “bị phân biệt”, nhưng v́ ông khởi ra cái “năng phân biệt”, nên nó (chơn tâm) trở lại thành cái “bị phân biệt” (cảnh). Đă vọng thành cái “bị phân biệt”, cố nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra cái “năng phân biệt”.

           Thế là ở nơi chơn tâm của ông vẫn thanh tịnh không có năng và sở, mà thoạt nhiên thành ra có năng và sở (vô đồng dị trung, xí nhiên thành dị)

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đại ư đoạn này Phật chỉ cái nguyên nhân từ chơn tâm thanh tịnh, v́ vọng động nổi lên nên sanh ra có thế giới và chúng sanh.

           Chơn tâm thanh tịnh mỗi người đều sẵn đủ. Nếu chấp nó “không có phân biệt” th́ chẳng phải là tâm; c̣n chấp nó “có phân biệt” th́ chẳng phải là chơn.

            Bởi ông Phú Lâu Na chấp cái “phân biệt chiếu soi” làm tâm, nên đă có cái phân biệt, cố nhiên phải có cái bị phân biệt. Thế là năng, sở vừa hiện, th́ bỉ và thử rơ ràng.

            Đây là Phật chỉ cái hành tướng của vọng, từ nơi tâm của mọi người khởi lên một cách rơ ràng.

            Một vọng niệm vừa nổi lên, th́ có trăm ngàn vọng niệm khác tiếp tục theo sanh ra, cho đến vô cùng tận. Nhơn đó mà có hư không, thế giới và chúng sanh đồng thời hiện ra. Cũng như người đương thức (dụ chơn tâm) bỗng chốc buồn ngủ nổi lên, (dụ vô minh vọng động) chiêm bao thấy có núi sông, nhà cửa các cảnh vật hiện ra (dụ hư không, thế giới và chúng sanh).

 

***

 

III. PHẬT CHỈ NGUYÊN NHÂN CHUNG: SANH RA HƯ KHÔNG, THẾ GIỚI VÀ CHÚNG SANH

 

           Từ một thể chơn tâm không khác, v́ vọng niệm phân biệt, có năng sở, bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Nhơn có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Đă có thế giới nên mới có chúng sanh. Đă có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đăi nhau, nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: tốt, xấu, phải, chẳng v.v... V́ thế mà sanh ra đủ các phiền năo trần lao nhiễm ô. Cái có h́nh tướng và sanh diệt là thế giới, cái không h́nh tướng và yên tịnh là hư không; khác với hư không, thế giới là chúng sanh vậy.

 

IV. PHẬT CHỈ CHỈ NGUYÊN NHÂN RIÊNG VÀ TUẦN TỰ SANH RA VŨ TRỤ

 

1. NGUYÊN NHÂN SANH GIÓ

 

           Từ nơi chơn tâm, do vô minh vọng động mà có hư không. Hư không mờ mịt v́ vô minh sanh. Trong “hư không” có chất động, v́ là vọng. Bởi thế nên trong hư không có gió (phong luân) để duy tŕ thế giới.

 

2. NGUYÊN NHÂN SANH RA VÀNG NGỌC

 

           Nhơn hư không sanh ra gió, và v́ nơi tâm chúng sanh có tánh cố chấp phân biệt, cho nên ứng hiện ra ngoài thế giới có những chất cứng chắc là vàng ngọc (vàng ngọc cứng chắc là v́ tâm cố chấp sanh. Nó sáng ngời là do tâm phân biệt sanh). Đây là nguyên nhân có chất kim khí để bảo tŕ thế giới.

 

3. NGUYÊN NHÂN SANH RA LỬA

 

           Trong tâm chúng sanh v́ có tánh cố chấp phân biệt nên sanh ra chất cứng chắc là kim khí, và v́ có vọng động mà thành ra gió. Rồi gió thổi kim khí, nó cọ xát măi, nóng lên, nên nháng sanh ra ánh sáng là lửa. Đây là cái nguyên nhân có lửa để nấu đốt các vật.

 

4. NGUYÊN NHÂN SANH RA NƯỚC

 

           Chất vàng ngọc vừa sáng ngời và đượm mát. Nhơn lửa xông lên, nên có hơi nước rịn ra. Đây là cái nguyên nhân có nước để bao bọc cả mười phương thế giới.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ tâm vọng đọng nên biến hiện ra ngoài thế giới có gió. V́ tâm cố chấp, cho nên biến hiện ra ngoài thế giới có vàng ngọc. V́ tâm nóng nảy, nên biến hiện ra ngoài thế giới có lửa. V́ tâm tham ái, cho nên biến hiện ra ngoài thế giới có nước.

 

5. NGUYÊN NHÂN SANH RA CỒN ĐẢO VÀ BIỂN

 

           V́ tánh lửa bốc lên, c̣n nước th́ lại chảy xuống, nên có chỗ thấp ướt là sông biển, chỗ nổi lên cao là cồn đảo. Bởi lửa và nước dung ḥa nhau, cho nên trong biển thỉnh thoảng bốc lên ánh sáng của lửa, trong cồn đảo lại có sông rạch thường chảy ra nước.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Trong bộ Tông cảnh nói: “V́ tâm luyến ái nên ứng hiện ra ngoài thành sông biển. V́ tâm cố chấp nên ứng hiện ra ngoài thành cồn đảo, tâm khinh mạn thành ra gió, tâm nóng nảy, sân hận thành ra lửa. Bởi thấy sắc dục sanh tâm luyến ái, nên hiện ra ngoài thế giới: Trong cồn đảo có nước thường chảy. Ví trái với sự thương yêu th́ nổi sân, nên hiện ra ngoài thế giới: trong biển có lửa phát lên. Tóm lại, bốn đại đều duy tâm biến hiện (dụ như chiêm bao, nếu ban ngày nghĩ tưởng cái ǵ, th́ ban đêm hiện ra cảnh ấy).

 

6. NGUYÊN NHÂN SANH RA NÚI

 

           V́ thế lực của nước yếu hơn lửa, nên bị lửa bốc lên kết hành núi cao. Bởi thế nên đập đá th́ có lửa, c̣n đốt quá nóng, th́ nó chảy ra nước.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ tâm giận nhiều thương ít, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có núi cao.

 

7. NGUYÊN NHÂN SANH RA CỎ CÂY

 

           V́ thế lực của đất yếu hơn nước, cho nên bị nước rút lên làm cỏ cây. Bởi thế nên cỏ cây, nếu bị đốt th́ thành tro (đất) c̣n ép th́ nó lại ra nước.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ tâm thương yêu nặng nề, tánh cố chấp ít, nên ứng hiện ra ngoài thế giới thành cỏ cây.

 

***

           Tóm lại, v́ ở trong tâm chúng sanh, các vọng tưởng xen nhau phát sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Bởi nhân duyên này mà thế giới nối nhau sanh măi không dứt.

 

V. PHẬT CHỈ NGUYÊN NHÂN CÓ CHÚNG SANH (NHƠN SANH)

 

           Ông Phú Lâu Na, cái “hư vọng phân biệt” đó không có ǵ lạ, chỉ v́ ông chấp cái “phân biệt chiếu soi” làm tâm.  Đă có phân biệt, tất nhiên phải có cái “bị phân biệt” đối đăi nhau. V́ thế nên cái “năng phân biệt” không vượt ngoài cảnh “bị phân biệt” được. Do nhân duyên này, nên nghe không ngoài tiếng, thấy không ngoài sắc, ngửi không ngoài mùi, nếm không ngoài vị v.v...  vọng thành 6 căn và 6 trần đối nhau, nên phân ra có: thấy, nghe, hay, biết.

           Rồi theo nghiệp lực kéo dẫn, cho nên có những loài sanh con (như người và thú) loài sanh trứng (như chim và cá) loài sanh chỗ ẩm ướt (như vi trùng v.v...) loài hóa sanh (như trời và địa ngục)

           Thần thức khi đầu thai, nhơn thấy ánh sáng (lửa dục) của cha mẹ phát ra, rồi nó khởi ra cái “tưởng” chung chạ làm việc dục ấy. Nếu nó sẽ là trai th́ ưa mẹ mà ghét cha, c̣n nó sẽ là gái th́ thương cha mà ghét mẹ. V́ t́nh lưu luyến nơi ái dục không rời được, nên nó tự kết nạp tư tưởng của nó với tinh huyết của cha mẹ khi giao cấu đó, kết thành ra thai. V́ có nhân duyên với nhau và đồng nghiệp kéo dẫn, nên kết thành thai nghén. Loài sanh thai, sanh trứng, sanh nơi ẩm thấp, hoặc hóa sanh đều tùy theo nghiệp của mỗi loài mà cảm ứng.

           Loài sanh trứng là do nơi tưởng nhiều, loài sanh thai là do nơi t́nh nặng, loài thấp sanh là do hiệp với chỗ ẩm thấp, loài hóa sanh th́ rời cảnh vật tự nó hóa hiện. Bốn loài biến đổi, tùy theo nghiệp lành hay dữ mà cảm thọ quả báo có thăng và trầm. Do nhân duyên ấy mà chúng sanh bỏ thân này thọ thân kia, nối nhau không dứt.

 

VI. PHẬT CHỈ NGUYÊN NHÂN CHÚNG SANH TIẾP TỤC SANH

 

           1. Tham dục: Này Phú Lâu Na, chúng sanh v́ t́nh ân ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên trong thế gian, cha mẹ, con cháu tiếp tục sanh ra không cùng tột, gốc tại ḷng tham dục vậy.

           2. Tham sát: Loài nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho ḿnh được sống nên tham ăn những vật bổ dưỡng. V́ thế mà trong thế gian này, loài mạnh ăn thịt loài yếu, loài khôn giết loài dại. Bốn loài (noăn, thai, thấp, hóa) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại ḷng tham sát hại.

           3. Tham trộm cướp: Bởi loài người ăn thịt loài vật, loại vật trở lại ăn thịt người. Người chết làm vật, vật chết làm người, các loài chúng sanh, sanh sanh tử tử, nối tiếp nhau. Các ác nghiệp đă tạo ra rồi, th́ cùng nhau vay trả, cho đến ngh́n đời không tột, gốc tại ḷng tham lam trộm cướp.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Loài vật, chúng nó không muốn cho người giết thân mạng nó, mà người lại ỷ sức mạnh giết hại để ăn, thế nên phạm tội cướp giựt. Có vay cố nhiên phải có trả; nên giết hại không những phạm tội sát sanh, mà c̣n phạm cả tội cướp giựt.

           Loài này cướp giựt thân mạng loài kia, loài kia giết hại loài này; trả vay, vay trả lẫn nhau, đến trăm ngàn kiếp không ra khỏi sanh tử.

           Trai mê sắc gái, gái thương t́nh trai, v́ t́nh ân ái thương yêu lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị phiền trược trong ṿng luân hồi.

           Tóm lại, v́ ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp (nhơn) và quả nối nhau, không bao giờ cùng tận.

           Này ông Phú Lâu Na, thế giới, chúng sanh và nghiệp quả ba món điên đảo tương tục này đều ở trong chơn tâm, v́ vô minh vọng động sanh ra “năng phân biệt” và “sở phân biệt” tương đối, nên vọng thấy có sơn hà đại địa, thế giới và chúng sanh, rồi tiếp tục sanh hóa, vô cùng hư vọng.

 

VII. PHÚ LÂU NA HỎI TIẾP:  CHƯ PHẬT ĐĂ CHỨNG ĐƯỢC CHƠN TÂM THANH TỊNH RỒI, VẬY CHỪNG NÀO NỔI VỌNG TRỞ LẠI

 

Ông Phú Lâu Na hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, cái chơn tâm của con đă cùng với Phật không khác, vốn thanh tịnh không tăng không giảm; bỗng nhiên vọng động nổi lên, sanh ra thế giới và chúng sanh. Vậy các đức Như Lai đă chứng được chơn tâm ấy rồi, chừng nào vô minh vọng động nổi lên, sanh trở lại thế giới và chúng sanh nữa?

 

VIII. PHẬT DÙNG BA THÍ DỤ ĐỂ GIẢI THÍCH

 

1. DỤ NHƯ NGƯỜI LẦM PHƯƠNG HƯỚNG ĐỂ CHỈ RƠ NGỘ RỒI KHÔNG MÊ TRỞ LẠI

 

           Phật dạy rằng: Này Phú Lâu Na, như người lầm phương hướng, tưởng phía Nam là phía Bắc. Ông nghĩ sao, cái “mê lầm” ấy nhơn mê mà có, hay nhơn ngộ mà sanh? Này Phú Lâu Na, không phải nhơn ngộ, mà cũng không phải nhơn mê. V́ sao? Cái mê không có căn nguyên, th́ làm sao nói nhơn mê mà có. C̣n ngộ không thể sanh ra mê được th́ sao lại nói nhơn cái ngộ mà sanh.

           Phú Lâu Na, người kia đương lúc đi lầm đường, nếu có người biết đường chỉ lại cho họ: đây là phía Nam, kia là phía Bắc v.v... Vậy từ đó về sau họ c̣n lầm lộn nữa không?

           Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn, người kia không c̣n lầm lộn nữa.

           Phật dạy: Này Phú Lâu Na, mười phương các đức Như Lai cũng vậy, khi ngộ được chơn tâm thành Phật rồi, th́ không bao giờ mê trở lại làm chúng sanh nữa. V́ cái mê lầm không thật, rốt ráo chẳng có gốc rễ. Trước kia vốn không mê, nhưng in tuồng có cái mê trong cái ngộ (như đám mây che mặt nhựt). Đến khi giác ngộ được cái mê, th́ cái mê kia tự diệt; cái “giác ngộ” ấy không sanh trở lại cái mê nữa.

 

2. DỤ NHƯ HOA ĐỐM GIỮA HƯ KHÔNG KHI DIỆT RỒI KHÔNG C̉N SANH TRỞ LẠI

 

           Lại nữa, cũng như người bị nhặm con mắt, thấy có đốm hoa lăng xăng giữa hư không. Đến khi hết nhặm rồi th́ hoa kia tự hết. Nếu người ấy c̣n nh́n lại chỗ các hoa đốm diệt ở nơi hư không kia để trông mong cho hoa sanh trở lại, nếu như thế ông thử nghĩ, người đó khôn hay dại?

           Phú Lâu Na thưa: Hư không không có hoa đốm, mà vọng thấy có hoa đốm sanh diệt, thế đă là điên đảo rồi, huống nữa, trông mong nó sanh trở lại, thật người ấy điên đảo lắm, không c̣n nói dại hay khôn nữa được.

           Phật nói: Ông đă hiểu như vậy, tại sao c̣n hỏi: “Như Lai đă ngộ được chơn tâm thanh tịnh rồi, vậy chừng nào nổi vọng trở lại, sanh ra sơn hà đại địa nữa?”

 

3. DỤ NHƯ VÀNG VÀ CỦI

 

           Cũng như vàng trong mỏ, khi đào lên đă lọc hết khoáng thành vàng ṛng rồi, lúc bấy giờ không c̣n trở lại làm khoáng nữa. Và cũng như cây đốt thành tro, không thể trở lại thành cây nữa được.

           Chư Phật cũng thế, khi chứng được Bồ đề Niết Bàn rồi, không c̣n vọng động trở lại làm chúng sanh nữa.

 

IX. PHẬT TRẢ LỜI CÂU HỎI THỨ HAI

 

           Phật nói: Phú Lâu Na, như lời ông hỏi: “Nước và lửa tại sao chẳng diệt nhau, trái lại được dung ḥa cùng nhau và đều biến khắp cả vũ trụ? Hư không với đất tánh chất không đồng, tại sao dung biến được?”

           Này Phú Lâu Na! Tất cả các pháp xem về tướng (hiện tượng) của nó, nguyên là hư vọng, không thể chỉ bày cái ǵ thật là cái ǵ được. Nó đă hư vọng không thật mà ông lại c̣n hỏi “tại sao nó chẳng diệt nhau”. Như thế chẳng khác nào người ngồi trông đợi cho cái hoa đốm giữa hư không kia kết đậu thành ra trái, th́ làm sao mà kết đậu cho được!

 

LƯỢC GIẢI

 

           Như cái h́nh chớp bóng chiếu trên miếng vải trắng, bởi nó không thật, nên không cái nào ngại cái nào cả.

 

***

           C̣n xem về tánh (bản thể) của các pháp, th́ nguyên nó là chơn. Duy có một thể chơn tâm, nguyên không phải đất, nước, gió, lửa, th́ sao lại chẳng dung ḥa nhau được.

 

X. PHẬT CHỈ CHƠN TÂM TÙY DUYÊN BIẾN HIỆN

 

           Phú Lâu Na! Chơn tâm của ông như thế, nếu ông phân biệt hư không th́ có hư không hiện ra, phân biệt đất, nước, gió, lửa, th́ đều có đất, nước, gió, lửa hiện ra.

           Cũng như hai người đồng xem một mặt trăng dưới nước. Rồi một người đi qua phía đông và một người đi qua phía tây, th́ hai người đều thấy có mặt trăng đi theo ḿnh cả, không có chuẩn định.

           Ông không thể hỏi: “Mặt trăng chỉ một, tại sao đi theo cả hai người”; hay là nói “hai người đi riêng đều thấy có hai mặt trăng, tại sao hiện nay chỉ thấy có một” (Khi hai người đứng chung một chỗ).

           Phú Lâu Na! Ông nên biết: V́ các pháp hư huyễn, không thể lấy đâu làm bằng cứ được.

 

XI. CHÚNG SANH TRÁI VỚI CHƠN TÂM SÁNG SUỐT VÀ HIỆP THEO VỌNG TRẦN

 

           Phú Lâu Na! Các ông v́ trái với chơn tâm sáng suốt, mê muội hiệp theo vọng trần, nên chơn tâm tùy duyên biến hiện ra có hư không thế giới, các thứ trần lao trong thế gian, cùng khắp cả pháp giới. V́ thế nên ông thấy có gió động, hư không lặng, mặt nhựt sáng, mây mờ, sắc tướng và hư không lấn nhau, nước và lửa diệt nhau v.v...

 

XII. CHƯ PHẬT HIỆP VỚI CHƠN TÂM SÁNG SUỐT

 

           C̣n ta (Phật) th́ trái với vọng trần, hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cơi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. V́ ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh sáng suốt, nên mới được như vậy.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ Phật đă ngộ chơn tâm thanh tịnh, nên mới được tự tại vô ngại, không c̣n bị các vật lớn, nhỏ, nhiều, ít v.v... làm chướng ngại.

           Trái lại, chúng sanh v́ mê chơn tâm, hiệp theo vọng trần nên thấy có các vật lớn, nhỏ, rộng, hẹp chướng ngại.

           Bởi tâm có chướng ngại (vọng phân biệt) nên thấy ngoài trần cảnh có chướng ngại. Nếu trong tâm hết chướng ngại (không vọng) th́ không c̣n thấy có một vật ǵ làm chướng ngại cả.

Trở Lên

Bài Thứ Chín

 

I.   Phật dạy: Chơn tâm phi tất cả tướng
II.  Phật dạy: Chơn tâm tức là tất cả Pháp
III. Đến một từng nữa là chơn tâm không thể nói “phi” và “tức”
IV.  Phật lấy cây đờn để tỷ dụ
V.  Ông Phú Lâu Na hỏi Phật: Chơn tâm nhơn đâu có vọng
VI.  Phật dạy: Đă là vọng th́ không có sở nhơn, như ông Diễn Nhă Đạt Đa
VII.  Nếu các “vọng duyên” dứt, tâm “cuồng vọng” tiêu th́ chơn tâm hiện bày
VIII.  A Nan nghi “tâm bồ đề” do nhơn duyên sanh
IX.  Phật định nghĩa chữ nhân duyên tự nhiên và bác
X.  Phật phá chấp nhân duyên để dẫn vào “vô công dụng”
XI.  Phật phá chấp tự nhiên để thành vô hí luận
XII.  Phật quở ông A Nan học nhiều không tu, th́ chẳng có lợi ích ǵ
XIII.  So sánh để khuyến khích tu hành

 
 
I. Phật dạy: chơn tâm phi tất cả tướng

 

           Phật dạy: Chơn tâm này phi tâm (thức) phi đất, nước, gió, lửa và phi hư không.

(Đoạn này nói: Chơn tâm phi ngũ uẩn.

Thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm;

c̣n đất, nước, gió, lửa thuộc về sắc.)

           Nó phi nhăn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ư; phi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; phi nhăn giới cho đến phi thức giới.

(Đoạn này nói: Chơn tâm phi lục nhập, thập nhị xứ và thập bát giới. Nó phi ấm, giới, nhập tức là nói phi cảnh giới lục phàm)

           Chơn tâm phi minh vô minh và minh vô minh tận, cho đến phi lăo tử và phi lăo tử tận.

(Đoạn này nói: Phi 12 nhơn duyên, cả lưu chuyển và hoàn diệt là cảnh giới của Duyên giác)

Phi khổ, tập, diệt, đạo; phi trí và phi đắc.

(Đoạn này nói: phi tứ đế là cảnh giới của Thinh văn)

           Phi bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ.

(Đoạn này nói: Phi lục độ là cảnh giới của Bồ tát).

           Cho đến phi Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri... (mười hiệu) phi Đại Niết Bàn và phi bốn đức của Niết Bàn: thường, lạc, ngă, tịnh.

(Đoạn này nói: phi cảnh giới Phật. Từ Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật gọi là tứ thánh)

Tóm lại, chơn tâm phi tất cả các pháp thế gian (6 cơi phàm) và xuất thế gian (4 quả thánh) vậy.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đă là chơn tâm th́ không c̣n vọng. V́ không c̣n vọng nên không có đối đăi: ngộ mê, thánh phàm, chúng sanh và Phật, hữu vi hay vô vi v.v... v́ nó  tuyệt tánh, ly tướng.

 

***

 

II. Phật dạy: chơn tâm tức là tất cả Pháp

 

           Phật dạy: Chơn tâm này, cũng tức tất cả pháp; tức là tâm; tức là đất, nước, gió, lửa và hư không; tức là nhăn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ư; tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhăn thức giới cho đến ư thức giới; tức Tứ đế; tức Thập nhĩ nhân duyên; tức là Lục độ; tức là Phật và bốn đức Niết bàn. Nói tóm lại, chơn tâm tức là tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Tâm đă sanh ra tất cả pháp, th́ tâm là tất cả pháp. Cũng như bột đă làm ra các thứ bánh, th́ bột đó tức là bánh.

 

III. Đến một từng nữa là chơn tâm không thể nói “phi” và “tức”


           Phú Lâu Na, cái chơn tâm này lại rời tất cả “tức” và “phi”, mà cũng là “tức” và “phi tức”.

           Chơn tâm như thế, th́ từ kẻ phàm phu cho đến các vị thánh: Thinh văn, Duyên giác, làm sao lấy tâm trí suy nghĩ cho đến đạo vô thượng bồ đề của Như lai, hay dùng lời nói luận bàn của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho được?

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đây là chỗ tuyệt đối, không thể nói năng, suy nghĩ và kêu gọi là ǵ được. Túng cùng chỉ gọi “Chơn tâm” thôi. Bởi thế nên Phật đóng cửa thất tại nước Ma Kiệt; ông Duy Ma ngậm miệng ở thành Tỳ Gia, cũng v́ lư đạo quá cao siêu và nhiệm mầu, nên không thể nói ra được vậy.

 

IV. Phật lấy cây đờn để tỷ dụ

 

           Tỷ dụ như cây đờn cầm hay đờn tỳ bà v.v... tuy sẵn có tiếng hay, nhưng phải nhờ ngón tay hay của người biết khảy (nhạc sĩ) mới có thể phát ra tiếng hay được.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Thí dụ này rơ ràng và thật tế lắm. Người đờn hay khảy ra tiếng hay, người đờn vừa khảy ra tiếng vừa, người đờn dở khảy tiếng dở, song đều có tiếng cả. Dụ như chơn tâm của chúng ta tùy duyên biến hiện các pháp; nếu khéo dùng th́ hiện ra Phật, c̣n vừa vừa th́ thành Bồ tát, Thinh văn, vụng lắm th́ thành tam đồ lục đạo, đều có biến hiện cả.

 

***

 

           Ta cùng với các ông cũng đồng một bản thể chơn tâm thanh tịnh này và viên măn khắp giáp tất cả. Song ta làm việc ǵ và lúc nào cũng đều chơn cả. C̣n các ông tâm vừa móng lên, th́ phiền năo trần lao đă khởi trước.

           Bởi các ông không siêng năng cầu đạo vô thượng, chỉ ưa mến quả Tiểu thừa, mới vừa chứng được chút ít lại cho là đầy đủ.

 

V. Ông Phú Lâu Na hỏi Phật: chơn tâm nhơn đâu có vọng

 

           Ông Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế tôn, con cùng với Phật đă đồng một chơn tâm viên măn không khác. Nhưng con bị vọng tưởng từ vô thỉ, nên nhiều kiếp phải chịu sanh tử luân hồi, nay tuy chứng đặng quả Thánh, mà chưa cứu cánh (c̣n ở về Tiểu thừa). C̣n đức Thế Tôn th́ tất cả các vọng đă hoàn toàn diệt, Ngài đă chứng chơn tâm thường trụ rồi, được tự tại giải thoát. Vậy con xin kính hỏi đức Thế tôn: Tất cả chúng sanh v́ sao có vọng, tự che lấy chơn tâm mà phải chịu trầm luân?

 

VI. Phật dạy: đă là vọng th́ không có sở nhơn, như ông Diễn Nhă Đạt Đa

 

           Phật dạy: Này Phú Lâu Na, ông tuy trừ nghi, mà các mê lầm chưa hết. Tôi nay dùng việc thật tế và hiện tiền trong thế gian để chỉ dạy ông: vừa rồi đây, ông có nghe câu chuyện chàng Diễn Nhă Đạt Đa tại thành Thất la không? Một buổi sáng nọ chàng lấy gương soi mặt, thấy cái đầu trong gương (bóng) có mặt mày đáng thương. Chàng trở lại giận trách “cái đầu thiệt của ḿnh đây sao không thấy được mặt mày của ḿnh; hay là ma quỷ?”. Rồi bỗng nhiên chàng nổi cuồng vùng chạy... Theo ư ông, người này nhơn cái ǵ mà bỗng nhiên nổi cuồng vụt chạy?

           Ông Phú Lâu Na thưa: Người ấy tự tâm họ cuồng, chớ không có nhơn cái chi cả.

           Phật dạy: Cũng vậy đó, ông Phú Lâu Na. Đă nói là “vọng” th́ đâu có sở nhơn, c̣n có sở nhơn th́ không phải là vọng. Các vọng tưởng tự nó nhơn nhau liên tiếp phát sanh; từ đời này đă mê rồi chất chứa thêm cái mê, cho đến nhiều kiếp. Ta đă nhiều lần chỉ dạy, mà các ông hăy c̣n chưa ngộ trở lại. Này Phú Lâu Na, cái “mê” như vậy đó, nhơn mê tự có? Nếu người biết được cái “mê” ấy không nguyên nhân, th́ cái “mê vọng” đó không c̣n gá nương vào đâu nữa. Lúc bấy giờ dầu muốn cho nó sanh c̣n không thể được, huống chi muốn diệt.

           Các ông nên biết: người đặng đạo Bồ đề rồi (ngộ chơn tâm), cũng như người thức giấc mộng, mà muốn nói lại việc chiêm bao; mặc dầu trong tâm nhớ biết rơ ràng, nhưng không làm sao chỉ các vật trong chiêm bao ra được, v́ nó không thật có, vả lại nó cũng không có nguyên nhân nữa. Cũng như chàng Diễn Nhă Đạt Đa, tự sợ cái đầu của ḿnh, rồi nổi cuồng vụt chạy, chớ không có sở nhơn ǵ cả.

           Nếu cái “cuồng” kia thoạt nhiên hết, th́ cái “đầu” vẫn y nguyên. Dù cho khi chưa hết cuồng th́ cấi đầu ấy cũng không mất. Này Phú Lâu Na, các “mê vọng” như vậy đó, chớ có nhơn cái ǵ đâu!

 

LƯỢC GIẢI

 

           Cái đầu là dụ cho “chơn tâm”. Tự nổi cuồng là dụ cho các “vọng tưởng” tự sanh. Hết cuồng rồi th́ cái đầu vẫn y nguyên, dầu đương cuồng cái đầu cũng không mất, là dụ cho ngộ rồi th́ chơn tâm tự hiện, dầu chưa ngộ, chơn tâm cũng không mất.

 

VII. Nếu các “vọng duyên” dứt, tâm “cuồng vọng” tiêu th́ chơn tâm hiện bày

 

           Này Phú Lâu Na, các ông khi đối với trần cảnh (thế giới, chúng sanh, nghiệp quả) chỉ đừng có khởi vọng niệm phân biệt, th́ tham, sân, si (ba duyên) không khởi. Ba duyên không khởi, thời ba nhơn sát, đạo, dâm chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhă Đạt Đa (mê) ở trong tâm các ông tự hết, mà hết tức là Bồ đề (sáng suốt). Khi ấy chơn tâm của ông thanh tịnh sáng suốt tự hiện bày, khắp cả pháp giới, không cần phải cực nhọc khó khăn tu chứng, hay xin cầu nơi ai cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Bởi đối cảnh khởi tâm phân biệt, nên sanh ra tham, sân, si. V́ tham, sân, si mới có sát, đạo, dâm. Do sát, đạo, dâm nên phải chịu sanh tử luân hồi.

           Tỷ dụ như người khi đối với nữ sắc v.v... chỉ thấy qua không khởi vọng niệm phân biệt th́ chẳng có hại chi. Đến lúc khởi tâm phân biệt đây là xấu, th́ tâm ghét giận nổi lên. C̣n phân biệt kia đẹp th́ tâm tham muốn sanh ra. Tham, sân đă sanh th́ si cũng theo đó mà khởi.

           C̣n khi đối cảnh, ma tâm không khởi phân biệt thời vọng niệm chẳng sanh, vọng niệm không sanh th́ chơn tâm tự hiện.

           Thật là một pháp tu trực chỉ mau thành Phật nhứt, mà cũng là khó nhất. Chúng ta suốt đời chỉ tu theo bốn chữ Phật dạy: “Bất tùy phân biệt” (đối cảnh không khởi phân biệt) cũng chưa chắc đă tu xong

 

***

 

           Tỷ dụ cùng tử, trong túi áo có sẵn hột châu như ư, nhưng không hay biết, nên chịu nghèo hèn vất vả phải đi làm thuê mướn ở các phương xa, kiếm ăn qua ngày tháng, song hột châu ấy không mất. Đến khi gặp người tri thức (quen) chi cho biết “Anh đă sẵn có hột châu vô giá trong túi áo kia”. Lúc bấy giờ anh muốn ǵ được nấy, giàu có vô cùng. Chừng ấy anh mới hối ngộ rằng: hột thần châu này chính ḿnh đă sẵn có, không phải do nơi người mà được.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Lời tỷ dụ này rất hay, Phật chỉ rơ chúng sanh đều sẵn có Phật tánh (chơn tâm). Nhưng v́ không ngộ, nên phải nhiều kiếp làm chúng sanh khổ sở, mà Phật tánh th́ vẫn không mất. Đến khi ngộ được chơn tâm, chứng thành quả Phật, phước trí đầy đủ rồi mới biết rằng: Chơn tâm này chính ḿnh sẵn có, không phải do nơi người mà được.

 

***

 

VIII.  A Nan nghi “tâm bồ đề” do nhơn duyên sanh

 

           Khi đó A Nan đứng dậy lạy Phật, chắp tay bạch rằng: - Đức Thế Tôn nói: “Ba duyên tham, sân, si dứt rồi, thời ba nhơn sát, đạo, dâm không sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhă Đạt Đa trong tâm ông tự hết, mà hết tức là Bồ đề, không phải do nơi người mà đặng”.

           - Bạch Thế tôn, như thế th́ tâm Bồ đề rơ ràng là do nhân duyên sanh rồi. Tại sao đức Như Lai lại bác thuyết nhơn duyên sanh? Không những riêng chúng con là hàng Thinh văn tuổi trẻ hữu học, do nhơn duyên mà tâm được khai ngộ; chính như trong hội này, những vị đă đặng vô lậu, như ông Đại Mục Kiền Liên, ông Xá Lợi Phất và ông Tu Bồ Đề từ ḍng Phạm chí ngoại đạo, cũng do nghe Phật nói nhân duyên, mà tâm được khai ngộ.

           Nay Phật nói: “Tâm Bồ đề không từ nơi nhơn duyên sanh”. Như thế th́ chúng ngoại đạo Câu Xá Ly kia nói về thuyết “tự nhiên” cũng thành đúng lư hay sao? Xin Phật duỗi ḷng đại bi, vạch mở chỗ mê mờ cho chúng con.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông A Nan trước đă nghi nhân duyên và tự nhiên, đều bị Phật phá rồi, nay ông lại c̣n nghi nhân duyên và tự nhiên nữa. Bởi v́ lưới nghi chồng chập nhiều đời, vả lại hàng Thinh văn pháp chấp khó trừ. Cũng như cây chuối, lột được bẹ này, lại bày ra bẹ khác. Lột cho hết bẹ th́ lơm chuối mới bày. Phá nghi cho hết, th́ “chơn tâm” mới hiện.

 

***

 

IX.  Phật định nghĩa chữ nhân duyên tự nhiên và bác

 

           Phật dạy rằng: Này A Nan, như chàng Diễn Nhă Đạt Đa kia, v́ nhân duyên soi gương, cho nên chàng mới sanh ra cuồng. Đến khi hết cuồng th́ tánh không cuồng (tỉnh) tự nhiên sanh ra; có phải cái lư nhân duyên và tự nhiên cùng tột như thế chăng?

           Này A Nan, chàng Diễn Nhă Đạt Đa kia, nếu cái đầu của chàng đă là tự nhiên, th́ lúc nào cũng vẫn tự nhiên, vậy do nhân duyên ǵ nổi cuồng sợ chạy?

           Nếu cái đầu là tự nhiên, v́ nhơn duyên soi gương cho nên mới cuồng, vậy cái đầu cũng vẫn tự nhiên, sao chẳng v́ nhân duyên soi gương mà mất đi. Phải biết: cái đầu vẫn không biến đổi hay mất đi, c̣n “cuồng sợ” tự nó vọng sanh. Vậy th́ cần ǵ phải có nhân duyên soi gương mới sanh ra cuồng?

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này đại ư nói: Nếu nói “chơn tâm tự nhiên” th́ lúc nào cũng vẫn tự nhiên, vậy do nhân duyên ǵ mà nổi vọng. Nếu nói “có nhân duyên nên nổi vọng” sao chẳng do nhân duyên mà chơn tâm kia mất. Vậy th́ biết, chơn tâm không biến đổi, cái “cuồng vọng” tự nó vọng sanh, không cần ǵ phải có nhân duyên.

 

***

 

           - C̣n nói “cái cuồng đó tự nhiên sẵn có”, vậy th́ khi chưa cuồng nó núp ở chỗ nào? 

           Cái đầu đă tự nhiên không có cuồng vọng, vậy v́ sao nổi cuồng vụt chạy?

           Nếu như người ngộ được “cái đầu ḿnh sẵn có”, biết được cái “cuồng” tự nó vọng sanh, th́ thuyết nhân duyên và tự nhiên đều là nói chơi cả.

 

X.  Phật phá chấp nhân duyên để dẫn vào “vô công dụng”

 

           - Thế nên Ta nói: “Ba duyên: tham, sân, si đoạn hết, tức là tâm Bồ đề”. Nếu cái “vọng tâm sanh diệt kia diệt, mà tâm Bồ đề sanh”, như thế cũng c̣n ở trong ṿng sanh diệt. Phải diệt và sanh đều hết, mới được vô công dụng đạo (chỗ cứu cánh).

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này Phật phá chấp nhân duyên để dẫn nhập đạo vô công dụng.

 

***

 

XI.  Phật phá chấp tự nhiên để thành vô hí luận

 

           - Nếu ông chấp “vọng tâm sanh diệt kia diệt rồi, th́ tâm Bồ đề tự nhiên sanh”; như thế cũng c̣n ở trong ṿng sanh diệt, chưa phải thật là tự nhiên. Phải không c̣n sanh và diệt, mới thật là tự nhiên.

           Ông nên hiểu thêm: không phải tự nhiên sanh, không phải nhân duyên ḥa hiệp khởi; ly (rời) cả tự nhiên và nhân duyên ḥa hiệp, mà cái “ly” đó cũng không c̣n nữa, như thế mới phải là chỗ rốt ráo (vô hí luận).

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này là Phật chỉ đến chỗ cứu cánh tuyệt đối, nếu c̣n nói năng phân biệt, th́ chưa phải là tuyệt đối.

 

XII.  Phật quở ông A Nan học nhiều không tu, th́ chẳng có lợi ích ǵ

 

           - A Nan! Ông đối với quả Bồ đề Niết Bàn của Phật hăy c̣n cách xa lắm! Nếu ông không siêng năng, trải qua nhiều kiếp chịu cực nhọc tu hành, th́ dầu cho có nhớ hết nghĩa lư nhiệm mầu trong mười hai bộ kinh của mười phương các đức Phật, nhiều như số cát sông Hằng, cũng chỉ giúp thêm cho ông việc nói giỏi mà thôi, chớ không lợi chi cho ông cả.

           Ông nay luận bàn về thuyết nhân duyên và tự nhiên rất là thông suốt. Người đời khen ông là bực học rộng nghe nhiều. Nếu trong nhiều kiếp ông chỉ chứa chất cái học suông này mà không tu, th́ không bao giờ khỏi được cái nạn Ma Đăng Già kia vậy.

           Nếu cái học và nghe suông của ông đó có lợi th́ cần ǵ phải nhờ đến thần chú Lăng nghiêm của ta, để làm cho nàng Ma Đăng Già kia nguồn t́nh khô cạn, lửa dục tiêu tan, lại tinh tấn tu hành, trong đạo pháp của ta, nàng chứng được quả thánh thứ Ba (A Na Hàm). Khi đó ông mới được giải thoát.

 

XIII.  So sánh để khuyến khích tu hành


           A Nan! Ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ các nghĩa lư nhiệm mầu của Như Lai, nhưng không bằng một ngày tu tập nghiệp vô lậu, xa ĺa hai cái khổ thương ghét (tham, sân) ở thế gian.

           Bằng chứng rơ ràng, như nàng Ma Đăng Già nguyên trước kia là kẻ dâm nữ, do nhờ thần chú của ta, mà nguồn t́nh khô cạn, lửa dục tiêu tan, lại xuất gia tu hành làm Tỳ kheo ni.

           C̣n bà Gia Du Đà La là mẹ của La Hầu La, v́ biết được nhân đời trước, do tham ái mà nhiều đời phải chịu khổ, nên một niệm tu theo nghiệp lành vô lậu, mà được  ra khỏi t́nh ái ân triền phược và đặng thọ kư.

           Kẻ phụ nhân tu hành c̣n được như thế, huống chi các ông là nam tử, đă học rộng nghe nhiều mà trở lại chấp chỗ thấy, nghe suông, chẳng biết tiến tu, sao tự khinh ḿnh đến thế!

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này Phật quở trách rất là thống thiết! Nếu chỉ học nhiều mà không tu th́ chẳng có lợi ích ǵ. Chúng ta đọc đoạn này chớ nên nghĩ rằng: “Phật chỉ quở một ḿnh ông A Nan”, mà chính Ngài quở trách chung tất cả chúng ta vậy.
 

LƯU Ư: Từ trước đến đây, Phật nói về phần lư, từ đây về sau, Phật mới chỉ về đường lối tu hành

Trở Lên

Bài Thứ Mười

 

Mục Lục 
I. A Nan thuật lại chỗ ḿnh đă ngộ và thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tu hành để nhập chơn tâm
II. Phật chỉ dạy phương pháp tu
III. Nghĩa quyết định thứ nhứt
IV. Nghĩa quyết định thứ hai
V. V́ vọng nổi lên nên chơn tâm bị ẩn
VI. Xoay vọng về chơn th́ sáu căn được tự tại
VII. Dẫn chứng các vị thấy, nghe, hay, biết được tự tại, không c̣n bị cuộc hạn nơi căn
VIII. A Nan nghi: Các giác quan hiện tiền là vọng, tại sao Phật lại dạy nương nơi đó làm nhơn địa tu hành, để chứng đặng quả Phật chơn thật
IX. Phật bảo đánh chuông để chứng nghiệm “tánh nghe” thường c̣n
X. Phật chỉ khi ngủ, cái “nghe” cũng không mất

 
I. A Nan thuật lại chỗ ḿnh đă ngộ và thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tu hành để nhập chơn tâm


           Ông A Nan và đại chúng được Phật dạy bảo rất tường tất, nên các điều nghi lầm đă trừ hết, ngộ được chơn tâm (thật tướng), nhưng chưa biết làm sao chứng nhập, nên các ông cúi đầu lạy Phật, chắp tay kính cẩn thưa rằng:

           Bạch Thế Tôn, Ngài đă dùng đủ phương tiện dẫn dắt chúng con ra khỏi sông mê bể khổ. Hôm nay, chúng con tuy ngộ được chơn tâm của ḿnh, biến khắp cả mười phương thế giới, nhưng c̣n bị Như Lai quở trách, học nhiều mà không tu, chẳng bẳng người lo tu tập.

           Nay chúng con cũng như người bần cùng vất vả, được vị Thiên Vương ban cho cái nhà lầu tốt đẹp, song chưa biết làm sao vào nhà. Cúi xin đức Như Lai chỉ dạy cho chúng con, được vào tri kiến của Phật (chứng nhập chơn tâm).

 

II. Phật chỉ dạy phương pháp tu

 

           Phật dạy A Nan và đại chúng: Các ông nếu phát tâm Bồ đề, đối với các pháp môn tu hành chí quyết tăng tấn, tâm không giải đăi th́ khi mới phát tâm, trước phải phân biệt rành rơ hai nghĩa quyết định.

 

III. Nghĩa quyết định thứ nhứt


           Này A Nan! Các ông muốn bỏ Tiểu thừa Thinh văn, tu theo Đại thừa Bồ tát, vào tri kiến của Phật, th́ trước phải quan sát cái nhơn địa phát tâm cùng với quả vị sẽ chứng là đồng hay khác?

Nếu các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt làm nhơn tu hành, mà mong cầu cho đặng quả Phật, thường c̣n không sanh diệt th́ không thể được. Đây là điều quyết định thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn trước Phật đă dạy: Nếu dùng vọng tâm làm tu nhơn, mà muốn đặng quả thường trụ, th́ như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trải qua bao nhiêu kiếp cũng không thể được. Hành giả phải an trụ nơi chơn tâm làm nhơn địa tu hành, th́ mới đặng quả Phật bất sanh bất diệt.

 

***

 

           A Nan! Ông hăy xét coi: trong thế gian những vật ǵ có làm ra, đều phải hoại diệt, chứ chưa từng nghe cái hư không có hoại diệt bao giờ, v́ hư không không phải là vật bị làm ra vậy (hư không dụ chơn tâm, các vật là dụ vọng tâm có sanh diệt)

           Xét lại trong thân ông, những vật cứng dẻo (da, thịt, gân, xương) là đất; những vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ) là nước; chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa; những vật lưu động (hơi thở ra vào) là thuộc về gió. Do bốn món này nó phiền phược và phân chia cái chơn tâm của ông, thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thỉ chí chung năm lớp ngầu đục (ngũ trược).

           Tỷ dụ như nước trong sạch có người lấy bụi đất quăng vào, th́ đất sẽ mất chất cứng, c̣n nước mất chất trong sạch, trở thành ngầu đục, nên gọi là ô trược.

           A Nan! Nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết (các giác quan) trở lại để hiệp với bốn đức Niết bàn của Như Lai: Thường, lạc, ngă, tịnh, th́ trước ông phải lựa ra cái gốc rễ sanh tử (vọng tâm) và y theo chơn tâm thanh tịnh viên măn bất sanh bất diệt làm nhơn địa tu hành.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ c̣n ở trong ṿng mê nên gọi là các giác quan: thấy, nghe, hay, biết; đến khi ngộ rồi th́ các giác quan này trở lại thành bốn đức Niết bàn: thường, lạc, ngă, tịnh.

           Chúng ta cũng nên phân biệt cho rơ nghĩa: 1. chơn tâm, 2. các giác quan, 3. vọng niệm phân biệt. Như nước biển trong veo, (dụ chơn tâm) chảy vào các sông ng̣i lẫn lộn bùng đục (dụ cho chơn tâm lưu lộ nơi các căn, thành các giác quan; “đục” là dụ c̣n ở nơi mé) nổi sóng ba đào (dụ cho vọng niệm phân biệt)

 

***

 

           Các ông hăy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chơn tâm thanh tịnh không sanh diệt; phải lấy chơn tâm không sanh diệt này làm nhơn địa tu hành, th́ sau mới chứng được quả Phật thường trụ.

           Cách tu hành cũng như lóng nước. Nước đục để yên tịnh trong một cái b́nh, để lâu th́ những bụi cát từ từ ch́m lặn, mà nước trong hiện ra; hễ càng yên tỉnh th́ nước càng trong. Đây là dụ cho giai đoạn thứ nhứt, khi mới hàng phục được phiền năo khách trần (phiền năo vừa lặng). Đến chừng lọc bỏ cặn đục chỉ c̣n toàn là nước trong, là dụ cho giai đoạn thứ hai, khi đă đoạn trừ căn bản vô minh.

           Đến khi chỉ c̣n hoàn toàn là nước trong, th́ dù lắc cho mấy nó cũng vẫn trong. C̣n khi đoạn được căn bản vô minh, chỉ c̣n chơn tâm thanh tịnh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu có tạo tác thi vi làm đủ mọi việc, song cũng đều là chơn, vẫn hiệp với đức tánh thanh tịnh mầu nhiệm của Niết bàn,  không c̣n bị phiền năo nhiễu loạn.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này hay lắm; Phật dạy lối tu rất rơ ràng và thật tế. Hiệp với đoạn trước Phật dạy: “Khi đối cảnh không khởi phân biệt, th́ vọng niệm chẳng sanh. Vọng niệm không sanh thời chơn tâm tự hiện”.

           Cũng như nước đứng trong, th́ cặn cáu lóng ch́m. Lóng càng lâu th́ nước càng trong. Đến khi dứt sạch căn bản vô minh, chỉ c̣n toàn thể chơn tâm, th́ hành động thi vi chi cũng đều là thanh tịnh. Nên kinh nói: “Như Lai án túc hải ấn phát quang v.v...” (Phật vừa để chơn, th́ biển trong in ánh sáng). Như nước đă lọc bơ cặn rồi th́ lắc mấy cũng vẫn trong. Đoạn này cũng chỉ rơ cái nghĩa “thành Phật rồi không trở lại làm chúng sanh”.

           Các đạo khác tu hành dẫu cao siêu cho mấy, chẳng qua cũng như nước lóng mà chưa lọc bỏ được cặn. Lâu lâu phiền năo nổi lên, th́ phải đọa trở lại, nên gọi là hữu lậu (c̣n sa rớt).

 

***

 

IV. Nghĩa quyết định thứ hai

 

           A Nan, các ông phát tâm dơng mănh, quyết định dẹp trừ các tướng hữu vi, cầu quả đại thừa, th́ cần phải xét rơ gốc rễ của phiền năo: Từ vô thỉ đến nay, cái nào là phát nghiệp vô minh (bất giác vọng động) cái nào nhuận sanh vô minh (ái, thủ) cái ǵ tạo (lục thức), cái ǵ lănh thọ (bát thức). Đây là nghĩa quyết định thứ hai.

           Các ông tu đạo Bồ đề, nếu không xét rơ gốc rễ của phiền năo, th́ đối với căn và trần hư vọng này, không thể biết được cái “điên đảo” ở chỗ nào. Cái chỗ ở c̣n không biết thời làm sao hàng phục được giặc phiền năo để chứng quả Phật.

           Các ông hăy xem trong thế gian, những người mở gút, nếu họ chẳng thấy được mối, th́ không mong ǵ mở được. Chưa từng nghe cái hư không bị ai mở được, v́ hư không vô h́nh chẳng có gút và mở vậy (hư không dụ cho chơn tâm).

           Ông nên hiểu: Hiện tiền sáu căn của ông đây: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư, chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức), đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các ông cùng tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay bị triền phược trong ṿng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cơi được.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ sáu căn làm mai mối, dẫn chúng sanh ra sáu thức là lục tặc, cướp hại chơn tánh. Nghĩa là v́ căn đối với cảnh, khởi vọng niệm phân biệt, nên chơn tâm phải bị mờ. Cũng như gió xao động, cặn cáu nổi lên, nên tánh nước trong phải ẩn.

 

***

 

V. V́ vọng nổi lên nên chơn tâm bị ẩn

 

           Này A Nan, sáu căn của ông như vậy, do vô minh vọng động nổi lên, nên chơn tâm bị ẩn. Từ đây về sau, mỗi khi chiếu soi th́ gồm cả vọng đều phát.

           Bởi thế nên rời tối và sáng, thời mắt ông không thấy, rời động và tịnh th́ tai ông không nghe, rời thông và nghẹt th́ mũi ông không ngửi, rời các vị ra thời lưỡi ông không nếm, rời các xúc trần th́ thân ông không biết, rời cả pháp trần th́ ư ông không phân biệt.

 

VI. Xoay vọng về chơn th́ sáu căn được tự tại

 

           Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào th́ các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không cùng với trần cảnh gút chặt, trong thâu phục phiền năo trở lại với chơn tâm sáng suốt, th́ năm căn bị gút chặt kia cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ sáu căn tự tại, thay nhau cần dùng, các giác quan: thấy, nghe, hay, biết, không c̣n bị cuộc hạn nơi các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi v.v... chỉ nương các căn phát ra tác dụng; không cần có trần cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe, hay, biết.

 

VII. Dẫn chứng các vị thấy, nghe, hay, biết được tự tại, không c̣n bị cuộc hạn nơi căn

 

           A Nan! Ông đă thấy trong hội này, như ông A Na Luật Đà không có con mắt mà vẫn thấy. Rồng Bạt Nan Đà không lỗ tai mà vẫn nghe. Thần nữ Căn Dà không lỗ mũi mà ngửi được mùi. Ông Kiều Phạm Bác Đề cái lưỡi không phải lưỡi người, mà biết được các món ăn của người. Ông Thần Thuấn Nhă Đa không có thân mà vẫn biết xúc. Ông Ma Ha Ca Diếp tu diệt tận định, dứt trừ ư căn đă lâu, mà vẫn phân biệt được rơ ràng.

           A Nan! Hiện nay các căn của ông nếu hoàn toàn gỡ hết cái gút chặt nơi trần cảnh (không theo trần cảnh phân biệt) trong chinh phục được phiền năo, trở về với chơn tâm rồi th́ hiện tiền thân căn và thế giới đây đều không c̣n; cũng như nước nóng băng tan, ông liền chứng được quả Phật.

           A Nan! Như người thế gian, cái thấy của họ chỉ gom ở con mắt. Nếu bảo họ nhắm mắt lại, th́ hiện tiền tối đen, sáu căn mờ mịt, đầu chân in nhau. Người kia lấy tay rờ khắp cả thân thể, tuy mắt họ không thấy, mà cũng vẫn biết đâu là đầu và đâu là chân; cái hiểu biết đồng nhau (đây cũng là một bằng chứng: các giác quan chẳng bị cuộc hạn nơi căn và trần).

           A Nan, nhơn sáng mới thấy, nếu tối thời không thấy. Nay không cần sáng mà cũng thấy biết, như thế th́ cái tối kia không thể làm mờ (mất) cái “thấy biết” của ông được. Căn và trần các vọng đă tiêu rồi, th́ liền trở lại với chơn tánh.

 

VIII. A Nan nghi: các giác quan hiện tiền là vọng, tại sao Phật lại dạy nương nơi đó làm nhơn địa tu hành, để chứng đặng quả Phật chơn thật

 

           A Nan thưa: Bạch Thế tôn, như lời Phật dạy: “Muốn cầu quả Phật thường c̣n, th́ cái nhơn địa phát tâm tu hành phải chơn thật, mới chứng được quả vị chơn thật”.

           Bạch Thế tôn! Bồ đề, Niết bàn, Chơn như, Pháp tánh, Yêm ma la thức, Không Như Lai tạng và Đại viên cảnh trí, bảy danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường c̣n không hoại.

           C̣n cái thấy, nghe, hay, biết, các giác quan của con đây, nếu rời các trần cảnh hiện tiền: tối, sáng, động, tịnh, v.v…, thời không c̣n thấy, nghe, hay, biết nữa. Quanh quẩn tới lui, chín chắn suy t́m, th́ cái tâm của con hoàn toàn  không chơn thật. Tại làm sao Phật dạy lấy cái hư vọng đoạn diệt này làm nhơn tu, để cầu quả Phật thường c̣n không sanh-diệt cho được. Vậy th́ lời nói của Phật trước sau trái nhau, làm sao gọi là “Như Lai nói thật”, xin đức Từ tôn, từ bi vén mở chỗ mê mờ cho chúng con.

 

IX. Phật bảo đánh chuông để chứng nghiệm “tánh nghe” thường c̣n

 

           Phật dạy: A Nan, ông tuy học rộng, nghe nhiều, nhưng các phiền năo hữu lậu (mê lầm) chưa hết, nên ông chỉ biết suông cái tên “điên đảo”. Đến lúc cái “điên đảo” thật hiện tiền, th́ ông lại không biết. Như thế th́ sự tin hiểu của ông chưa được chắc chắn. Tôi nay đem những việc thường trong đời, để trừ các nghi lầm cho ông.

 Khi đó Phật liền bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng: 

           -Ông có nghe không?

           A Nan thưa: Nghe.

           Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi:

           Ông có nghe không?

           A Nan thưa: Không nghe.

           Phật lại bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông nữa và hỏi: Ông có nghe không?

           A Nan đáp: Nghe.

           Phật hỏi: Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?

           A Nan thưa: V́ đánh chuông có tiếng ngân, nên con nghe, đến khi tiếng chuông hết ngân th́ con không nghe.

           Phật dạy: A Nan! Khi tiếng chuông hết ngân, ông nói rằng: “không nghe”; nếu ông thật không có “cái nghe” th́ ông đồng như cây đá, tại sao  khi đánh tiếng chuông thứ hai, ông lại có nghe?

           Vậy cho biết: cái “tiếng” (cảnh) khi có khi không, chớ cái “nghe” (tâm) của ông lúc nào cũng có. Nếu cái “nghe” của ông thật không, th́ cái ǵ biết được “không nghe” đó?

           Thế nên ông phải biết: cái “tiếng” đối với cái “tiếng” nó tự sanh và diệt, chớ ở cái “nghe” (tâm) của ông, không phải v́ tiếng sanh mà nó “có”, tiếng diệt mà nó “không”. Tại ông điên đảo hôn mê, nhận cái “thường” (tánh nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chớ không phải rời sáu trần cảnh: sắc, thinh, hương, v.v... mà các giác quan thấy, nghe, hay, biết của ông không có.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đây là lần thứ bảy, Phật chỉ rất rơ ràng các giác quan: thấy, nghe v.v... là tâm và thường c̣n.

 

***

 

X. Phật chỉ khi ngủ, cái “nghe” cũng không mất

 

           Bằng chứng thứ hai: Như người đang ngủ, nằm trên giường chơng, trong nhà có người giă gạo, khi đó người ngủ kia mơ màng, tưởng là tiếng trống hoặc tiếng chuông, đến chừng thức dậy rồi mới nhận rơ đó là tiếng chày giă gạo.

           A Nan! Người ngủ kia, mặc dù đối với cảnh vật hiện tiền, họ không thấy biết, mà cái “nghe” của họ cũng không mất.

           Dù cho thân thể ông đến khi già chết tiêu tan, mà cái “tánh nghe” này cũng không v́ ông già, chết đó mà tiêu diệt. Bởi chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, cứ theo các trần cảnh, khởi vọng niệm phân biệt lăng xăng, chưa từng ngộ được chơn, tâm thường c̣n của ḿnh

           V́ cứ nương theo vọng niệm phân biệt, chẳng nương theo chơn tâm thường trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong ṿng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với chơn tâm thường trụ. Khi chơn tâm thanh tịnh sáng suốt hiện tiền rồi, th́ căn thân, trần cảnh và vọng trần và tâm cấu nhiễm đă tiêu rồi, lúc bấy giờ lo ǵ chẳng thành quả Phật vô thượng.

Trở Lên

Bài Thứ Mười Một:

 
Ngài A Nan hỏi Phật: Trói Cột Ở chỗ Nào và Làm Sao Mở được

Mục Lục 

I. Ngài A Nan hỏi Phật: Trói cột ở chỗ nào và làm sao mở được? 
II. Phật chỉ chỗ trói cột (gút) 
III. A Nan hỏi: Tại sao bị sanh tử luân hồi hay được tự tại giải thoát cũng v́ sáu căn? 
IV. Phật nói bài kệ tóm lại nghĩa trên 
V. Vọng hết th́ chơn hiện
 
 

I. Ngài A Nan hỏi Phật: trói cột ở chỗ nào và làm sao mở được?

 

           A Nan thưa: Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy về cái nghĩa thứ hai là phải biết rơ gốc rễ của phiền năo ở chỗ nào, mới có thể trừ được. Cũng như người mở gút, nếu không biết mối gút ở đâu th́ không bao giờ mở được.
           Bạch Thế tôn! Chính thế, chúng con đây cũng vậy, từ vô thỉ đến nay, cùng với các vô minh chung (đồng) sanh và chung diệt; tuy mang danh xuất gia, học rộng nghe nhiều, thật ra cũng như người bị bệnh rét (làm cử) cách ngày (giác thời tự ngộ, xúc cảnh hoàn mê).

           Cúi xin đức Như Lai thương xót những kẻ trầm luân hiện tại cũng như vị lai chỉ dạy cho ở nơi thân tâm này, chỗ nào triền phược (gút), và làm sao mở được?

 

II. Phật chỉ chỗ trói cột (gút)

 

           Khi đó Phật cùng với mười phương chư Phật, đều thương xót A Nan và đại chúng cùng các chúng sanh đời sau, nên trên đảnh các Ngài đồng phóng hào quang quư báu chiếu khắp tất cả, đồng gọi A Nan cùng đại chúng và dạy rằng:
           - Nay các ông muốn biết cái “câu sanh vô minh” (vô minh chung cùng sanh từ vô thỉ đến nay) để trừ, và “quả vô thượng Bồ đề” để tu chứng, vậy nay ta sẽ chỉ rơ cho các ông.

           Này A Nan, khiến cho các ông nhiều kiếp sanh tử luân hồi, chỉ v́ sáu căn, mà làm cho các ông chứng được đạo quả Bồ đề an vui giải thoát, cũng chỉ v́ sáu căn của các ông mà thôi.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Mười phương các đức Phật, đồng phóng hào quang, đồng dạy như vậy, là để cho A Nan và đại chúng đều biết: đây là một phương pháp duy nhứt, không những một ḿnh đức Thích Ca, mà cả mười phương chư Phật cũng đồng chỉ dạy như thế.

 

***

 

III.  A Nan hỏi: Tại sao bị sanh tử luân hồi hay được tự tại giải thoát cũng v́ sáu căn?

 

           Ông A Nan đă nghe Phật chỉ dạy, nhưng chưa hiểu nên kính cẩn hỏi Phật: 

           - Bạch Thế tôn, tại sao làm cho chúng con nhiều kiếp sanh tử luân hồi cũng v́ sáu căn, c̣n được an vui giải thoát cũng chỉ do sáu căn, chứ không phải do vật ǵ khác?

           Phật dạy rằng: Căn và trần đồng một thể (tâm), triền phược và giải thoát không hai (mê th́ triền phược, ngộ th́ giải thoát). Các thức hư vọng, cũng như hoa đốm giữa hư không.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Căn trần không lỗi mà lỗi tại vọng thức phân biệt, song thức th́ hư vọng không có thật thể như hoa đốm giữa hư không.

           Cũng đồng căn và trần này, song phàm phu v́ mê, khởi vọng thức phân biệt ngă, pháp, nên bị triền phược, gọi là kiết (gút). Thánh nhơn cũng đồng căn trần này, song v́ giác ngộ không khởi phân biệt chấp thật có ngă, pháp nên được giải thoát, thế gọi là (mở).

 

***

 

           A Nan, v́ có trần cảnh, nên ở nơi căn mới khởi ra phân biệt. V́ đă có cái năng phân biệt ở nơi căn, nên mới hiện ra cái tướng bị phân biệt là cảnh. Căn (kiến) và cảnh (tướng) đối đăi nhau vọng hiện, chớ không thật có (vô tánh). Cũng như h́nh cây lau gác nhau.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ các cây lau gác nhau, nên ở xa xem như có h́nh người hay vật. Cái h́nh này không thật. Đây là dụ cho căn trần hư huyễn không thật, v́ đối đăi nhau nên vọng hiện ra mà thôi.

 

***

 

           - Thế nên, khi thấy, nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. C̣n khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn. Ở trong chơn tâm thanh tịnh, không có dung chứa vật ǵ cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đoạn này Phật dạy, khi sáu căn đối với sáu trần cảnh, nếu khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc của vô minh triền phược (trói cột). Bởi thế nên Phật nói: “v́ sáu căn làm cho các ông sanh tử luân hồi”. Trái lại, khi sáu căn đối với sáu trần, mà không khởi vọng niệm phân biệt đó là Niết bàn, là giải thoát (mở gút), nên Phật nói: “Làm cho các ông được an vui giải thoát cũng v́ sáu căn”.

 

***

 

IV.  Phật nói bài kệ tóm lại nghĩa trên

 

           Khi đó Phật muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói bài kệ ư nghĩa như vầy:

 

NGUYÊN VĂN CHỮ HÁN

 

Chơn tánh hữu vi không

Duyên sanh có như huyễn

Vô vi vô khởi diệt

Bất thật như không hoa

 

Ngôn vọng hiển chư chơn

Vọng, chơn đồng nhị vọng

Do phi chơn phi chơn

Vân hà kiến sở kiến

 

Trung gian vô thật tánh

Thị cố nhược giao lô

Giải kết đồng sở nhơn

Thánh phàm vô nhị lộ

 

Nhữ quán giao trung tánh

Không hữu nhị câu phi

Mê hối tức vô minh

Phát minh tiện giải thoát

 

Giải kết nhơn thứ đệ

Lục giải nhứt diệc vong

Căn tuyển trạch Viên Thông

Nhập lưu thành Chánh giác

 

Đà na vi tế thức

Tập khí thành bộc lưu

Chơn phi chơn khủng mê

Ngă thường bất khai diễn

 

Tự tâm thủ tự tâm

Phi huyễn thành huyễn pháp

Bất thủ vô phi huyễn

Phi huyễn thường bất sanh

 

Huyễn pháp vân hà lập

Thị danh diệu liên hoa

Kim cang vương bảo giác

Như huyễn tam ma đề

 

Đàn chĩ siêu vô học

Thử A tỳ đạt ma

Thập phương Bạc Già phạm

Nhứt lộ Niết bàn môn

 

DỊCH NGHĨA BÀI KỆ

 

           Xứng theo chơn tánh (chơn tâm) th́ các pháp hữu vi (vọng) không thật có, do nhơn duyên sanh, cũng như vật huyễn thuật. 

           Xứng về chơn tánh th́ vô vi (chơn) cũng không thật có, v́ nó không sanh diệt, như hoa đốm giữa hư không. 

           Nói hữu vi là vọng, để hiển vô vi kia là chơn. V́ đối đăi nhau mà có, nên “chơn” và “vọng” cũng đồng vọng cả. Đến lư này, c̣n không thể nói là “chơn” hay “phi chơn”, th́ làm sao gọi nó là cái “thấy” (căn) hay cái “bị thấy” (trần) được. V́ nó như vật huyễn, chẳng có thật tánh, cũng như h́nh cây lau gác. 

           Giải thoát hay triền phược đồng do sáu căn. Được chứng Thánh hay bị đọa phàm cũng bởi sáu căn, chớ không có con đường nào khác. Các ông cứ xem h́nh cây lau gác kia, nói có hay nói không đều không thể được. Hễ mê muội là vô minh, c̣n giác ngộ th́ giải thoát. 

           Cột gút lại hay mở ra, đều phải theo thứ lớp. Khi sáu gút (sáu căn) mở rồi, th́ cái tên một cũng không c̣n (v́ không c̣n đối đăi, nên không thể kêu gọi). Các ông lựa được căn viên thông tu hành, th́ mau đặng thành quả Phật. 

           Thức A Đà Na (thức thứ tám) rất là tinh tế, các chủng tử trong thức này nó sanh diệt rất vi tế, như gịng nước chảy mau. Ta đối với phàm phu và tiểu thừa không hề giảng nói (thức này) v́ sợ chúng mê lầm chấp là “chơn” hay là “vọng”, đều có hại cả. 

           Tự nơi tâm các ông, trở lại chấp lấy tự tâm các ông. Chơn tâm không phải huyễn mà trở lại thành hư huyễn. Nếu đối với các “chơn” mà các ông không sanh tâm chấp thủ; với cái “chơn” kia hăy c̣n không sanh, huống chi là cái “hư huyễn” làm ǵ có được.

           Đây là con đường duy nhứt của mười phương các đức Phật tu hành đến cảnh Niết bàn. Pháp này tên là Diệu Liên Hoa, cũng tên Kim Cang Vương Bảo Giác và cũng tên là Như huyễn Tam ma đề. Chỉ tu trong giây phút th́ được quả vô học.

           Khi đó A Nan và đại chúng nghe Phật nói bài kệ nghĩa lư thâm trầm, nên tâm trí mỗi người đều trở nên sáng suốt, được lợi ích chưa từng có.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông A Nan đă mấy lần cầu Phật chỉ dạy phương pháp nào mười phương các đức Phật tu hành để được thành đạo chứng quả. Điều ấy, Phật chỉ dạy đến đây đă tường tận. 

Từ trước đến đây là nói về phần đốn tu và đốn chứng. Từ đây về sau Phật mới dạy về phần tiệm tu.

 

***

 

V.  Vọng hết th́ chơn hiện

 

           - Này A Nan, tùy ông lựa chọn sáu căn mà tu hành, nếu sự kiết phược ở nơi căn của ông trừ rồi, th́ các trần tướng kia, tự diệt; khi các vọng đă tiêu hết, th́ đó là “chơn” chứ ǵ nữa!
           A Nan, ông hăy xem cái khăn đă cột sáu gút đây, có thể đồng một thời mở được hết sáu gút được không? 

           A Nan thưa: - Bạch Thế tôn, sáu gút tuy đồng một cái khăn, song khi cột, đă tuần tự mà cột, th́ khi mở cũng phải theo thứ lớp mà mở, không thể đồng một thời mở được hết. 

           Phật dạy: - Sáu căn của ông khi giải trừ cũng phải như vậy. Mở gút đầu tiên là phá trừ ngă chấp (chấp ta) trước chứng đặng nhơn không. Tiến đến từng thứ hai là phá trừ pháp chấp, sau mới chứng đặng pháp không. Ngă, pháp đều không sanh, thế mới gọi là Bồ tát đặng Vô sanh nhẫn (an nhẫn nơi nhơn, pháp đều không sanh)

Trở Lên

Bài Thứ Mười Hai: 
Ngài A Nan hỏi Phật pháp tu viên thông

 

Mục Lục

I. Ngài A Nan hỏi Phật pháp tu viên thông.
II. Phật hỏi hai mươi lăm vị Thánh, do tu pháp môn ǵ mà được chứng quả.
III. Hai mươi lăm vị Thánh đều thuật lại pháp tu của ḿnh được chứng đạo quả.
IV. Ngài Quán Âm kể lại sự kết quả.

 

I. Ngài A Nan hỏi Phật pháp tu viên thông

 

           Ngài A Nan và đại chúng nhờ Phật khai thị trí tuệ sáng suốt, tâm hết nghi lầm, nên đồng lạy Phật, quỳ gối chắp tay và kính cẩn thưa rằng:
           - Bạch Thế tôn, chúng con là kẻ phiêu linh nhiều kiếp bần cùng cô quạnh, không biết nhờ có hạnh phúc ǵ mà được làm em của Phật, cũng như đứa hài nhi mất sữa đă lâu, nay lại gặp được từ mẫu! 

           Bạch Thế tôn, hôm nay chúng con thâm tâm đă được khai ngộ, hết những nghi ngờ, nghe Phật chỉ dạy hiểu được cái nghĩa “sáu gút mở th́ cái tên một gút cũng không c̣n”. Nhưng chúng con c̣n chưa hiểu “tu căn nào mới được viên thông”. Cúi xin đức Như Lai, duỗi ḷng đại bi khai thị cho chúng con lần cuối cùng, may ra ở cơ hội này, con trở lại với bản tâm thanh tịnh của ḿnh, được thành đạo quả.

 

II.  Phật hỏi hai mươi lăm vị Thánh, do tu pháp môn ǵ mà được chứng quả

 

           Khi đó đức Phật hỏi toàn thể đại chúng: - Các ông là người tu hành trong đạo của ta, vậy khi các ông mới phát tâm, đối với 18 giới (sáu căn, sáu trần và sáu thức) do tu theo phương tiện nào mà được thành đạo quả?


LƯỢC GIẢI

 

           Tuy nói 18 giới, chớ tóm lại th́ có 6 căn. Do sáu căn tu hành mà được thành đạo quả. Nên trước kia Phật nói: “Sanh tử luân hồi hay an vui giải thoát, cũng chỉ tại sáu căn của các ông” (v́ muốn cho độc giả hiểu qua những pháp tu của 24 vị Thánh, nên lần tái bản quyền Đại cương Lăng nghiêm này, chúng tôi có trích một đoạn (từ trang 166 đến 201) trong bản kinh Lăng nghiêm do ông Tâm Minh dịch in thêm vào đây, để giúp độc giả nghiên cứu)

 

***

 

III.  Hai mươi lăm vị Thánh đều thuật lại pháp tu của ḿnh được chứng đạo quả


1- DO THANH TRẦN CHỨNG A LA HÁN 

 

           Ông Kiều Trần Như trong hàng năm vị Tỳ kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dạy bạch Phật rằng: - Con ở nơi Lộc Uyển và Kê Viên, gặp đức Như Lai khi mới thành đạo; nhân nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà tỏ ngộ lư Tứ đế. Phật hỏi các Tỳ kheo, th́ con trước hết được gọi là “hiểu”; Như Lai ấn chứng cho con tên là A Nhă Đa. Con do nơi âm thanh vi diệu viên măn mà thành bực A La Hán. Nay Phật hỏi pháp tu viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, âm thanh là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Viên dung thông nhập Như lai tạng diệu chơn như tánh của các pháp nên gọi là viên thông. Bất cứ tu pháp nào mà chứng được chơn như của tất cả Pháp th́ đều gọi pháp đó là viên thông.

           Trong các đoạn trước, Phật đă chỉ rơ cho chúng ta thấy: sanh tử luân hồi do nơi sáu căn, mà được an vui diệu thường cũng do nơi sáu căn; sáu căn tuy vọng, nhưng không thể ngoài sáu căn mà t́m cái chơn được, v́ rằng trong khi đang mê, chúng ta đem sáu căn này mà thấy nghe cảm xúc; đến khi giác ngộ chúng ta, chúng ta cũng chỉ đem sáu căn này mà tiếp xúc với trần cảnh. Vậy mà khi mê th́ các căn bị ràng buộc nên gọi là gút (kiết); đến khi ngộ th́ sáu căn được viên thoát nên gọi là mở. 

           V́ sao mà thành ra cột gút, và làm sao để mở gút th́ trước Phật đă dùng phương tiện cột khăn mở khăn để chỉ dạy rơ ràng. Đồng một tánh Như Lai tạng mà v́ nguyên do mê lầm nên hiện ra sáu căn ràng buộc. Bởi thế nên nếu nói rằng vọng, th́ căn nào cũng vọng; mà nói rằng chơn, th́ căn nào cũng chơn. Nếu một căn được chơn th́ tất cả các căn đều chơn. Lúc bấy giờ các căn tự tại không c̣n bị bó buộc trong phạm vi: mắt chỉ thấy sắc, tai chỉ nghe tiếng, mũi chỉ ngưởi mùi v.v... mà trái lại sáu căn tự tại thọ dụng. Vậy nên tu nhăn căn, không phải là liệt, tu nhĩ căn không phải là thắng v.v... cho đến bất luận tu một căn nào hay một món đại nào cũng như nhau cả, không ǵ hơn chẳng ǵ kém, miễn làm sao thấy rơ thật tánh của một pháp th́ được viên ngộ viên thoát. Ông A Nan tuy đă thâm ngộ cái ư nghĩa viên ngộ viên tu ấy, nhưng hiện tiền chưa rơ sáu căn, căn nào thích hợp với tŕnh độ của ḿnh và chúng sanh ở cơi Ta bà này, nên cầu Phật chỉ bày. Phật liền gạn hỏi trong đại chúng, các vị Bồ tát và các vị A La Hán đă chứng quả vô học, để xem mỗi người, khi ban sơ phát tâm, tu theo phương tiện ǵ mà đặng ngộ đạo. Một điều mà chúng ta nên chú ư là Phật gạn hỏi chỗ ngộ đạo của các bậc Thánh hiền tăng, đây không phải để so sánh chỗ hơn kém, mà cốt để chứng minh lời Phật đă dạy trước, để chỉ rơ lối tu viên đốn của Đại thừa, khác lối tu tiêm thứ của Nhị thừa, và để cho ngài A Nan nhân đó, tự lựa  căn nào viên thông thích hợp với tŕnh độ của ḿnh mà tu để được giải thoát. Không riêng ông A Nan, nếu chúng ta sau khi nghe hiểu và biết lựa lấy một pháp thích hợp để tu hành, th́ sẽ đặng ngộ nhập viên thông tam muội.

           Ông Kiều Trần Như cùng bốn thầy Tỳ kheo (5 ông này theo Phật tu khổ hạnh và được Phật hóa độ trước nhứt) nhân âm thanh của Phật thuyết pháp mà ngộ lư Tứ đế, chứng viên thông; nên đối với pháp môn thích hợp làm cho ông chứng ngộ, th́ thanh trần là hơn cả. Thứ nhứt nhờ âm thanh của Phật giảng về Tứ đế mà ngộ được lư Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo). Thứ hai ông quan sát rơ thấu thật tướng của âm thanh, mà ngộ đạo. Thật tướng của âm thanh là vô tướng, không đọa về nhân duyên, tự nhiên, ḥa hợp, phi ḥa hợp như trước Phật đă chỉ dạy; nó thường vắng lặng, cùng khắp 10 phương, theo nghiệp cảm, theo tâm lượng của chúng sanh mà phát hiện, nên tuy khi chúng ta không đem tâm phân biệt, mà khi ấy tiếng cũng chẳng phải không, chẳng phải các chúng sanh khác cũng tuyệt không nghe thấy như ta. Xưa nay chúng ta chỉ phân biệt theo giả ảnh của thanh trần sanh diệt đối đăi với ta, nên bị thống khổ theo khi có tiếng, hay khi không có tiếng, chứ chưa hề lắng ḷng định trí rời vọng trần để quán thật tánh của những tiếng động tịnh là từ đâu, nên cũng chưa hề liễu nhập tánh âm thanh vốn là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng. Thật tướng âm thanh đă như vậy, th́ thật tướng trí do âm thanh thuyết minh cũng vậy.

 

***

 

2- DO SẮC TRẦN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Ưu Ba Ni Sa Đà liền từ chỗ ngồi đứng dây đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng:

           - Con gặp Phật lúc mới thành đạo, nhơn quán tướng bất tịnh, sanh tâm rất nhàm chán xa ĺa; từ tướng bất tịnh đến tướng xương trắng, vi trần rồi tan về hư không, sắc không, không hai, ngộ thật tánh các sắc, thành vô học đạo. Đức Như lai ấn chứng cho con tên Ni Sa Đà, sắc phù trần tiêu hết, sắc diệu tánh châu mật viên dung. Con từ sắc tướng kia mà thành bực A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông th́ như chỗ sở chứng của con, quán sắc làm nhơn là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Ưu Ba Ni sa Đà (Tàu dịch là Trần Tánh, theo chỗ ngộ mà đặt tên), nhơn quán sắc tướng mà chứng quả. Hàng Nhị thừa th́ quán bất tịnh để sanh tâm nhàm chán diệt tham dục, cầu chứng Niết bàn. Trái lại hàng Bồ tát quán bất tịnh để nhận rơ nhân duyên thống khổ, chỗ đảo chấp Bất tịnh kế tịnh của chúng sanh mà hóa độ, phá trừ tâm tham đắm sắc thân ngũ dục. 

           Ông Ưu Ba Ni Sa Đà tu theo pháp quán đó, tịnh tâm nhiếp ư, quán sát thân phần của chúng sanh, chỉ toàn là một vật nhơ nhớp thối tha, cả từ đầu đến chân, từ trong ra ngoài, và rơ ràng nhứt khi thân ấy đă thành một tử thi ph́nh trướng bầm xanh, bại hoại, máu mủ chảy ra, gân thịt úa rửa, cầm thú rúc ăn, xương gân ly tán, chỉ c̣n nắm xương khô, lần lần tiêu ra tro bụi, biến vào hư không. Các sắc thân đă tan về hư không, đâu có phân biệt chia rẽ sai khác; chỉ v́ đem tâm phân biệt, tương đối với sắc mà gọi là không, tương đối với không mà gọi là sắc, vậy nên sắc, không đều không tự tánh.

 

***

 

3- DO HƯƠNG TRẦN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Hương Nghiêm Đồng tử liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng: - Con nghe đức Như Lai dạy con chín chắn quán các tướng hữu vi. Con liền từ tạ Phật lui về nhà thanh trai yên tịnh, trông thấy các thầy Tỳ kheo đốt hương trầm thủy, mùi hương lặng lẽ bay vào trong mũi; con quan sát mùi hương đó: Chẳng phải là gỗ, chẳng phải hư không, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, đi không chỗ tới, đến không chỗ bắt đầu, do đó vọng ư thức con tiêu diệt, phát minh tánh vô lậu. Đức Như lai ấn chứng cho con hiệu là Hương Nghiêm, hơi hương phù trần thoạt diệt, hơi hương hiệu tánh được mật viên. Con do nơi hương trần kia mà thành bực A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, hương nghiêm là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Hương Nghiêm Đồng tử (theo chỗ ngộ mà đặt tên) nhân quan sát cái tướng hữu vi là hương trần mà chứng được viên thông. Thường thường chúng ta chỉ tưởng mùi hương là một thứ sẵn có của gỗ trầm v.v... hễ có gỗ trầm là có hương; nhưng xét kỹ th́ mùi hương ấy đâu phải chỉ do gỗ trầm mà có được; c̣n do không khí, do lửa đốt và do tỷ căn của ta tiếp xúc, tỷ thức giác xúc, ư thức phân biệt nữa,nếu ngoài công năng của hai thứ năng tri, sở tri trên ra th́ không thành mùi hương được. Vậy thật ra tánh chơn thật hương trần không phải là năng tri sở tri, cũng không phải là ly năng tri sở tri mà nó có ra, chỉ tùy theo nghiệp của mỗi chúng sanh mà phát hiện.

 

***

 

4- DO VỊ TRẦN CHỨNG BỒ TÁT

 

           Hai vị Pháp vương tử Dược Vương và Dược Thượng cùng năm trăm Phạm thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật mà bạch rằng: - Con từ vô thỉ kiếp làm lương y trong đời, miệng con từng nếm các vị cỏ, cây, vàng, đá của thế giới Ta bà này, số đến mười vạn tám ngh́n thứ; như vậy đều biết hết thảy vị của: đắng, cay, chua, ngọt, mặn, lạt, các vị ḥa hiệp, câu xanh, biến dị, cho đến nào là lạnh, là nóng, có độc, không độc, đều biết khắp cả. Sau con lại nhân thừa sự đức Như Lai mà hiểu rơ vị tánh, chẳng phải không, chẳng phải có, chẳng phải tức thân tâm, chẳng phải ly thân tâm, phân biệt vị trần, mà đặng khai ngộ. Do đó, Phật ấn chứng cho anh em con hiệu là Dược Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát và làm pháp vương tử ở trong hội này; chúng con nhơn vị trần mà đặng giác ngộ, lên hàng Bồ tát. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, quán vị trần làm nhơn là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Vị trần là các vị cay, chua, đắng, ngọt; vị ḥa hiệp như các món ăn do nhiều thức hiệp lại; vị câu sanh như ớt sẵn cay, bồ ḥn sẵn đắng; vị biến dị là do thay đổi mà ra, như mật ông để lâu hóa chua, rượu để lâu th́ lạt...

           Ngài Dược Vương, Dược thượng Bồ tát do phân biệt quán sát bổn nhân của vị trần mà chứng đạo. Quán sát nguyên nhân của vị, như thế nào? Nếu nói vị cho hư không th́ sao nếm hư không, không biết ngọt, đắng; nói rằng vị thiệt có, th́ vị vốn vô h́nh; nói rằng vị tức là thân tâm, thành ra nó có tánh biết; c̣n nói vị ly thân tâm th́ cái ǵ phân biệt mà biết vị. Hai vị Bồ tát quan sát như vậy, ngộ nhập cái tánh phi tức, phi ly, phi không, phi hữu của vị trần, nên vọng ư tiêu tan, mà giác tánh được tỏ bày vậy.

 

***

 

5- DO XÚC  TRẦN MÀ CHỨNG THÁNH

 

           Ông Bạt Đà Bà La với mười sáu người bạn Bồ tát sơ phát tâm, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng: - Kiếp trước, lúc đức Phật Oai Âm Vương ra đời, chúng con nhân đặng gặp Phật, nghe pháp mà xuất gia, trong ngày chúng Tăng tắm gội, con theo thứ tự vào nhà tắm, th́ thoạt nhiên ngộ biết thủy trần vốn rửa bụi trần hay không rửa bụi trần, tâm giác thường vắng lặng, không có tướng ǵ... do tập quán cũ ấy nhớ măi cho đến ngày nay, theo Phật xuất gia được thành bậc vô học. Đức Oai âm vương gọi tên con là Bạt Đà Bà La, nhân diệu xúc tỏ bày sáng suốt, thành vị Phật tử trụ. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, quán xúc trần làm nhơn là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Bạt Đà Bà La (Tàu dịch là Thiên Thủ hay Hiền Hộ) nhân quán xúc trần mà ngộ nhập viên thông. Xúc là đụng chạm, tiếp xúc. Cảnh bị biết của thân căn, hay nói cách khác là cảnh ứng hợp thân cần phát sanh, nhận biết có lạnh, nóng, trơn, nhám v.v... đều là xúc trần. Như vậy, xúc trần được phát hiện là bởi có thân căn với sắc cảnh, thiếu một không thành, xúc trần hư dối. Vả lại như khi đối trước một ḷ lửa, nếu kẻ rét th́ có cảm xúc ấm, c̣n kẻ ấm th́ lại có cảm xúc nóng thêm. Vậy th́ chỉ tùy chúng sanh mà thành lạnh hay nóng, không có thật thể nhất định. Đối với nước cũng vậy, khi chúng ta dùng nước tắm gội thân thể, nước chảy trên ḿnh mà sinh ra cảm giác thế này thế khác, gọi là xúc trần. Nhưng xét nghiệm kỹ th́ khi ta gọi là tắm rửa, ấy là rửa thân thể hay rửa bụi trần? Nếu nói là rửa thân thể, th́ như không bụi trần lấy ǵ để rửa, nếu nói là rửa bụi trần, th́ như nước chảy trên đất cũng gọi là tắm rửa đặng sao? Thế th́ nước, bụi trần, thân thể vốn thật an nhiên, nước không phải hay rửa (năng), mà bụi trần và thân thể không phải bị rửa (sở), cho nên xúc trần chỉ là tướng giả dối, đối đăi theo vọng nghiệp chúng sanh không xúc mà hiện xúc, nên xúc trần đều là như huyễn: phi hữu, phi vô. Ngộ được như vậy mà tu hành, tức thành bực vô học.

 

***

 

6- DO PHÁP TRẦN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Ma Ha Ca Diếp và Tỳ kheo ni Tử Kim Quang, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng: - Con nhớ kiếp trước, trong thế giới này có nhiều đức Phật ra đời hiệu Nhựt Nguyệt Đăng, con được thân cận nghe pháp tu học, sau khi Phật diệt độ th́ cúng dường xá lợi, đốt đèn nối ánh sáng, lại dùng vàng tử kim sáng chói mà thếp h́nh tượng của Phật. Từ đó đến nay đời đời thân con thường được đầy đặn, ánh sáng như đồng vàng tử kim, c̣n Tỳ kheo ni Tử Kim Quang này chính là quyến thuộc của con, từng đă cùng phát tâm một lúc với con. Con xem thấy thế gian sáu trần biến hoại, nên chỉ đem tâm không tịch tu hành, thành diệt tận định. Thân tâm tự tại hay vượt qua trăm ngàn kiếp, dường như khảy móng tay. Con do quán sát pháp không tịch mà thành bậc A La Hán; đức Thế tôn cho con là người tu hạnh đầu đà bậc nhứt. Diệu pháp mở sáng, các lậu tiêu trừ. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, quán pháp trần làm nhơn là hơn cả.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Ma Ha Ca Diếp nhân quán pháp trần mà ngộ nhập viên thông. Pháp trần là tất cả ấn tượng của tiền trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, lưu lại trong tâm ư mà làm cảnh sở duyên cho ư thức. Tất cả cảnh giới thế gian tóm lại không ngoài sáu trần; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ấy. Những pháp đó luôn luôn biến chuyển hoặc âm thầm kín đáo, hoặc rơ rệt phô bày, chứ không niệm nào yên lặng dừng nghỉ. Vừa vị lai đă thành hiện tại, vừa hiện tại đă thành quá khứ; như vậy hăy chỉ vào đâu mà cho là có pháp thiệt. Chỉ vào vị lai ư? Hay chỉ vào quá khứ, hiện tại? Thiệt không thể chỉ vào đâu được. Pháp trần đă không thiệt, pháp trần là chơn không, th́ các món thọ tưởng, hư vọng phiền năo, nương pháp trần sanh ra cũng liền tiêu diệt, phá trừ ư thức, chứng diệt tận định. Khi ấy thân tâm tự tại, đối với không gian cũng như đối với thời gian: không rời chỗ ngồi mà ở khắp mười phương, vượt trăm ngàn kiếp mà dường như trong giây phút khảy móng tay, thoát ngoài ṿng chướng ngại của những sự lâu, mau, xa, gần, hạn cuộc.

 

           Sáu vị trên đây do tu sáu trần mà được chứng quả.

 

***

 

7- DO NHĂN CĂN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông A Na Luật Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: - Con mới xuất gia thường ưa ngủ nghỉ, nên bị Như Lai quở trách là loại súc sanh. Nghe lời Phật quở, con khóc lóc tự trách, thức suốt bảy ngày không ngủ, hư cả hai mắt. Đức Thế tôn dạy cho con phép Tam muội nhạo kiến chiếu minh kim cang. Con không do con mắt mà vẫn xem thấy mười phương, tánh chơn rỗng suốt, như xem cái trái trong bàn tay. Như lai ấn chứng cho con thành bực A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, xoay cái thấy trở về tánh nguyên, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông A Na Luật Đà nhân tu về nhăn căn, xả bỏ sắc trần, xoay cái thấy (hư vọng) trở về kiến tinh (chơn tánh) mà thành bậc vô học.

           Kiến tánh thường diệu thường minh, nương nơi con mắt mà phát ra cái dụng thấy sắc gọi là nhăn căn; kiến tánh vốn đă diệu minh, cho nên kiến dụng chẳng lúc nào không minh không diệu. Chúng sanh nhiều kiếp mê lầm không tự nhận biết, trở lại chấp rằng cái thấy chỉ do con mắt mà có sắc trần; hễ có sắc trần th́ gọi rằng có thấy; c̣n không sắc trần th́ gọi rằng không thấy: mở mắt là thấy, nhắm mắt là không. Đă đem tánh thấy viên dung cùng khắp mà khuôn khổ một nơi, nên bị cách ngại, thấy không ngoài sống mũi, thấy không thấu đặng hai đời. Dẫu khi nhắm mắt, khi ngủ mê không thấy đă đành, mà khi mở mắt cũng chẳng thấy được sự thật của muôn pháp. Trong một đoạn trước, Phật gạn hỏi ông A Nan về cái thấy là tâm hay con mắt? Và Ngài đă bảo: Tâm thấy chớ không phải mắt thấy. Đây Phật chỉ cái kiến tánh này cho đến cái văn tánh, khứu tánh, v.v... cho chúng sanh rơ. Thế nên biết rằng: Có mắt không tâm, không thành có thấy; có tâm không mắt cũng thấy khắp mười phương, ấy gọi là “nhạo kiến chiếu minh”. Kiến tánh bản minh đó, xưa nay không hề lay chuyển, ấy gọi là kim cang Tam muội.

 

8- DO TỶ CĂN MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Châu Lợi Bàn Đặc Ca, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: - Con v́ thiếu sự tụng tŕ, nên tánh t́nh ngu độn, khi mới gặp Phật, nghe pháp xuất gia, chỉ tụng tŕ một câu kệ của Như Lai, mà trong trăm ngày không thuộc, hễ nhớ trước th́ quên sau, nhớ sau th́ quên trước; Phật thương con ngu muội, dạy pháp an cư, điều ḥa hơi thở ra vào; con liền quán hơi thở đến vi tế cùng tột, thấy các hạnh sanh, trụ, dị, diệt từng mỗi sát na, mà tâm được rỗng rang tự tại không chút ngăn ngại; hết các món lậu thành A La Hán, ở dưới ṭa của Phật, được ấn chứng thành vô học đạo. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, xoay hơi thở trở về tánh không, ấy là thứ nhất.


LƯỢC GIẢI

 

           Ông Châu Lợi Bàn Đặc Ca (là hai anh em, Tàu dịch là Đại Lộ Biên và Tiểu Lộ Biên. Đây là chi ông em) nhân tu tỷ căn mà chứng nhập viên thông.

           Kiếp xưa, ông là một vị Đại pháp sư v́ tâm bỏn xẻn Phật pháp, không muốn nói cho ai nghe, nên bị quả báo ngu mê thiếu tánh nghe nhiều, hiểu rộng. Nhân đó Phật mới dạy phương pháp nhiếp tâm là điều ḥa hơi thở ra vào, đếm từ một đến trăm, từ trăm lui một; sau khi tâm định tĩnh, xét cùng tột đến tướng vi tế của hơi thở, thảy đều sanh, trụ, dị, diệt từng mỗi sát na. Tâm chỉ chú vào hơi thở, ngoài hơi thở không riêng có sự vật ǵ, cũng không có tướng hơi thở nữa, bởi v́ hơi thở đă từng sát na chuyển biến, hơi thở không có thật tánh; vậy do tánh yên lặng, quán cảnh thanh tịnh, mà được rỗng rang sáng suốt.

 

***

 

9- DO THIỆT CĂN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Kiều Phạm Bác Đề, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng: - Con bị khẫu nghiệp nặng nề; trong kiếp quá khứ đă chê bai vị Sa Môn, nên đời đời mắc bệnh, miệng thường nhơi như trâu. Đức Như Lai dạy cho pháp môn Nhứt vị thanh tịnh tâm địa; con nhân đó mà tâm được tịch diệt vào tam ma địa, quán sát cái tánh biết vị không phải thân, cũng không phải vật; liền trong miệng ấy, vượt bỏ các lậu thế gian, bề trong giải thoát thân tâm, bề ngoài không dính mắc thế giới, xa ĺa ba cơi như chim ra khỏi lồng, tiêu hết các món trần cấu, nên đặng con mắt pháp thanh tịnh, thành A La Hán. Đức Như Lai ấn chứng cho con thành vô học đạo. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, xoay về quán sát tánh biết vị ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Kiều Phạm Bác Đề (Tàu dịch là Ngưu từ) nhân tu thiệt căn mà chứng nhập viên thông. Trong một kiếp quá khứ, ông từng buông lời chê bai vị lăo Tăng, nên nhiều đời mắc lấy cái tật miệng thường nhơi suông như trâu.

           Phật thuyết pháp lúc nào cũng tùy căn cơ, tùy tập quán của chúng sanh cả; nên Ngài đă tùy tập quán của ông, mà dạy cho pháp môn nhứt vị thanh tịnh tâm địa; nghĩa là quán cái tánh biết vị khắp hiện nơi thiệt căn, vốn thường thanh tịnh không phải đối đăi giả dối, không thay đổi theo mặn, đắng, ngọt, cay, nên gọi là nhứt vị. Đă vậy, th́ cái tánh chẳng phải trần nên chẳng phải vô tri, mà chẳng phải căn nên không giả dối; v́ vậy, các món dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, trong thế gian không thể ô nhiễm buộc ràng; tuy ở trong ba cơi, mà vốn xa ĺa ba cơi, như chim ra khỏi lồng, thông dung tự tại, thấy biết rộng xa. Ấy gọi là Pháp nhăn thanh tịnh thành A La Hán, không c̣n thọ sanh trong ṿng luân hồi sanh tử.

 

***

 

10- DO THÂN CĂN CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Tất Lăng Già Bà Ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu lạy chân Phật và bạch rằng: - Lúc con mới xuất gia theo Phật nhập đạo, thường nghe đức Như Lai dạy những điều thống khổ trong thế gian; con đi khất thực trong thành, để tâm tư niệm pháp môn đó, bất giác giữa đường đạp nhằm gai độc, chân bị thương, sự đau nhức khắp cùng thân thể. Con liền nghĩ rằng: có tánh biết mới biết sự đau nhức đó. Tánh biết ấy chính là giác tâm thanh tịnh, tuy biết cái “biết đau” mà nó không phải bị đau. Con lại suy nghĩ: Nếu như vậy th́ một thân lẽ nào lại có hai tánh biết? Con nhiếp niệm chưa bao lâu, thân tâm bỗng nhiên không tịnh; trong hai mươi mốt ngày th́ các lậu tập tiêu hết, thành quả A La Hán, được Phật ấn kư, chứng bậc vô học. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con, là xả bỏ thân chấp, thuần một giác tánh, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Tất Lăng già Bà Ta (Tàu dịch là Dư Tập) nhân tu thân căn mà ngộ nhập viên thông. Giác tâm thanh tịnh vốn thường bất biến, hàm dung không có năng sở, không có trong ngoài, không bị khổ vui làm lay động; chúng sinh nhơn mê, khởi ra vọng tưởng phân biệt, chấp có ngoại cảnh, có nội thân, cuộc tánh biết nơi thân căn làm nơi y chỉ, mà lănh nạp các cảnh thuận nghịch giữa thế gian. V́ vậy nên không tránh khỏi các món khổ. Ông Tất Lăng Già Bà Ta nghe theo lời Phật, quán khổ đế giữa thế gian trong khi đi khất thực, bất giác chân đạp nhằm gai độc, đau buốt toàn thân, mà càng chứng rơ khổ đế một cách thống thiết. Nhân đau nhức mà phát suy nghĩ: tự ḿnh biết ḿnh đang đau; vậy đă có cái đau lại có cái biết đau; đau là cái biết hư vọng nơi thân căn, tùy nhân duyên ngoại cảnh mà phát hiện có năng có sở; chữ “biết đau” chính là chỉ giác tâm thanh tịnh, ra ngoài có không, dù đau hay không đau cũng không thể làm tăng giảm. Ngặt v́ trong lúc tâm ngă pháp chưa tiêu, nên tướng năng sở vẫn c̣n hiện tiền, cần phải nhiếp niệm vậy, sau mới không cả thân tâm, đoạn trừ năng sở, không thấy có cái tướng đau, không thấy cái tướng bị đau, chỉ thuần một giác tâm thanh tịnh. Lúc ấy, chẳng những giác tức là giác mà mê cũng tức là giác; tánh giác hoàn toàn viên măn không c̣n bị điều chi ô nhiễm.

 

11- DO Ư CĂN MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu lạy chân Phật và bạch rằng: - Nhiều kiếp lại đây, tâm con rỗng rang không ngại, nhớ lại kiếp thọ sanh nhiều như số cát sông Hằng, lúc c̣n ở trong thai liền biết muôn pháp không tịch, như thế cho đến thấy cả mười phương toàn không, và giáo hóa khiến cho chúng sanh chứng đặng không tánh. Nhờ đức Như Lai phát minh tánh chơn không của bản giác tánh “không” viên măn sáng suốt, chứng A La Hán, liền vào biển giác không tịch sáng suốt tôn quư của Như Lai, đồng tánh tri kiến với Phật, nên được ấn chứng thành bực vô học. Con do tánh không mà giải thoát, không ai sánh bằng. Nay Phật hỏi viên thông th́ như chỗ sở chứng của con, là đem các tướng quy vào phi tướng, mà năng phi sở phi cũng diệt, xoay tánh biết nơi ư căn về không vô, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Tu Bồ Đề (Tàu dịch là Không Sanh) nhân tiêu trừ ư căn mà chứng nhập Viên thông. Ư căn là tánh hay hiểu biết tất cả pháp trần, hễ có pháp trần th́ có ư căn, mà ư căn tiêu trừ th́ pháp trần không tịch. Pháp pháp đều không tịch cả, dù sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn tất cả đều không; ở trong thân tâm chánh báo không, ở ngoài thế giới y báo cũng không, nên tâm đặng tự tại không bị năm uẩn ngăn che, không bị cái hôn mê cách ấm, khi ở trong thai cũng như ra khỏi thai, chỉ là tùy tưởng thọ sanh mà vẫn không bị sắc thân chướng cách. Tuy vậy, mặc dù ngộ được không lư, nhưng chưa ngộ tánh chân như của Như Lai tạng là tức nơi không mà tùy duyên hiện hữu, tức nơi diệu hữu mà vốn không, cái không ấy mới thiệt là cái tánh chân không của đệ nhất nghĩa, của nhất chân pháp giới; vậy nên nhất thời đốn ngộ tánh chân không, ấy tức đồng một tánh thấy biết cùng khắp như chư Phật, không có sai khác.

 

           Năm vị trên đây do tu năm căn mà chứng đạo quả.

 

***

 

12- DO NHĂN THỨC MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: -Con nhiều kiếp lại đây, tâm thấy rất tanh tịnh, như vậy trong nhiều đời thọ sanh như số cát sông Hằng, mà đối với các pháp biến hóa của thế gian, xuất thế gian, hễ một phen thấy liền thông suốt không bị ngăn ngại. Một hôm, nhân ở giữa đường con gặp đặng hai anh em ông Ca Diếp Ba cùng đi với nhau, tuyên nói kệ nhân duyên mà ngộ biết tự tâm vốn không ngằn mé. Con theo Phật đi xuất gia, tánh thấy biết viên măn sáng suốt, được sức vô úy thành A La Hán làm trưởng tử của Phật, từ miệng Phật mà có, do pháp Phật mà hóa sanh. Nay Phật hỏi viên thông, th́ như chỗ sở chứng của con là do tâm thấy pháp sáng, sáng cùng tột các pháp sở tri, sở kiến, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Xá Lợi Phất (Tàu dịch là Thu Tử) do tu nhăn thức mà chứng nhập Viên thông. Do nhăn thức thanh tịnh nên tất cả pháp tướng của thế gian đều thấy thông suốt cả; nhận thấy thông suốt các pháp biến hóa ấy nên đến khi nghe thấy bài kệ nhân duyên, liền ngộ đặng thật tướng trung đạo, ngộ Tạng tâm cùng khắp pháp giới, không phải lớn nhỏ, không có ngằn mé trong ngoài. Bài kệ nhân duyên theo Đại thừa nghĩa là:

 

“Các pháp nhân duyên sanh
Tôi nói nó là không
Gọi nó là giả danh
Cũng gọi nghĩa trung đạo”

 

           (Nhân duyên sở sanh pháp, ngă thuyết tức thị không, diệc danh thị giả danh, diệc danh trung đạo nghĩa). Các pháp do nhân duyên ḥa hiệp sanh, không có thật tánh tức là không; tuy không nhưng đă tùy vọng nghiệp cơ cảm của chúng sanh, chẳng phải không có giả tướng phát hiện; ngoài giả không thể có không, ngoài không không thể có giả, không và giả không hai, ấy tức là thật tướng trung đạo của các pháp. Đă ngộ lư trung đạo tức là ngộ được Tạng tâm tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, không phải giả, không phải không, nhưng không chỗ nào không có, không pháp nào không do Tạng tâm, tùy duyên biến hiện, mà thấy biết cùng tận tất cả pháp, không chút ngăn che sợ hăi.

 

***

13- DO NHĨ THỨC MÀ CHỨNG BỒ TÁT

 

           Ông Phổ Hiền Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: 

           - Con đă từng làm vị Pháp vương tử với hằng sa đức Như Lai. Mười phương các đức Như Lai mỗi khi dạy hàng đệ tử có căn cơ Bồ tát, tu hạnh Phổ Hiền, thảy đều lấy tên con mà đặt tên. Bạch Thế tôn! Con dùng tâm mà nghe và phân biệt mọi niệm lự, tri kiến của chúng sanh; nếu ở phương nào khác, ngoài hằng sa cơi nước, có một chúng sanh phát tâm tu niệm hạnh Phổ Hiền, th́ trong khi ấy, con liền cỡi voi trắng sáu ngà, phân hóa trăm ngàn thân đến khắp các nơi ấy; dầu cho chúng sanh đó nghiệp chướng sâu dày không thể thấy con, th́ con nhân trong khi tối tăm lấy tay rờ đầu, gia hộ an ủi khiến đặng thành công đức. Nay Phật hỏi viên thông, như bổn nhân chứng ngộ của con, là phát minh tánh nghe, phân biệt tự tại, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Phổ Hiền Bồ tát (hạnh độ sanh cùng pháp giới là Phổ, gần địa vị cực thánh là Hiền) nhân tu nhĩ thức mà chứng nhập viên thông. Phổ Hiền có ba vị khác nhau:

           1.Vị Tiền Phổ Hiền tức là hai vị Tư lương và Gia hạnh.

           2.Đương vị Phổ Hiền tức Sơ địa cho đến Đẳng giác, Diệu giác.

           3.Vị hậu Phổ Hiền, tức là khi chứng Phật quả rồi, nhưng không quyến luyến cái vui nơi cảnh Niết bàn, chỉ v́ nguyện đại bi luôn luôn trở lại độ sanh tế vật, như Ngài Văn Thù, Quán Âm, Phổ Hiền v.v... Vậy biết Ngài Phổ Hiền là vị Đại Bồ tát đă thành Phật mà trở lại độ sanh. Chính trong nhân địa, Ngài đă phát 10 lời đại nguyện: Từ “lễ kỉnh chư Phật” cho đến “Phổ giai hồi hướng”. Ngài đă phát minh tánh nghe chơn thật của bản tâm thanh tịnh, không c̣n tùy tùng theo cái nghe hư vọng của nhĩ căn và nhĩ thức, nên không bị điều chi cách ngại; nên hễ có mỗi một chúng sanh nào cách xa hằng sa thế giới mà phát tâm tu hạnh Phổ Hiền, th́ Ngài liền quán biết rơ ràng, phân vô số thân, cỡi voi trắng sáu ngà (biểu 6 độ của Bồ tát) đến tận nơi mà t́m cách an ủi, khuyên lơn, tán thán, gia hộ khiến chúng sanh ấy mau thành tựu như Ngài. Các vị muốn tu Bồ tát thừa sau khi thấy rơ chơn tâm, phát minh căn bản trí, đều phải khởi sai biệt trí, tùy nghi phương tiện mà giáo hóa độ sanh mới thành tựu viên măn Phật quả; nếu thiếu hạnh Phổ Hiền tế độ quần sanh th́ hạnh giác tha bị thiếu, nên Phật dạy các Bồ tát tu hạnh lợi tha đều nên tu theo hạnh đức Phổ Hiền và cũng lấy tên ấy mà làm tên của ḿnh.

 

***

 

14- DO TỶ THỨC MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Tôn Đà La Nan Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: - Con lúc đầu xuất gia theo Phật nhập đạo, tuy đối với giới luật (giới) giữ ǵn đầy đủ, mà đối với pháp Tam ma địa (định) th́ tâm thường loạn động, nên chưa thành vô lậu. Đức Thế Tôn dạy con cùng ông Câu Thi La quán tướng trắng trên chót sống mũi. Lúc đầu quán kỹ, trải qua 21 ngày thấy hơi trong mũi ra vào như khói, thân tâm thế giới trong ngoài rỗng suốt, khắp đều trong sạch như ngọc Lưu ly. Rồi dần dần tướng khói tiêu tan mà hơi thở lại biến thành sắc trắng, tâm đặng khai ngộ; các lậu tiêu trừ, hơi thở ra vào hóa thành ánh quang minh, soi cùng mười phương thế giới, chứng quả A La Hán. Đức Thế Tôn thọ kư cho con, tương lai chứng đặng Bồ đề. Nay Phật hỏi viên thông, con do tiêu trừ hơi thở; hơi thở tiêu nên tâm phát sáng, sáng càng viên măn, các lậu dứt trừ, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Tôn Đà La Nan Đà nhân tu về tỷ thức mà ngộ nhập Viên thông; trên đường tu hành chơn chánh đến kết quả vô thượng Bồ đề là phải đủ ba điều kiện cần yếu: giới luật, thiền định và trí tuệ. Giới để ngăn ngừa tội lỗi, Định để đón dẹp vọng tưởng tán loạn, Huệ để phá vô minh thấu rơ thật lư. Bởi vậy mặc dầu giữ ǵn giới luật hoàn toàn mà tâm thiếu thiền quán, bị tán loạn, th́ bao nhiêu hoặc lậu vô minh vẫn c̣n tương tục ngăn che thánh quả vô lậu. Thiền quán cốt tại buộc tâm vào một chỗ hay một pháp môn để quán sát. Như Phật dạy ông Tôn Đà La Nan Đà, Câu Thi La chuyên tâm quán tướng trắng đầu chót sống mũi; hễ quán tâm lần sâu xa, th́ cảnh sở quán lần thanh tịnh, nên thấy hơi thở có khi như hơi khói, có khi thành trắng, đến khi hóa ra ánh sáng, đều do quán tâm sâu cạn mà ra cả. Cảnh sở quán đă sáng suốt, tâm năng quán cũng viên minh, th́ thân tâm thế giới mười phương, thảy đều trong suốt như chất lưu ly, không nhơ bợn, không ngăn cách, ấy là dứt nhân sanh tử, được Phật thọ kư chứng quả Bồ đề.

 

***

 

15- DO THIỆT THỨC MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng:

           - Con từ nhiều kiếp lại đây, biện tài vô ngại, tuyên nói các pháp khổ, không đạt cùng thật tướng; như vậy cho đến tất cả pháp môn bí mật của hằng sa Như Lai, con đều đem giải bày rất rơ ràng, vi diệu ra giữa đại chúng không chút sợ sệt. Đức Thế Tôn biết con có tài hùng biện, nên dùng âm thanh tuyên nói pháp luân dạy con đem ra truyền bá. Con ở trước Phật dùng tiếng thuyết pháp như sư tử rống, để giúp Phật chuyển pháp luân, đặng thành A La Hán. Đức Thế Tôn ấn chứng con là người thuyết pháp không ai bằng. Nay Phật hỏi viên thông, con do pháp âm, hàng phục lũ ma oán, tiêu diệt các lậu, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, nhân tu thiệt thức mà ngộ nhập viên thông. Thiệt thức có công năng biết vị và thuyết pháp. Phật v́ muốn cứu chúng sanh khỏi ṿng điên đảo, chấp mọi sự vật là thường, là lạc, là ngă, là tịnh, nên truyền dạy Pháp vô thường, khổ, vô ngă, bất tịnh. Nhân đó mà hàng Nhị thừa giải thoát phần đoạn sanh tử, chứng Vô dư y Niết bàn và đem giáo hóa dẫn đạo chúng sanh. Thật ra trong khi Phật dạy lư vô thường, khổ, Vô ngă, bất tịnh, là mật ư cốt chỉ cho chúng sanh đương nơi bốn điều ấy nhận thấu thật tướng, b́nh đẳng thường, lạc, ngă, tịnh, của tất cả các pháp. V́ thật tướng ấy mới là pháp môn bí mật của hằng sa đức Như Lai, là chỗ muốn chỉ cho âm thanh luân của Phật tuyên nói; nếu ngọ đặng pháp môn ấy như ông Phú Lâu Na, th́ biện luận thuyết pháp không ai sánh bằng, mặc dù nói pháp khổ, không mà không ly thật tướng; tuy không ly thật tướng mà tự tại tuyên nói khổ không, để điều nhiếp chúng sanh, hàng phục ma ngoại.

 

***

 

16- DO THÂN THỨC MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Ưu Ba Ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng: 

           - Con thân hành theo Phật, thấy Ngài vượt thành xuất gia, chính con quán thấy đức Như Lai, 6 năm tu khổ hạnh, hàng phục loài ma, uốn dẹp ngoại đạo, giải thoát các tham dục thế gian; lại được thừa lănh giáo giới của Phật chế; như thế cho đến 3.000 oai nghi, 84.000 hạnh vi tế, nào tánh nghiệp, nào giá nghiệp, con đều ǵn giữ thanh tịnh, thân tâm vắng lặng, thành bậc A La Hán. Con là giềng mối trong chúng đệ tử của Như Lai. Phật ấn chứng tâm con, giữ giới tu thân, chúng suy tôn là bậc thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông th́ con trước do chấp giữ thân, thân đặng tự tại; sau lại do chấp giữ tâm, tâm đặng thông suốt. Vậy sau tất cả thân tâm thảy đều thông lợi, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Ưu Ba Ly nhân tu thân thức mà ngộ nhập Viên thông. Ông là một người hầu cận của Phật trong khi Ngài c̣n làm Thái tử, nên thấy rơ hành động của Phật khi xuất gia, khi tu khổ hạnh cho đến khi thuyết phục tà ma, thành đạo quả và thiết chế giới luật, lại là vị đệ tử tŕ luật thứ nhứt, lănh thọ giới luật, thanh tịnh tu tŕ. Nào những điều thể tánh vốn ác như sát, đạo, dâm, vọng, gọi là tánh nghiệp; những điều thể tánh tuy không ác nhưng v́ hay mở đường tội lỗi như rượu v.v... mà Phật chế ngăn gọi là giá nghiệp, cho đến 3.000 oai nghi (250 giới đều có 4 cử động là đi, đứng, ngồi, nằm, 250 x 4 = 1.000; 1.000 đối với 3 tụ giới thành ra 3.000).  84.000 tế hạnh (3.000 oai nghi đem phối với bảy chi: sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt, vọng ngôn, ác khẩu, ỷ ngữ, thành 21.000; lại phối với 4 phần phiền năo là đa tham, đa sân, đa si, tham si đồng phần, thành ra 84.000) thảy đều giữ ǵn, không giới nào khuyết phạm, thân thường ở trong giới, toàn thân tức là giới, khi giới đă đặng thanh tịnh, th́ thân ấy là thân tịch diệt, mà tâm ấy là tâm chơn thường diệu giác, mặc dù ở trong thế gian uế ác mà không bao giờ ô nhiễm như diệu liên hoa vậy.

 

***

 

17- DO Ư THỨC MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Đại Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: 

           - Lúc trước con đi khất thực, giữa đường gặp ba anh em ông Ca Diếp Ba, là Ông Ưu Lầu Tần Loa, ông Già Da và ông Na Đề tuyên nói nghĩa nhân duyên sâu xa của Như Lai; con liền phát tâm, thấu suốt rộng lớn, đức Như Lai cho con mặc y ca sa, râu tóc con tự rụng hết. Con dạo đi cùng mười phương, không bị ngăn ngại, phát minh thần thông, được chúng suy tôn con là hơn hết và thành A La Hán. Đâu chỉ một ḿnh Thế Tôn, mà mười phương Như Lai củng đều khen thần lực con, tṛn sáng thanh tịnh, tự tại không e sợ. Nay Phật hỏi viên thông, con xoay ư thức về tánh viên trạm, tam quang mở bày, ví như lắng ḍng nước đục, lâu ngày thành trong suốt, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Đại Mục Kiền Liên nhân tu ư thức mà ngộ nhập viên thông. Sau khi nghe ba anh em ông Ca Diếp Ba nói lư nhân duyên của Phật, liền ngộ đặng nhân duyên thâm nghĩa, không phải như nghĩa thông thường, nói các pháp có ra là do nghiều cái họp lại; hơn nữa các pháp nhơn duyên sanh tức không thiệt có, tức là như huyễn, tức là trung đạo thật tướng; chính nơi các pháp đối đăi sanh diệt, mà nhận ra thật tướng, tuyệt đối không sanh diệt. Vậy nên dầu gần dầu xa, dầu lớn dầu nhỏ, không c̣n chút ǵ ngăn ngại, xứng ư thật tướng, phát hiện thần thông để độ chúng sanh và phụng thờ chư Phật.  V́ được như vậy nên ông Mục Kiền Liên mới được gọi là thần thông bực nhứt.

 

           Sáu vị trên đây là do tu sáu thức mà được viên thông.

 

18- DO LỬA MÀ CHỨNG A LA HÁN

 

           Ông Ô Sô Sắc Ma ở trước Như Lai chắp tay cúi đầu đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: - Con thường nhớ lại nhiều kiếp xa xôi về trước, tánh nhiều tham dục. Có đức Phật ra đời hiệu là Không Vương. Ngài dạy: người nhiều dâm tánh là thành đống lửa hăi hùng, lại dạy con quán khắp 100 hài 4 vóc, các khí lạnh, nóng và tinh thần bề trong mà được ngưng tịnh, hóa tâm đa dâm thành ra lửa trí huệ. Từ đó chư Phật đều gọi con là Hỏa đầu. Con do sức hỏa quang tam muội mà thành A La Hán, tâm phát nguyện lớn: “Hễ chư Phật thành đạo th́ con làm người lực sĩ hầu cận, uốn dẹp lũ ma oán”. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát cái xúc nóng nơi thân tâm, rỗng suốt không ngại, các lậu tiêu trừ, phát sanh lửa trí huệ lớn báu, lên bậc vô thượng giác, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Ô Sô Sắc Ma nhân tu về Hỏa đại mà ngộ nhập viên thông. Chỉ v́ c̣n vọng tưởng nên c̣n tánh tham dâm; do tánh tham dâm mới kết thành lửa nghiệp hẩy hừng đốt cháy thân tâm, lu mờ ánh sáng trí huệ. Nhưng vọng tưởng chỉ là tâm, tham dâm chỉ là tâm, mà trí huệ cũng chỉ là tâm; nếu tâm vọng tưởng tham dâm ngừng tiêu, th́ lửa trí huệ phát hiện. Ông Ô Sô Sắc Ma vốn người nhiều dâm dục; sau khi nghe đức Phật Không Vương dạy cho biết người đa dâm biến thành đống lửa dữ, mới chuyên tâm quán sát toàn thân tứ đại vốn không chủ tể; 100 hài và 4 vóc, khi lạnh khi nóng v.v... đều thuộc về tứ đại; tâm đa dâm vốn không tự tánh, tất cả đều do vọng tưởng mà ra; bởi tạng tâm tùy duyên biến hiện, ngộ được tất cả vô tánh, tức thành định lực hỏa quang tam muội đốt cháy hết thảy thế gian và oán ma sanh tử.

 

***

 

19- DO ĐẤT MÀ ĐƯỢC CHỨNG BỒ TÁT

 

           Ông Tŕ Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: - Con nhớ kiếp xưa thuở đức Phổ Quang Như Lai hiện thân ra đời. Con làm thầy Tỳ kheo thường đi đến các nẻo đường, bến đ̣, ruộng đất hiểm trở, hoặc không được bằng phẳng, pḥng hai xe ngựa, thi con đắp ngay ngắn, hoặc làm cầu cống, hoặc gánh cát, đất, siêng năng khổ nhọc như vậy, trải qua vô lượng đức Phật ra đời. Hoặc có chúng sanh ở chỗ chợ búa, cần người chuyển vật, con v́ họ trước hơn ai cả, chuyển đi đến nơi tận chỗ để đổ vật xuống, liền đi ngay, chứ không nhận lấy tiền thuê. Trong khoảng đức Phật Tỳ Xá Phù ra đời, ở thế gian, phần nhiều bị đói thiếu, con làm người chuyên chở không kể gần xa, chỉ lấy thuê một tiền; nếu có xe trâu mắc phải bùn lầy th́ con đem sức lực v́ chúng đẩy xe, cứu vớt sự khổ năo. Vị quốc vương thuở ấy, mời Phật thiết trai cúng dường; bấy giờ con sửa sang đất đai bằng phẳng chờ Phật đi qua. Đức Tỳ Xá Như Lai khi đi ngang qua, xoa đầu con và bảo: “Hăy b́nh tâm địa th́ thế giới đại địa tất cả đều b́nh”. Tâm con liền đặng mở mang, thấy rơ vi trần tạo thành ra thế giới, b́nh đẳng không khác; tự tánh của vi trần không chạm lẫn nhau, cho đến đao binh cũng chẳng hề đụng chạm; trong các pháp tự tánh, ngộ được vô sanh nhẫn, thành bực A La Hán. Xoay tâm tiểu thừa này vào trong vị Bồ tát, nghe các Như Lai nói chỗ tri kiến Phật như Diệu Liên Hoa; con đặng chứng tỏ lần đầu tiên mà làm vị thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông, con do chỗ đế quán hai thứ vi trần của căn thân và thế giới b́nh đẳng như nhau, vốn từ Như Lai tạng hư vọng phát sinh trần cấu, trần cấu tiêu rồi thí trí viên măn, thành Bồ tát, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ngài Tŕ Địa Bồ Tát nhân nơi địa đại mà chứng ngộ viên thông. Phàm những vị phát tâm hướng cầu Bồ đề mà tu Bồ tát hạnh, thường xem việc lợi tha làm trọng, lợi kỷ làm khinh, lắm khi v́ xả kỷ để mà lợi nhân cũng không tiếc. Nhưng phương tiện thực hành Bồ tát hạnh sai khác nhau, có vị dùng lời nói dịu dàng thuyết pháp để lợi ích chúng sanh, có vị đem tiền tài của cải bố thí để lợi ích chúng sanh v..v... c̣n như ngài Tŕ Địa th́ thường đem thân lực mạnh khỏe mà giúp ích nhiếp hóa chúng sanh; từ kiếp đức Phật Phổ Quang xuất thế, măi về sau vô lượng kiếp Ngài thường đi qua các nẻo đường, bến đ̣, và bất cứ nơi nào hiểm trở lầy lội, phương ngại người đi, ngài đều ra công tự gánh đất cát sửa sang bằng phẳng, xây dựng cầu cống hoặc gánh gồng mang chở vật nặng giúp người về tận nơi chỗ mà không lấy tiền thuê, cho đến đẩy dùm xe trâu bùn lầy tự đi không nổi v.v... Sau nhân gặp đức Tỳ Xá Như Lai dạy một câu rằng: “Nên b́nh tâm địa th́ đại địa thế giới tất cả đều b́nh”. Tâm liền khai ngộ, Ngài chứng quả vô sanh. Câu ấy nghĩa là tất cả đại địa vi trần từ trong thân đến ngoài thế giới đều giả dối, không có tự tánh, chỉ do nhất tâm biến hiện. Chúng sanh v́ mê không ngộ cảnh sở hiện ấy toàn là duy tâm, vốn không trong ngoài, năng sở cao thấp, nên mới thấy tướng bất b́nh; nếu gạt bỏ hết các vọng tưởng đảo điên, mà b́nh được tâm địa nơi ḿnh th́ đại địa ở ngoài thế giới tự nhiên bằng phẳng, xem thấy các vi trần hiệp thành nơi thân, vi trần hiệp thành ngoại giới vốn đồng một tâm, tâm đồng một tánh, b́nh đẳng như như, không ngăn ngại nhau th́ dù dao cắt vào thân thể như rạch vào hư không; vi trần không diệt cũng như băng tiêu tức thành nước, chỉ băng diệt chứ không bị mất. Pháp tánh vốn tự viên dung, chẳng có ǵ thêm, bớt, sanh, diệt. Nếu ngộ pháp tánh ấy tức là nhập chỗ tri kiến của Phật.

 

***

 

20- DO NƯỚC MÀ ĐƯỢC CHỨNG BỒ TÁT

 

           Ông Nguyệt Quang Đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng: 

           - Con nhớ hằng hà sa số kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Thủy Thiên, dạy các vị Bồ tát tu phép quán nước, chứng nhập chánh định. Quán nước ở trong thân, tánh nó không cướp đoạt nhau. Đầu tiên quán từ nước miếng, rồi đến mồ hôi, tinh huyết, đại tiện, tiểu tiện xoay vần trong thân mà vẫn đồng một tánh nước. Quán thấy nước ở trong thân cùng nước biển hương thủy nơi cơi phù tràng vương ngoài thế giới b́nh đẳng không sai khác. Lúc con mới thành pháp quán nước, th́ chỉ trong thấy nước mà chưa được không thân (nghĩa c̣n chấp có thân này). Đang lúc c̣n làm Tỳ kheo yên lặng tu thiền ở trong nhà, th́ có người đệ tử từ nơi cửa sổ ngó vào, chỉ thấy nước trong khắp đầy cả nhà, không thấy ǵ khác, nó trẻ dại không biết, liền lấy một viên ngói quăng vào trong nước quấy nước lên tiếng, ngó quanh quẩn rồi bỏ đi; sau khi con xuất định, liền cảm nghe đau bụng, giống như ông Xá Lợi Phất gặp phải nạn quỷ vi hại. Con tự suy nghĩ: Nay ta đă được quả A La Hán, khỏi bịnh duyên lâu ngày, v́ sao nay bỗng phát sinh đau bụng, chừng bị thối thất chăng! Bấy giờ đứa nhỏ thẳng đến trước con, nói lại việc như trên; con liền bảo: “Hễ ngươi trông thấy nước lại, th́ nên liền mở cửa vào lượm viên ngói quăng đi”. Đứa nhỏ vâng lời, lúc sau con nhập định, nó trở lại thấy nước và viên ngói rơ ràng, liền mở cửa lượm ra. Đến khi con xuất định, thần thể lại y như cũ. Gặp vô lượng Phật, như vậy đến đời đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai, con được vong thân, thân cùng nước biển hương thủy khắp mười phương hiệp một tánh chơn không, không hai không khác. Ngày nay đối trước Như Lai được danh hiệu Đồng Chơn, dự hội Bồ tát. Nay Phật hỏi viên thông con do thủy tánh, một vị lưu thông, chứng được phép vô sanh nhẫn, viên măn đạo Bồ đề, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Nguyệt Quang đồng tử nhân quán thủy đại mà ngộ nhập viên thông. Thủy đại là chỉ tất cả nước trong biển cả, nước lưu hành trong thân v.v... thủy thấy in tuồng có trong có ngoài, mà vốn dung thông. Quán thủy đại dung thông cùng khắp thế giới, không chỗ nào không phải nước, toàn một tướng nước mà thôi, th́ tâm phân biệt tiêu diệt, chân trí vô phân biệt hiện ra. Nhưng đây ông Nguyệt Quang lúc đầu v́ chưa chứng được chơn tự tánh; tánh thủy tức là chơn không, tánh thân tức là chơn không, tất cả đều chơn, tất cả đều không; nên ông thấy c̣n có thân, c̣n đem thân nhập định, dụng tâm quán nước, chứ chưa phải tâm tức là định, định tức là tâm, tâm tức là nước, nước tức là tâm. Vậy nên khi nhập định quán nước, có tướng nước hiện tiền, đứa đồng tử thấy nước quăng ngói vào trong, đến khi xuất định tướng nước không c̣n, lại nghe tâm đau; về sau gặp đời đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương xuất thế mới được vong thân; thân đă vong, pháp cũng diệt, th́ cùng mười phương đồng một tánh thủy chơn không, không hai không khác, chẳng nhập định xuất định, mà tự nhiên chứng được vô sanh pháp nhẫn.

 

***

 

21- DO GIÓ MÀ CHỨNG THÁNH QUẢ

 

           Ông Lưu Ly Quang Pháp vương tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: 

           - Con c̣n nhớ trải qua hằng hà sa số kiếp trước, có đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng Thanh, khai thị tánh Bổn giác diệu minh cho các hàng Bồ tát, quán thế giới này và các thân chúng sanh, đều bởi sức gió nhân duyên hư vọng chuyển biến ra. Lúc bấy giờ con quán cơi nước đứng yên, quán thời gian qua lại, quán thân phần đi đứng, quán tâm niệm động lay, tất cả các thứ động không hai, như nhau không sai khác.

           Con hiểu biết rằng tánh của các món động ấy, đến th́ không có chỗ ban đầu, đi không nơi cùng tột; chúng sanh điên đảo số như vi trần trong mười phương, đều đồng một tánh hư vọng cả. Như vậy cho đến những loại chúng sanh ở trong một Tam thiên đại thiên thế giới, chẳng khác nào trong một cái đồ chứa hàng trăm ṃng muỗi vo vo loạn lạc, ở trong phân tấc nổi sanh cuồng náo, gặp Phật chưa bao lâu mà chứng vô sanh nhẫn; bây giờ tâm địa mở mang, trông thấy phương đông cơi Phật bất động, làm con đấng Pháp vương (Phật), kính thờ mười phương Phật, thân tâm phát sáng, rỗng suốt không ngăn ngại. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát phong lực giả dối không chỗ nương, ngộ tâm Bồ đề chứng nhập tam ma địa, hiệp với mười phương Phật, toàn một diệu giác tâm, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ông Lưu Ly Quang pháp vương tử do phong đại mà ngộ nhập viên thông. Tánh bổn giác diệu minh thường không diêu động, nhân xem thấy sự chuyển lay gọi là phong đại hay phong lực. Ông Lưu ly Quang thường quán tất cả thân tâm thế giới đều nhơn phong lực chuyển biến, nào sự thành lập phương cơi, sự qua lại của thời gian; sự động chỉ nơi thân, sự động niệm nơi tâm, thảy đều không tự tánh, đều do sức gió hư vọng phát sanh, không thật có đến có đi, hay có sanh diệt; chúng sanh không nhận biết, chỉ do một tánh hư vọng như thế, nên cuộc chấp nơi thân phần bé nhỏ, thân lại ràng buộc vào thế giới; rồi tự chịu lấy sự sanh tử luân hồi rất là đảo điên oan uổng; không khác nào trăm ngàn con ṃng muỗi vô tri ở trong đồ hẹp bé gang tấc, tự kêu la inh ỏi, diêu động lăng xăng, mà thật ra gió hư vọng không chỗ nương, chỉ nương Bồ đề bổn giác. Như sóng nổi từ nước, hễ gió hư vọng tiêu, tức Bồ đề hiển lộ thông suốt không ngại. Mười phương chư Phật đều lấy cái đó làm tâm; hết thảy chúng sanh cũng lấy đó làm tâm, chỉ một diệu tâm vô nhị ấy; nhưng mà chứng nhập được là phải diệt hết mê lầm.

 

***

 

22- DO HƯ KHÔNG MÀ CHỨNG BỒ TÁT

 

           Ông Hư Không Tạng Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: 

           - Con với đức Như Lai cùng ở thời đức Phật Định Quang (Phật Nhiên Đăng) chứng được vô biên thân, lúc ấy tay cẩm 4 viên bảo châu lớn, chiếu sáng mười phương cơi Phật số như vi trần, đều hóa thành hư không. Lại nơi tự tâm hiện ra cái gương tṛn lớn, từ gương phóng ra mười ánh sáng vi diệu quư báu; trong ánh sáng lưu xuất mười phương các cơi nước khắp hư không, rồi trở lại vào trong gương và lần vào thân con. Thân đồng như hư không, chẳng c̣n sợ ngăn ngại, nên có thể khéo léo hiện thân vào các quốc độ số như vi trần, rộng làm Phật sự, được công đức tùy thuận rộng lớn.
           Đạt thần lực như thế ấy là con chín chắn quán sát tứ đại không chỗ nương, sanh diệt theo vọng tưởng; hư không không hai và cơi Phật vốn đồng, phát minh tới chỗ đồng, chứng đặng vô sanh nhẫn. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát hư không không ngằn, ngộ nhập Tam ma địa, diệu lực viên măn sáng suốt, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ngài Hư Không Tạng Bồ tát nhân tu không đại mà chứng nhập viên thông. Quán sát 4 món đại là giả dối, như huyễn đều do vọng tưởng của chúng sanh phát hiện; mà vọng tưởng không có thiệt tánh, y nơi nhứt tâm; khi đă ngộ lư duy tâm triệt để th́ cả 4 đại sắc không, bổn lai b́nh đẳng như hư không. Như bài kệ nói:

           Hư không chẳng phải cao, thấp cũng không thể có; các pháp cũng như vậy, tánh vốn không cao thấp. Bồ tát Hư Không Tạng, đặng kho tàng hư không. Đầy đủ cho hữu t́nh, thức ấy không cùng tận.

           Đem thức tâm hư không vô tận ấy mà ấn nhập tất cả pháp, th́ pháp nào cũng vô tận, toàn tâm là sắc, vậy nên tất cả pháp đều duy tâm sở hiện, duy tâm không có trong ngoài.

           Trong bài này, ngọc châu là tiêu biểu sắc pháp, gương sáng là tiêu biểu tâm pháp. Toàn sắc là tâm không phân chia chủ bạn, nên hay soi chiếu mười phương vi trần cơi Phật hóa thành hư không. Toàn tâm là sắc, không phải xa rời nơi bổn tế. Nên hay phóng quang hiện phương cơi, đều vào trong gương, trong thân không chút nào ngăn ngại; chính nơi thân mà hiện độ, nơi độ mà hiện thân, để hoằng pháp độ sanh, tiếp nối Phật chủng mà không bao giờ trái với tánh b́nh đẳng thanh tịnh của pháp thân, nên gọi là đức tùy thuận rộng lớn.

 

***

 

23- DO THỨC ĐẠI MÀ CHỨNG THÁNH QUẢ

 

           Ngài Di Lặc Bồ tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: 

           - Con nhớ trải qua vi trần số kiếp về trước, có đức Phật ra đời là Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Từ đức Phật ấy, con được xuất gia, nhưng tâm con c̣n nặng nề thế danh, ưa giao du với các gịng quyền quư. Lúc ấy đức Thế Tôn dạy con tu tập pháp định duy tâm thức mà ngộ nhập Tam ma địa. Nhiều kiếp lại đây, do sức Tam muội ấy, con kính thờ hằng hà sa số Phật và tâm ham chuộng thế danh kia nay đă hết. Đến kiếp đức Phật Nhiên Đăng ra đời, con mới được chứng pháp vô thượng diệu viên thức tâm tam muội, thấy khắp hư không, các cơi nước dù uế, tịnh, có, không, thảy đều do tâm thức con biến hóa hiện ra. Bạch Thế Tôn! Bởi con liễu chứng duy tâm thức tánh như vậy, từ thức tánh xuất hiện vô lượng Như Lai, nên nay đặng Phật thọ kư sẽ bổ xứ làm Phật. Nay Phật hỏi viên thông, con do chín chắn quán sát mười phương đều là duy thức, thức tâm viên măn sáng suốt, chứng nhập tánh viên thành thật, xa ĺa tánh y tha và biến kế chấp, ngộ vô sanh nhẫn, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đức Di Lặc Bồ tát nhân tu duy thức mà ngộ viên thông. 

           Ngộ tất cả vạn Pháp đều do nơi thức biến hiện th́ cảnh nào cũng là tánh cảnh, cũng là tánh viên thành thật. Không ngộ tất cả vạn pháp do nơi thức biến hiện, in tuồng sanh mà không thật sanh, in tuồng diệt mà không thật diệt; nếu chấp thiệt có sanh diệt, thành pháp y tha. Các pháp do y tha (nhân duyên) sanh khởi mà không nhận là y tha, lại so đo sai lầm, chấp có ngă, ngă sở, cho nên thường bị danh tướng thế gian ràng buộc. Tâm c̣n ham chuộng thế danh, v́ c̣n cho thế gian là thiệt. Trái lại, sau khi ngài Di Lặc tu tập phép duy tâm, duy thức, quán sát tất cả danh là giả, tất cả tưởng là giả, không v́ duyên ǵ c̣n làm sanh trưởng tâm ham mê danh vị được nữa. Lần lần chứng được vô thượng diệu viên thức tâm tam muội (chơn duy thức tánh) chẳng những không thấy thiệt có tướng vạn pháp, cũng không c̣n thấy thiệt có tướng duy thức; v́ mười phương Như Lai, quốc độ sắc không v.v... đều không món nào ra ngoài thức tánh ấy mà tự có. Các pháp đă là thức tánh, th́ pháp pháp đều là tự tánh viên măn, thành tựu chân thật, nơi tánh viên thành, sanh vốn vô sanh. Cho nên xa ĺa y tha như huyễn, nơi tánh viên thành không thiệt có ngă và ngă sở, xa ĺa biến kế sai lầm, chứng pháp vô sanh nhẫn.

 

***

 

24- DO KIẾN ĐẠI MÀ CHỨNG THÁNH QUẢ

 

           Ngài Đại Thế Chí pháp vương tử cùng các Bồ tát đồng hàng là năm mươi hai vị, liền từ chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật và bạch rằng:

           - Con nhớ hằng sa số kiếp trước, có đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng Quang. Nội trong một kiếp ấy, mười hai đấng Như Lai kế nhau ra đ̣i. Vị Phật sau hết hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt Quang. Ngài dạy con tu phép Niệm Phật Tam muội. Ví như có hai người, một đàng chuyên nhớ, một đàng chuyên quên, th́ hai người ấy hoặc gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù thấy nhau cũng như không thấy; nếu cả hai người nhớ nhau, hai mối nhớ càng ăn sâu th́ dù đời này cho đến trải qua đời khác, cũng luôn luôn như bóng với h́nh, không bao giờ trái xa.
           Mười phương các đức Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, tuy mẹ nhớ cũng chẳng có ích ǵ; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, th́ mẹ con đời đời không xa cách nhau. Nếu chúng sanh đem tâm nhớ Phật, niệm Phật th́ hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng cần tu hành phương tiện nào khác mà tự nhiên tâm được khai ngộ. Cũng như người ướp hương mà thân có hương như thế gọi là dùng hương quan để trang nghiêm vậy. Chỗ bổn nhơn tu hành của con là do tâm niệm Phật mà ngộ vô sanh nhẫn, nguyện ở cơi này để nhiếp hóa mọi người niệm Phật văng sanh Tịnh độ. Nay Phật hỏi viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên thâu nhiếp cả sáu căn, khiến cho Tịnh niệm nối luôn, được vào Tam ma địa, ấy là thứ nhứt.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Kiến đại cũng tức là căn đại; trước thức đại thuộc về thức, đây kiến đại thuộc về căn. Ngài Đại Thế Chí Pháp vương tử, nhơn tu kiến đại mà ngộ nhập viên thông. 

           Không như các viên thông trước, chỉ lựa chọn từng căn để hạ thủ công phu, mà trái lại ở đây, ngài Đại Thế Chí nhân pháp niệm Phật Tam muội nhiếp phục cả 6 căn, quy cả 6 căn đều thâu về nơi nhứt niệm niệm Phật, không để tán loạn dong ruổi theo ngoại duyên. Tịnh niệm thường nối luôn, không xen một niệm ǵ khác, th́ quyết nhiên chứng đặng niệm Phật tam muội, thường thương xót tưởng niệm chúng sanh, như nhớ con dại; nếu chúng sanh chuyên tâm nhớ Phật, niệm Phật như con biết nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, th́ hiện tiền hoặc tương lai, quyết định gặp Phật, thấy Phật, v́ nhân nào quả nấy mảy mún không sai. Trái lại, Phật tuy nhớ chúng sanh, mà chúng sanh cứ trốn tránh không biết nhớ Phật; cũng như hai người, một bên chuyên nhớ, c̣n một bên chuyên quên, th́ gặp cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy, chẳng ích ǵ. 

           Vả chăng, tâm mê ngộ của chúng sanh cũng như mẹ và con vậy. Tâm ngộ như mẹ, tâm mê như con, ngộ luôn luôn có trong mê, ví như mẹ thương nhớ con, mà mê th́ không biết tự nhận, niệm niệm chuyển dời trái tánh giác, hiệp trần lao, ví như con trốn tránh không nhớ nghĩ đến mẹ, bởi vậy mà uổng chịu luân hồi sanh tử! Nếu biết phản quán, đem tâm niệm Phật giác ngộ nơi tự tâm, th́ mỗi phút, mê hóa thành giác, năng sở đều chứng nhập tánh pháp giới b́nh đẳng, không ly đương độ mà nhiếp hóa những chúng sanh niệm Phật đồng văng sanh Tịnh độ.

 

           Bảy vị trên đây do tu bảy đại mà chứng đạo quả.

 

***

 

25- DO NHĨ CĂN MÀ ĐƯỢC NGỘ ĐẠO

 

           Khi đó, đức Quán Thế Âm Bồ tát đứng dậy cung kính lạy Phật và thưa rằng:

           - Bạch Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có Phật ra đời, tên là Quán Âm. Con đối với trước Phật Quán Âm phát tâm Bồ đề. Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ và tu mà được vào chánh định (văn, tư, tu là điều cần yếu của người tu hành).

           Khi mới nghe tiếng, không chạy theo thinh trần, xoay cái nghe trở vào chơn tánh (nhập lưu vong sở). V́ chỗ vào (chơn tánh) đă yên lặng, nên độ và tịnh hai món trần cảnh không sanh.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đại ư đoạn này nói: Khi cái nghe đối với tiếng, không khởi vọng niệm phân biệt theo tiếng, do xoay cái nghe trở lại tự tánh, nên tâm yên, cảnh tịch. Đây mới giai đoạn thứ nhứt.

 

***

 

           Như thế lần lần tăng tấn đến cái nghe (năng) và cảnh bị nghe (sở) cũng hết (đoạn trên nói thinh trần yên tịnh, song c̣n cái nghe; đoạn này nói “cái nghe” và “trần bị nghe” đều hết). 

           Cũng không an trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết củng không c̣n (đoạn trên nói “cái nghe với cái bị nghe hết”, nhưng c̣n chấp ở nơi “cái hết”. Đoạn này nói cũng không chấp ở nơi chỗ hết. Song sợ e c̣n “cái biết hết”, nên nói tiếp: cái biết và cái bị biết cũng không). 

           “Cái biết” và “cái bị biết” cả hai đều không, đến chỗ cùng tột viên măn. Song hăy c̣n cái “không”, phải tiến lên một từng nữa là cái “không” với cái “bị không” cả hai đều diệt hết. Khi các cái sanh và diệt đă diệt hết, th́ cái chơn tâm tịch diệt hiện tiền.

 

***

 

LƯỢC GIẢI

 

           Cách tu hành của Ngài Quán Thế Âm Bồ tát là: 

           1. Bắt đầu từ khi cái nghe đối với thinh trần, không khởi phân biệt theo thinh trần, nên thinh trần tự vắng lặng; song c̣n cái “nghe”. 

           2. Đến giai đoạn thứ hai cái nghe (năng, sở) cũng hết, song c̣n cái “hết”. 

           3. Đến từng thứ ba không chấp ở nơi hết, song c̣n cái “biết hết”. 

           4. Đến từng thứ tư là “cái biết” đó cũng không, song c̣n cái “không”. 

           5. Lên đến từng thứ năm là cái “không” đó cũng không c̣n. Lúc bấy giờ các cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết, th́ chơn tâm thanh tịnh tự hiện bày; cũng như các cặn đục đă hết, th́ tánh nước trong tự hiện. Mười phương các đức Phật hay các vị đại Bồ tát tu hành, chỉ có một con đường duy nhứt là trừ hết “vọng” th́ “chơn” hiện bày, như lau gương sạch bụi, th́ ánh sáng tự hiện, thế gọi là thành Phật, hay là chứng đại Niết bàn.

 

***

 

IV.  Ngài Quán Âm kể lại sự kết quả

 

           (Đoạn trên là Ngài ngộ được chơn tâm, từ đây về sau là chơn tâm khởi ra diệu dụng)
           - Bạch Thế Tôn, do con tu như vậy, nên vượt ra khỏi thế gian, và xuất thế gian. V́ đă được chơn tâm thanh tịnh sáng suốt viên măn khắp cả mười phương cùng với chư Phật và chúng sanh đồng một thể tánh ấy, nên con được hai điều thù thắng: 

           a. Hiệp với đức “từ độ sanh” của chư Phật. 

           b. Hiệp vời ḷng “bi ngưỡng mộ” của tất cả chúng sanh. Và được các món diệu dụng như sau:

 

A. HIỆN RA 32 ỨNG THÂN ĐỂ HÓA ĐỘ TẤT CẢ CHÚNG SANH

 

           - Bạch Thế Tôn, con nhờ chứng được chỗ đồng thể đó, nên cùng với chư Phật hiệp đức từ, hiện ra 32 ứng thân để tùy thuận theo các chúng sanh mà hóa độ.

1.  Hiện thân Phật 

2.  Hiện thân Độc giác 

3.  Hiện thân Duyên giác 

4.  Hiện thân Thinh văn 

5.  Hiện thân Phạm vương 

6.  Hiện thân Đế thích 

7.  Hiện thân Trời tự tại 

8.  Hiện thân Trời đại tự tại 

9.  Hiện thân Đại tướng quân 

10.Hiện thân Tứ thiên vươong 

11. Hiện thân Thái tử 

12. Hiện thân vua 

13. Hiện thân trưởng giả 

14. Hiện thân cư sĩ 

15. Hiện thân tể quan 

16. Hiện thân Bà la môn 

17. Hiện thân Tỳ kheo 

18. Hiện thân Tỳ kheo ni 

19. Hiện thân Ưu bà tắc 

20. Hiện thân Ưu bà di 

21. Hiện thân bà Chúa 

22. Hiện thân đồng nam 

23. Hiện thân đồng nữ 

24. Hiện thân Trời 

25. Hiện thân Rồng 

26. Hiện thân Dược xoa 

27. Hiện thân Càn thát bà 

28. Hiện thân A tu la 

29. Hiện thân Khẩn na la 

30. Hiện thân Ma hầu la đà 

31. Hiện thân người 

32. Hiện thân các chúng sanh

B. ĐƯỢC 14 MÓN KHÔNG SỢ

 

           - Bạch Thế Tôn, con nhờ tu pháp này, chứng được chỗ đồng thể với chúng sanh, nên cùng với chúng sanh đồng một ḷng bi ngưỡng mộ. V́ thế nên con khiến cho các chúng sanh đặng 14 món không sợ.

 

1.  Chúng sanh khổ năo quán tiếng tăm được giải thoát 

2.  Vào lửa không cháy 

3.  Vào nước không ch́m 

4.  Quỷ không hại được 

5.  Dao chặt không đứt 

6.  Quỷ không thể thấy được 

7.  Không ai trói cột được 

8.  Không ai trộm cướp được 

9.  Ĺa tâm dâm dục 

10. Ĺa nóng giận 

11. Ĺa si mê 

12. Cầu nam đặng nam 

13. Cầu nữ đặng nữ 

14. Niệm danh hiệu Quán Thế Âm công đức bằng niệm danh hiệu của hằng sa Bồ tát

 

C. ĐƯỢC 4 MÓN KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

 

           - Bạch Thế Tôn, con nhờ tu pháp môn này mà đặng bốn món thần diệu không thể nghĩ bàn:

 

1.  Hiện nhiều đầu, nhiều tay và nhiều mắt 

2.  Hiện h́nh nói thần chú 

3.  Chúng sanh hy sinh tài sản cầu con thương xót 

4.  Chúng sanh cầu chi được nấy

 

           - Bạch Thế Tôn, do đó mà đức Phật Quán Âm thọ kư cho con tên là Quán Thế Âm. 

Trở Lên

Bài Thứ Mười Ba: 
Phật bảo Ngài Văn Thù lựa pháp tu viên thông

 

Mục Lục 

I. Phật bảo Ngài Văn Thù lựa pháp tu viên thông 
II. Ngài Văn Thù vâng lời Phật lựa phương pháp tu 
III. Chúng sanh ở thế giới ta bà này nhờ có nghe pháp mới biết đường lối tu hành 
IV. Công năng của nhĩ căn (tai nghe) 
V. Ngài Văn Thù quở trách ông A Nan học nhiều mà không tu 
VI. Các vị nghe pháp được chứng ngộ 
VII.  A Nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp để độ chúng sanh đời sau 
VIII. Phật dạy phải tu giới, định, huệ 
IX.  Đây nói về đại thừa tâm giới có bốn: dâm, sát, đạo, vọng 

 

I. Phật bảo Ngài Văn Thù lựa pháp tu viên thông

 

           Khi ấy Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi:
           -Ông đă nghe các vị đại Bồ tát và A La Hán vừa tŕnh bày các phương pháp tu hành được thành đạo quả. Thật ra 25 pháp tu này, đối với các vị thánh, th́ tu pháp nào cũng đều được chứng quả cả, không có pháp nào hơn và kém. Song nay ta muốn cho A Nan và chúng sanh đời sau, nếu muốn vào đại thừa Bồ tát th́ đối với 25 pháp tu này, ông nên lựa pháp nào tu hành để mau thành đạo vô thượng Bồ đề.

 

II. Ngài Văn Thù vâng lời Phật lựa phương pháp tu

 

           Ngài Văn Thù Sư Lợi vâng lời Phật dạy, đứng dậy lạy Phật, kính cẩn nói bài kệ, khen chơn tâm nhiệm mầu sáng suốt, chỉ rơ cái “vọng” vốn không và lựa chọn pháp tu viên thông.

 

NGUYÊN VĂN CHỮ HÁN

 

Giác hải tánh trừng viên 
Viên trừng giác nguyên diệu 
Nguyên minh chiếu sanh sở 
Sở lập chiếu tánh vong


Mê vọng hữu hư không 
Y không lập thế giới 
Tưởng trừng thành quốc độ 
Trí giác năi chúng sanh


Không sanh đại giác trung 
Như hải nhứt âu phát 
Hữu lậu vi trần quốc 
Giai y không sở sanh


Âu diệt không bổn vô 
Huống phục chư tam hữu 
Quy nguyên tánh vô nhị 
Phương tiện hữu đa môn


Thánh tánh vô bát thông 
Thuận nghịch giai phương tiện 
Sơ tâm nhập tam muội 
Tŕ tốc bất đồng luân...

 

DỊCH NGHĨA

 

           -Chơn tâm thanh tịnh viên măn lại nhiệm mầu, như biển đứng lặng và rộng sâu. V́ vọng động chiếu soi (phân biệt) nên sanh ra có cảnh bị chiếu (bị phân biệt). Khi năng, sở đă vọng sanh, th́ cái “tánh chơn” lại ẩn (chiếu tánh vong).

 

LƯỢC GIẢI

 

           Như biển đứng lặng lóng trong, v́ xao động nên thành sóng, lúc bấy giờ tánh trong lặng của nước bị ẩn đi v.v...

 

***

 

           Từ mê muội vọng động cho nên có hư không, nhơn hư không mà có thế giới. Những vọng tưởng si mê lóng lại thành ra thế giới, c̣n cái phân biệt hiểu biết th́ làm chúng sanh.

Hư không sanh ở trong chơn tâm rộng lớn này, cũng như chùm bọt nổi trên mặt biển. Thế giới nhiều như vi trần đều y hư không mà sanh; khi bọt tan cũng như hư không diệt, th́ hằng sa thế giới đều tiêu hết. 

           Trở về chơn tâm th́ đồng một, nhưng trên đường tu có nhiều phương tiện. Đối với bực Thánh, tu pháp nào cũng đều là phương tiện cả. C̣n đối với kẻ sơ tâm tu hành lại có khó và dễ, bởi căn cơ không đồng. Hôm nay con xét 25 pháp tu của các vị Thánh vừa tŕnh bày, th́ duy có pháp tu nhĩ căn (tai nghe) của ngài Quán Âm mới là viên thông.

 

III. Chúng sanh ở thế giới ta bà này nhờ có nghe pháp mới biết đường lối tu hành

 

           Bạch Thế Tôn, Phật ra đời ở thế giới Ta bà này, dùng âm thanh nói pháp để giáo hóa chúng sanh. Chúng sanh nhờ có nghe tiếng của Phật nói pháp mới biết đường lối tu hành được thanh tịnh. Hôm nay muốn đặng chánh định, quyết phải nhờ có nghe rồi mới tu được.

 

IV. Công năng của nhĩ căn (tai nghe)

 

           - Bạch Thế Tôn, như lời Ngài Quán Thế Âm nói: “Ngài ở chỗ thanh vắng, mười phương đồng đánh trống, nhứt thời đồng được nghe”; nên duy có nhĩ căn (tai nghe) mới được viên thông. Mắt xem c̣n bị cách ngại; miệng, mũi, thân và ư cũng không bằng, chỉ có nhĩ căn là hơn hết. Mặc dầu bị cách vách, hay tiếng ở xa gần, tai đều nghe được cả, nên nhĩ căn mới thật là viên thông.

           Âm thanh khi có, khi không, c̣n cái nghe lúc nào cũng có. Khi không có tiếng, thế gian nói rằng: “không nghe”; thật ra chẳng phải “cái nghe” không có. Không tiếng, cái nghe không diệt; có tiếng, cái nghe cũng không sanh. Bởi cái nghe không có sanh và diệt, nên nó mới thật là thường. 

           Dầu cho ở trong chiêm bao, tâm không có suy nghĩ phân biệt, mà “cái nghe” ấy cũng không mất (v́ khi chiêm bao vẫn c̣n nghe tiếng chày giă gạo). Cái nghe, nó thoát ngoài tâm niệm suy nghĩ phân biệt, nên thân và tâm (thức thứ sáu) đều không bằng (không bằng tiếng nghe).

 

V. Ngài Văn Thù quở trách ông A Nan học nhiều mà không tu

 

           - Nay chúng sanh ở thế giới Ta bà này, nhờ có nghe nói chỉ dạy, nên mới hiểu biết tu hành. Song chúng sanh v́ mê cái “tánh nghe thường c̣n” của ḿnh, cứ chạy theo tiếng nói phân biệt, cho nên mới bị lưu chuyển.
           A Nan, ông tuy học rộng nhớ nhiều, nhưng v́ chạy theo vọng trần phân biệt, nên không khỏi đọa lạc theo tà. Nếu ông xoay cái nghe trở vào tự tánh, th́ sẽ đặng hết vọng.

A Nan, ông nên chú ư nghe: Tôi vâng oai thần của Phật, nói pháp môn tu hành này. Ông đem cái nghe của ông, nghe tất cả pháp môn thâm mật của chư Phật, nhiều như vi trần, nếu các phiền năo dục lậu không trừ, th́ cái nghe càng thêm lầm lỗi. Ông biết đem cái nghe của ông, nghe các pháp môn của chư Phật, sao ông không đem cái nghe đó, trở lại nghe “tánh nghe” (chơn tánh) của ḿnh. 

           A Nan, cái “nghe” nó không phải tự nhiên sanh, do có tiếng (thinh trần) nên mới gọi rằng “nghe”. Nếu xoay cái nghe trở vào tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được cái tiếng (thinh trần) lúc bấy giờ cái nghe này cũng không c̣n gọi tên là nghe nữa (v́ không c̣n đối đăi, nên chẳng tên kêu gọi). Một căn (lỗ tai) đă được phản vọng trở về chơn rồi, th́ cả sáu căn cũng đều được giải thoát.

           A Nan, các trí giác: thấy, nghe, hay, biết của ông đó, đều là hư huyễn, như con mắt bị nhặm. C̣n ba cơi sum la vạn tượng đây, cũng không thật, đều như hoa đốm giữa hư không. Khi cái thấy, nghe, hay, biết xoay trở lại chơn rồi, th́ cũng như con mắt kia hết nhặm. Khi cái vọng trần tiêu hết, th́ tâm ông được thanh tịnh.

 

LƯỢC GIẢI

 

           V́ vọng động cho nên mới có thấy, nghe, hay, biết là năng phân biệt. Bởi có năng phân biệt, nên mới có cảnh bị phân biệt là ba cơi muôn vật. Đến khi năng phân biệt hết, th́ cảnh bị phân biệt cũng tiêu, lúc bấy giờ chơn tánh hiện bày. Cũng như v́ mắt nhặm nên mới thấy hoa đốm, đến khi nhặm  hết th́ hoa đốm không c̣n, và chỉ c̣n con mắt trong sáng.

 

***

 

           Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thí cái trí quang sáng suốt hiện ra. Lúc bấy giờ chơn tâm ông vừa tịch tịnh lại vừa chiếu soi, bao trùm khắp cả mười phương hư không thế giới, lúc bấy giờ ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế gian này, cũng như là việc trong chiêm bao. Khi ông được như thế rồi th́ nàng Ma đăng già ở trong mộng kia làm ǵ bắt ông được!

           A Nan dụ như các nhà huyễn thuật, làm các thứ h́nh, tuy có thấy cử động, nhưng cốt yếu là tại cái máy rút. Nếu máy kia thôi rút, th́ các h́nh huyễn kia yên lặng, đều không có tự tánh.

           Sáu căn của ông cũng thế, gốc từ nơi tâm, v́ vô minh vọng động thành ra sáu căn, nếu một căn được phản vọng về chơn rồi, th́ sáu dụng kia (sáu giác quan) đều không thành. Nếu trần cấu c̣n th́ ông vẫn c̣n ở địa vị hữu học (c̣n phải tu). Khi trần cấu hết, th́ tâm tánh ông được hoàn toàn sáng suốt, đó là Phật.

           A Nan, ông chỉ xoay cái nghe của ḿnh trở về chơn tánh, không chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, th́ ông liền thành đạo vô thượng, đây thật là pháp tu viên thông.

           Các đức Phật nhiều như số vi trần cũng đều do một con đường này mà đến cửa Niết bàn. Hiện tại các vị Bồ tát và những người tu hành đời sau, đều y pháp môn này mà thành đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn này mà được chứng quả, đâu phải một ḿnh Ngài Quán Thế Âm tu mà thôi.

           Nay Phật dạy cho con lựa pháp môn tu hành, để cho người đời sau tu hành mau thành đạo quả, th́ duy có pháp tu của Ngài Quán Thế Âm là hơn hết. C̣n bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ oai thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp trừ trần lao, nên không phải là một phương pháp trường kỳ tu tập.

           Kính lạy đức Như Lai, xin Ngài gia hộ cho chúng sanh đời sau, đối với pháp môn này không c̣n mê lầm. Bạch Thế Tôn, phương pháp này rất là dễ tu, mau được thành đạo quả, có thể đem dạy A Nan và chúng sanh đời sau, y theo đây tu hành th́ hơn các phương pháp khác. Đây là do ḷng thành của con lựa chọn như thế.

 

VI. Các vị nghe pháp được chứng ngộ

 

           A Nan và đại chúng nghe ngài Văn Thù nói bài kệ rồi th́ tâm tánh đều được khai ngộ, đối với quả Phật Bồ đề và đại Niết bàn hiểu rất rành rơ, cũng như người đi xa quê hương, đă biết rơ con đường về nhà, nhưng chưa có dịp trở về. Trong đại hội có vô số Thiên, Long, Bát bộ, các hàng Nhị thừa hữu học và các vị Bồ tát mới phát tâm, đều được xa ĺa trần cấu, ngộ được chơn tâm. Bà Tánh Tỳ kheo ni nghe bài kệ này rồi, đặng thánh A La Hán và vô lượng chúng sanh đều phát Bồ đề tâm.

_______________________ 

LƯU Ư:  
Từ trước đến đây là nói về phần y ngộ đốn tu 

Từ đây về sau là nói phần tiệm tu
 

VII.  A Nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp để độ chúng sanh đời sau

 

           A Nan cúi đầu lạy Phật kính cẩn thưa rằng: -Bạch Thế Tôn, con nay đă hiểu pháp môn tu 
hành để thành Phật rồi; trên đường tu hành con không lầm lạc nữa. Nhưng con thường nghe Phật dạy: 

           “Người chưa được ngộ mà muốn độ người, đó là tâm Bồ tát. C̣n người đă được giác ngộ hoàn toàn, rồi giác ngộ cho người, đó là việc làm của Như Lai”. Nay con chưa được độ, mà phát tâm muốn độ tất cả chúng sanh đời sau.

           Bạch Thế Tôn, tất cả chúng sanh đời sau cách Phật càng xa, lại gặp chúng tà sư ngoại đạo nói pháp nhiều như cát bụi. Vậy nếu có chúng sanh phát tâm tu hành, th́ làm sao để tránh xa các ma chướng, đối với con đường Bồ đề, tâm không thối lui?

 

VIII. Phật dạy phải tu giới, định, huệ

 

           Phật khen A Nan và dạy rằng: -Ông hỏi phương pháp tu hành để độ chúng sanh trầm luân đời sau, vậy ông nên chú ư nghe, ta sẽ v́ ông chỉ dạy.
           - Này A Nan, ông đă thường nghe ta dạy, người tu hành quyết định phải đủ ba điều cần yếu:

           1- Dùng giới luật nhiếp phục tự tâm
           2- Nhơn giữ giới, tâm mới sanh định
           3- Nhơn định, tâm phát huệ


           Đây gọi là ba món tu vô lậu.
           (V́ tu ba phép này, th́ không c̣n sa đọa)

 

LƯỢC GIẢI

 

           Ngài An Pháp sư nói: “Giới, định, huệ là cái cửa của người và đạo, cũng là cái ải trọng yếu để vào thành Niết bàn”.

           Ngài La Thập Pháp sư nói: “Tŕ giới mới hay chiết phục được phiền năo làm cho phiền năo yếu thế. Thiền định như bốn cái núi để ngăn gịng nước phiền năo. Trí huệ diệt được hết phiền năo”. 

           Trong kinh Niết bàn nói: “Có phiền năo th́ không trí huệ, có trí huệ th́ không phiền năo”.

 

***

 

IX.  Đây nói về đại thừa tâm giới có bốn: dâm, sát, đạo, vọng

 

           A. Trước đoạn ḷng dâm: -A Nan, tại sao dùng giới luật để nhiếp phục tự tâm?
           - Này A Nan, nếu các chúng sanh trong tâm không c̣n nghĩ đến việc dâm dục nữa, th́ sẽ ra khỏi sanh tử luân hồi.

           Ông tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục không trừ, th́ cảnh trần lao không bao giờ ra khỏi. Dầu cho ông hiện tiền đặng nhiều trí huệ và thiền định, cũng sẽ đọa vào ma đạo. Thượng phẩm làm ma chúa, trung phẩm làm ma dân, hạ phẩm làm ma nữ. Các loài ma kia cũng đều có đồ đệ và tự xưng đă thành đạo vô thượng Bồ đề.

Sau khi ta nhập diệt rồi, vào đời mạt pháp, chúng ma này rất thạnh hành trong thế gian, ưa làm việc tham dục, xưng là thiện tri thức của chúng sanh, khiến cho chúng sanh đọa vào hầm tà kiến, mất con đường Bồ đề.

           A Nan, ông tu thiền định, nếu không đoạn ḷng dâm, th́ cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trải bao nhiêu kiếp cũng không thể thành cơm được.

Ông đem tâm dâm dục để cầu quả Phật, dầu cho ông có được diệu ngộ đi nữa, cũng không ra khỏi tam giới, v́ gốc của nó là dâm th́ làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được; huốn chi quả Niết bàn của Phật, ông làm sao chứng được.

           Nên quyết định phải đoạn trừ dâm cơ: trong tâm ngoài thân đều đoạn, cho đến cái biết đoạn cũng không c̣n, được như thế th́ đối với quả Phật Bồ đề, ông mới có hy vọng!

           Vậy ông nên dạy người tu hành, điều thứ nhứt là quyết định phải đoạn trừ ḷng dâm, đây là lời chỉ dạy sáng suốt trong sạch của ta và của các đức Phật quá khứ. Như lời ta dạy đây mới gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba tuần nói.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Đây là Đại thừa giới, cao siêu và khó hơn Tiểu thừa giới nhiều. Nếu tâm c̣n nghĩ tưởng đến dâm, sát, đạo và vọng, thế là phạm giới rồi.

           Tổ Đơn Hà dạy: “Nếu người chưa tỏ ngộ được chơn tâm thanh tịnh của ḿnh, th́ hột giống dâm c̣n ẩn núp”. Nói cho dễ hiểu, nếu c̣n vô minh, th́ chơn tâm sáng suốt chẳng hiện, thế là giới thể chưa thanh tịnh.

           Phật tử đọc đến đoạn này, chớ nên thấy khó mà nản ḷng. Phải biết rằng việc tu hành cũng như lóng nước để lâu quyết định sẽ trong, và cũng như lột bẹ chuối, lột măi sẽ đến lỏi.

           Người tu hành cũng thế, trước đoạn phần thô thiển ngoài thân, sau dần dần trừ đến phần tế nhị trong tâm, lâu ngày thành tánh quen, th́ quyết định có ngày sẽ được thanh tịnh. Điều cốt yếu là nên nhớ lời Phật dạy có bốn chữ “bất tùy phân biệt”. Nghĩa là khi đối cảnh không khởi vọng niệm phân biệt, th́ tham, sân, si không khởi. Tham, sân, si không khởi th́ sát, đạo, dâm chẳng sanh. Đây là lối tu tắt của Đại thừa, để trở lại với chơn tâm thanh tịnh.

 

***

           B. Đoạn ḷng sát hại: - A Nan, nếu các chúng sanh trong tâm không nghĩ tưởng đến việc sát hại, th́ không c̣n bị sanh tử luân hồi nữa. Ông tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu ông không đoạn trừ tâm sát hại, th́ cảnh trần lao không bao giờ ra khỏi. Dầu cho hiện tiền ông được nhiều trí huệ hay thiền định, nếu không đoạn tâm sát hại, th́ ông chỉ đọa vào thần đạo. Bực thượng làm Đại lực quỷ, bực trung làm Phi hành dạ xoa và các loài quỷ soái, bực hạ làm Địa hành La sát và các quỷ thần. Các loài quỷ thần này cũng có đồ đệ, đều tự cho ḿnh thành đạo vô thượng.

           Sau khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, các loài quỷ thần này rất thạnh hành trong thế gian, và tuyên bố rằng “Ăn thịt cũng được Bồ đề”. A Nan, trước kia ta cho các ông ăn ngũ tịnh nhục, là v́ ở nhằm địa phương đất chai, nhiều đá sỏi, không trồng rau cải đưọc, nên ta tạm cho các ông dùng. Sau khi ta diệt độ rồi, tại sao những người ăn thịt chúng sanh, mà cũng xưng là tăng lữ.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Trong kinh Lăng Già, Phật dạy Ngài Đại Huệ Bồ tát: “Ta trước kia phương tiện cho các ông ăn năm thứ thịt hoặc mười thứ, hôm nay tất cả đều cấm tuyệt”.

 

***

 

           A Nan, những người ăn thịt, dầu cho có đặng tâm trí khai ngộ, cũng thành quỷ Đại la sát, đến khi măn kiếp quỷ La sát rồi, quyết định phải trầm luân trong biển khổ sanh tử. Giết hại ăn thịt lẫn nhau, th́ làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được.

           A Nan, ông tu thiền định, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, th́ cũng như người tự bịt hai lỗ tai của ḿnh, la tiếng thiệt lớn, mà muốn cho mọi người không nghe, th́ không thể được. 

           A Nan, ông nên dạy người tu hành, điều thứ hai là quyết định phải đoạn trừ ḷng sát hại. Đây là lời sáng suốt trong sạch của ta cũng là lời các đức Phật quá khứ đă chỉ dạy. Như lời ta dạy đây mới gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba Tuần nói.

 

           C. Đoạn trừ trộm cướp: A Nan, nếu các chúng sanh, trong tâm không nghĩ tưởng đến đến việc (tham lam) trộm cướp, th́ không c̣n sanh tử luân hồi nữa. Các ông tu hành quyết cầu ra khỏi cảnh trần lao, nếu tâm (tham lam) trộm cướp không trừ, th́ không bao giờ ra khỏi.

           Dầu cho hiện tiền ông đặng nhiều trí huệ hay thiền định, nếu không đoạn tâm (tham lam) trộm cướp th́ quyết định đọa vào tà đạo, bực thượng làm loài tinh linh, bực trung làm loài yêu mỵ, bực hạ làm người tà, bị các loài tinh yêu này nhập (dựa). Bọn ngày cũng có đồ đệ, đều tự xưng rằng đặng đạo vô thượng.

           Sau khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, chúng tinh yêu tà mị này rất thạnh hành trong đời, tự xưng là thiện trí thức, dối gạt phỉnh phờ người, khiến cho người mất tâm chánh tính; chúng nó đi đến đâu th́ làm cho người tiêu hao tài sản đến đó.

           A nan, ông tu thiền định, nếu không đoạn trừ tâm trộm cướp, mà muốn cầu cho được đạo quả, th́ cũng như người rót vào chén bể, mà muốn cho đầy, dầu trải bao nhiêu kiếp cũng không thể đầy được. Ông nên dạy người tu hành, điều thứ ba là quyết định phải đoạn trừ tâm trộm cướp. Đây là lời nói sáng suốt trong sạch của ta cũng như của các đức Phật quá khứ. Đúng như lời ta dạy gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba Tuần nói.

 

***

 

           D. Đoạn trừ vọng ngữ:  A Nan, nếu các chúng sanh, đă giữ hoàn toàn ba hạnh trên là không sát, đạo, dâm rồi mà c̣n đại vọng ngữ, th́ tâm cũng không thanh tịnh, mất hột giống Phật, thành ma ái kiến. Thế nào là đại vọng ngữ? Nghĩa là chưa đặng đạo nói ḿnh đặng đạo, chưa chứng quả nói ḿnh chứng quả. Đối với người đời, nói: “Ta đă chứng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật”, để trông cầu người lạy cúng. Những người nói dối như thế, làm tiêu diệt hột giống Phật, sẽ đọa vào trong biển khổ. Cũng như cây Đa la khi bị chặt đứt đọt rồi (như cây cau xứ ta) th́ không thể mọc chồi đâm tược được.

           A Nan, ta có dạy các vị Bồ tát và A La Hán: “Sau khi ta diệt độ rồi, các ông phải thị hiện thân h́nh, trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân, làm thầy sa môn, cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người gian giảo, kẻ trộm cướp, người hàng thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn trong từng lớp người, chung một nghề nghiệp, đặng giáo hóa chúng sanh trở về chánh đạo”.

           Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: “Ta đây thật là Bồ tát hoặc A La Hán v.v.” hay tỏ ra một vài cử chỉ ǵ làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết ḿnh là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi, các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi.

 

LƯỢC GIÁI

 

           Các Phật tử đọc đến đoạn này nên chú ư: Phật và Bồ tát thị hiện, chúng ta không thể biết được; nếu chúng ta biết được th́ đó không phải thiệt Phật hay Bồ tát. Chỉ trừ khi nào các vị ấy cởi bỏ xác phàm, mới lưu lại một vài di tích, lúc bấy giờ chúng ta mới biết được. Nhưng khi biết, th́ không gặp các Ngài nữa.

           Như Tổ Đạt Ma hiện thân đến Trung Quốc, vua Lương Vơ Đế không biết; đến khi biết được Ngài là Thánh th́ không c̣n thấy được Ngài.

           Vậy hiện nay những người tự xưng ḿnh là Phật hay Bồ tát v.v... giáng thế, th́ căn cứ vào đoạn kinh này, chúng ta thấy rơ ràng và chắc chắn không phải thiệt Phật hay Bồ tát rồi, chớ nên tin mà bị hại.

 

***

 

           A Nan, chính thật Bồ tát hay A La Hán thị hiện, mà c̣n không cho người biết, tại sao những người phàm phu lại dám mạo xưng là Phật, Bồ tát, v.v... Cũng như người cùng đinh, mà mạo xưng ḿnh là Đế vương, th́ sẽ bị tội tru diệt.

           A Nan, nếu người tu hành, không đoạn trừ đại vọng ngữ, mà muốn được đạo, th́ cũng như người lấy đồ hôi tanh, tô đắp thành cái h́nh chiên đàn, muốn cho thơm chừng nào lại càng hôi chừng nấy. Cái nhơn đă chẳng ngay, th́ kết quả phải cong vậy. Những người như thế mà cầu quả Phật Bồ đề, th́ cũng như người muốn tự cắn rún của ḿnh, làm sao cắn được.

           A Nan, ông nên dạy người tu hành điều thứ tư là quyết định phải đoạn trừ đại vọng ngữ. Đây là lời nói sáng suốt trong sạch của ta, và các đức Phật quá khứ chỉ dạy. Đúng như lời ta dạy đây th́ gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba Tuần nói.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Bốn đoạn trên Phật ân cần nhắc nhở, nói đi lặp lại nhiều lần. Phật tử chúng ta nên ghi xương tạc dạ những lời vàng ngọc chỉ dạy rất thống thiết của đức Từ phụ.

Trở Lên

Bài Thứ Mười Bốn:
Phật dạy tŕ chú Lăng Nghiêm

 

Mục Lục 

I. Phật dạy tŕ chú Lăng Nghiêm 
II.     A Nan cầu Phật nói lại thần chú 
III. Phật phóng hào quang nói thần chú 
IV.Công năng của thần chú 
V. Các vị thiên thần phát nguyện bảo hộ người tŕ chú 
VI. Ông A Nan hỏi Phật tu hành phải trải qua bao nhiêu địa vị mới được thành Phật 
VII. Phật dạy ba món tiệm thứ 
VIII. Hành giả phải trải qua 55 địa vị mới đến qua Phật 
IX. 50 món ma chướng (ngũ ấm ma) 
X. Mười món ma về sắc ấm 

 

I. Phật dạy tŕ chú Lăng Nghiêm

 

           - A Nan, người tu hành phải ǵn giữ bốn điều luật nghi cần yếu: dâm, sát, đạo, vọng cho trong sạch, cũng như băng tuyết, nơi tâm không khởi vọng niệm duyên theo ngoại cảnh, th́ chúng ma kia không làm sao sanh được (v́ trong tâm vọng động, nên ngoại ma mới ứng)
           Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề, không thể trừ được, ông nên dạy họ chí tâm tŕ chú Lăng nghiêm này, th́ các nghiệp chướng đều tiêu diệt. Bằng chứng là ông cùng với nàng Ma Đăng Già, t́nh ân ái chồng vợ đă khắn khít với nhau từ nhiều kiếp, đâu phải mới một đời này; nhờ thần chú Lăng Nghiêm mà nàng Ma Đăng Già nguồn t́nh khô cạn và được thành A La Hán.

           Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành c̣n được quả thánh, huống chi các ông là bực Thinh Văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại tŕ tụng chú này, th́ quyết định thành Phật rất dễ, cũng như thuận gió tung bụi, chẳng có khó ǵ.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Trong đoạn kinh này Phật dạy phương pháp tu hành để thành Phật, tóm lại có ba điều:

           1.Bất tùy phân biệt: Nghĩa là, khi đối cảnh không khởi vọng tâm phân biệt, th́ tham, sân, si chẳng sanh. Tham, sân, si không sanh th́ các nghiệp sát, đạo, dâm chẳng tạo. Nghiệp nhơn không tạo th́ quả báo chẳng có. Nói tóm lại là “xoay các tri giác trở về chơn tâm”, không duyên theo trần cảnh th́ vọng niệm không sanh; vọng không sanh th́ chơn tâm hiện bày.

           Tổ sư có dạy: “Kiến sắc phi can sắc, văn thinh bất thị thinh”; nghĩa là thấy sắc không can hệ ǵ đến sắc, nghe tiếng cũng không dính líu ǵ đến tiếng. Hay như câu: “Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhăn trung trước tiết”: Gặp sắc đẹp hay nghe tiếng hay, như hoa trồng trên đá (không dính líu ǵ); thấy tài lợi và danh vọng như bụi rớt trong con mắt. Nếu người đến tŕnh độ này rồi, th́ dầu vào thanh lâu hay tửu điếm cũng đều là đạo tràng thanh tịnh (dâm pḥng tửu tứ vô phi thanh tịnh đạo tràng).

           2.Tŕ giới:  Phải giữ ǵn giới luật, trong tâm ngoài thân đều thanh tịnh như băng tuyết.

           3.Tŕ chú Lăng Nghiêm: Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề, th́ phải tŕ tụng chú Lăng Nghiêm sẽ mau đặng thành đạo quả. Trong ba pháp tu này, bực thượng căn, trung căn và hạ căn đều tu được cả. Thật là ḷng từ bi của Phật vô lượng, mưa pháp khắp trùm, cỏ cây lớn nhỏ đều được thấm nhuần.

 

***

 

II.  A Nan cầu Phật nói lại thần chú

 

           Ông A Nan đứng dậy đảnh lễ Phật và kính cẩn bạch rằng: - “Con từ khi xuất gia đến nay, v́ ỷ lại ḷng thương yêu của Phật, chỉ lo học rộng nghe nhiều, chẳng chuyên tu tập, nên chẳng chứng được đạo quả, thành thử phải bị tà thuật của Phạm Thiên bắt; trong tâm con tuy thông suốt mà năng lực không được tự do, nên con phải nhờ Ngài Văn Thù đến cứu độ. Con tuy nhờ thần chú Lăng Nghiêm của Phật mới được giải thoát, nhưng chính con chưa được nghe, cúi xin đức Thế Tôn từ bi nói lại, khiến cho những người tu hành hiện tại và chúng sanh luân hồi đời sau, nhờ thần chú này mà thân tâm được giải thoát”.


III. Phật phóng hào quang nói thần chú


           Khi đó từ nơi nhục kế (đảnh) của Phật, phóng ra hào quang trăm báu; trong hào quan xuất hiện ra hoa sen báu ngàn cánh. Trong hoa sen có đức Hóa Phật ngồi, trên đảnh Ngài phóng ra mười đạo hào quang sáng suốt trăm báu. Trong mỗi đạo hào quang đều có thị hiện vô số thần kim cang: vị bưng núi, vị cầm bảo tử v.v... đứng khắp cả hư không. Đại chúng trông thấy vừa mừng vừa sợ, đều cầu Phật thương xót chở che và nhứt tâm chờ nghe Phật nói thần chú.


Phật nói thần chú:

 

ĐỆ NHỨT

 

01. Nam-mô tát đát tha
02. Tô già đa da
03. A ra ha đế
04. Tam-miệu tam bồ đà tỏa
05. Tát đát tha
06. Phật đà cu tri sắc ni sam
07. Nam-mô tát bà
08. Bột đà bột địa
09. Tát đa bệ tệ
10. Nam-mô tát đa nẩm
11. Tam-miệu tam bồ đà
12. Cu tri nẩm
13. Ta xá ra bà ca
14. Tăng già nẩm
15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.
16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.
17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.
18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.
19. Tam-miệu dà ba ra
20. Để ba đa na nẩm.
21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa.
22. Nam-mô tất đà da
23. Tỳ địa da
24. Đà ra ly sắc nỏa.
25. Xá ba noa
26. Yết ra ha
27. Ta ha ta ra ma tha nẩm
28. Nam-mô bạt ra ha ma ni
29. Nam-mô nhơn dà ra da
30. Nam-mô bà dà bà đế
31. Lô đà ra da.
32. Ô ma bát đế
33. Ta hê dạ da.
34. Nam-mô bà dà bà đế
35. Na ra dả
36. Noa da
37. Bàn dá ma ha tam mộ đà ra
38. Nam-mô tất yết rị đa da
39. Nam-mô bà dà bà đế
40. Ma ha ca ra da
41. Địa rị bác lặc na Dà ra
42. Tỳ đà ra
43. Ba noa ca ra da.
44. A địa mục đế
45. Thi ma xá na nê
46. Bà tất nê
47. Ma đát rị già noa
48. Nam-mô tất yết rị đa da
49. Nam-mô bà dà bà đế
50. Đa tha dà đa câu ra da
51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da.
52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da.
53. Nam-mô ma ni câu ra da
54. Nam-mô dà xà câu ra da
55. Nam-mô bà dà bà đế
56. Đế rị trà
57. Du ra tây na.
58. Ba ra ha ra noa ra xà da
59. Đa tha dà đa da
60. Nam-mô bà dà bà đế
61. Nam-mô A di đa bà da
62. Đa tha dà đa da
63. A ra ha đế.
64. Tam-miệu tam bồ đà da
65. Nam-mô bà dà bà đế
66. A sô bệ da
67. Đa tha dà đa da
68. A ra ha đế
69. Tam-miệu tam bồ đà da
70. Nam-mô bà dà bà đế
71. Bệ xa xà da
72. Câu lô phệ trụ rị da
73. Bác ra bà ra xà da
74. Đa tha dà đa da.
75. Nam-mô bà dà bà đế
76. Tam bổ sư tỷ đa
77. Tát lân nại ra lặc xà da
78. Đa tha dà đa da
79. A ra ha đế
80. Tam-miệu tam bồ đà da
81. Nam-mô bà dà bà đế
82. Xá kê dă mẫu na duệ
83. Đa tha dà đa da
84. A ra ha đế
85. Tam-miệu tam bồ đà da
86. Nam-mô bà dà bà đế
87. Lặc đát na kê đô ra xà da
88. Đa tha dà đa da
89. A ra ha đế
90. Tam-miệu tam bồ đề da
91. Đế biều
92. Nam-mô tát yết rị đa
93. ế đàm bà dà bà đa
94. Tát đác tha dà đô sắc ni sam
95. Tát đác đa bát đác lam
96. Nam-mô a bà ra thị đam
97. Bác ra đế
98. Dương kỳ ra
99. Tát ra bà
100. Bộ đa yết ra ha
101. Ni yết ra ha
102. Yết ca ra ha ni
103. Bạt ra tỷ địa da
104. Sất đà nể
105. A ca ra
106. Mật rị trụ
107. Bát rị đác ra da
108. Nảnh yết rị
109. Tát ra bà
110. Bàn đà na
111. Mục xoa ni
112. Tát ra bà
113. Đột sắc tra
114. Đột tất phạp
115. Bát na nể
116. Phạt ra ni
117. Giả đô ra
118. Thất đế nẩm
119. Yết ra ha
120. Ta ha tát ra nhă xà
121. Tỳ đa băng ta na yết rị
122. A sắc tra băng xá đế nẩm
123. Na xoa sát đác ra nhă xà
124. Ba ra tát đà na yết rị
125. A sắc tra nẩm
126. Ma ha yết ra ha nhă xà
127. Tỳ đa băng tát na yết rị
128. Tát bà xá đô lô
129. Nể bà ra nhă xà
130. Hô lam đột tất phạp
131. Nan giá na xá ni
132. Tỷ sa xá
133. Tất đác ra
134. A kiết ni
135. Ô đà ca ra nhă xà
136. A bát ra thị đa câu ra
137. Ma ha bác ra chiến tŕ
138. Ma ha điệp đa
139. Ma ha đế xà
140 Ma ha thuế đa xà bà ra
141. Ma ha bạt ra bàn đà ra
142. Bà tất nể
143. A rị da đa ra
144. Tỳ rị câu tri
145. Thệ bà tỳ xà da
146. Bạt xà ra ma lễ để
147. Tỳ xá lô đa
148. Bột đằng dơng ca
149. Bạt xà ra chế hắt na a giá
150. Ma ra chế bà
151. Bát ra chất đa
152. Bạt xà ra thiện tŕ
153. Tỳ xá ra giá
154. Phiến đa xá
155. Bệ để bà
156. Bổ thị đa
157. Tô ma lô ba
158. Ma ha thuế đa
159. A rị da đa ra
160. Ma ha bà ra a bác ra
161. Bạt xà ra thương yết ra chế bà
162. Bạt xà ra câu ma rị
163. Câu lam đà rị
164. Bạt xà ra hắt tát đa giá
165. Tỳ địa da
166. Kiền dá na
167. Ma rị ca
168. Khuất tô mẫu
169. Bà yết ra đa na
170. Bệ lô giá na
171. Câu rị da
172. Dạ ra thố
173. Sắc ni sam
174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá.
175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
176. Lồ xà na
177. Bạt xà ra đốn trỉ giá
178. Thuế đa giá
179. Ca ma ra
180. Sát sa thi
181. Ba ra bà.
182. ế đế di đế
183. Mẫu đà ra
184. Yết noa.
185. Ta bệ ra sám
186. Quật phạm đô
187. ấn thố na mạ mạ tỏa.

 

Đệ Nhị

 

188. Ô Hồng
189. Rị sắc yết noa
190. Bác lặc xá tất đa
191. Tát đác tha
192. Già đô sắc ni sam
193. Hổ hồng đô lô ung
194. Chiêm bà na
195. Hổ hồng đô lô ung
196. Tất đam bà na
197. Hổ hồng đô lô ung
198. Ba ra sắc địa da
199. Tam bác xoa
200. Noa yết ra
201. Hổ hồng đô lô ung
202. Tát bà dược xoa
203. Hắt ra sát ta
204. Yết ra ha nhă xà
205. Tỳ đằng băng tát na yết ra
206. Hổ hồng đô lô ung
207. Giả đô ra
208. Thi để nẩm
209. Yết ra ha
210. Ta ha tát ra nẩm
211. Tỳ đằng băng tát na ra
212. Hổ hồng đô lô ung
213. Ra xoa
214. Bà già phạm
215. Tát đác tha
216. Già đô sắc ni sam
217. Ba ra điểm
218. Xà kiết rị
219. Ma ha ta ha tát ra
220. Bột thọ ta ha tát ra
221. Thất rị sa
222. Câu tri ta ha tát nê
223. Đế lệ a tệ đề thị bà rị đa
224. Tra tra anh ca
225. Ma ha bạt xà lô đà ra
226. Đế rị bồ đà na
227. Man trà ra
228. Ô hồng
229. Ta tất đế
230. Bạt bà đô
231. Mạ mạ
232. ấn thố na mạ mạ tỏa.

 

Đệ Tam

 

233. Ra xà bà dạ
234. Chủ ra bạt dạ
235. A kỳ ni bà dạ
236. Ô đà ca bà dạ
237. Tỳ xa bà dạ
238. Xá tát đa ra bà dạ
239. Bà ra chước yết ra bà dạ
240. Đột sắc xoa bà dạ
241. A xá nể bà dạ
242. A ca ra
243. Mật rị trụ bà dạ
244. Đà ra nị bộ di kiếm
245. Ba già ba đà bà dạ
246. Ô ra ca bà đa bà dạ
247. Lặc xà đàn trà bà dạ
248. Na dà bà dạ
249. Tỳ điều đát bà dạ
250. Tô ba ra noa bà dạ
251. Dược xoa yết ra ha
252. Ra xoa tư yết ra ha
253. Tất rị đa yết ra ha
254. Tỳ xá giá yết ra ha
255. Bô đa yết ra ha
256. Cưu bàn trà yết ra ha
257. Bổ đơn na yết ra ha
258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha
259. Tất kiền độ yết ra ha
260. A bá tất ma ra yết ra ha
261. Ô đàn ma đà yết ra ha
262. Xa dạ yết ra ha
263. Hê rị bà đế yết ra ha
264. Xả đa ha rị nẩm
265. Yết bà ha rị nẩm
266. Lô địa ra ha rị nẩm
267. Man ta ha rị nẩm
268. Mê đà ha rị nẩm
269. Ma xà ha rị nẩm
270. Xà đa ha rị nữ
271. Thị tỷ đa ha rị nẩm
272. Tỳ đa ha rị nẩm
273. Bà đa ha rị nẩm
274. A du giá ha rị nữ
275. Chất đa ha rị nữ
276. Đế sam tát bệ sam
277. Tát bà yết ra ha nẩm
278. Tỳ đà dạ xà
279. Sân đà dạ di
280. Kê ra dạ di
281. Ba rị bạt ra giả ca
282. Hất rị đởm
283. Tỳ đà dạ xà
284. Sân đà dạ di
285. Kê ra dạ di
286. Trà diễn ni
287. Hất rị đởm
288. Tỳ đà dạ xà
289. Sân đà dạ di
290. Kê ra dạ di
291. Ma ha bát du bát đát dạ
292. Lô đà ra
293. Hất rị đởm
294. Tỳ đà dạ xà
295. Sân đà dạ di
296. Kê ra dạ di
297. Na ra dạ noa
298. Hất rị đởm
299. Tỳ đà dạ xà
300. Sân đà dạ di
301. Kê ra dạ di
302. Đát đỏa dà lô trà tây
303. Hất rị đởm
304. Tỳ đà dạ xà
305. Sân đà dạ di
306. Kê ra dạ di
307. Ma ha ca ra
308. Ma đác rị già noa
309. Hất rị đởm
310. Tỳ đà dạ xà
311. Sân đà dạ di
312. Kê ra dạ di
313. Ca ba rị ca
314. Hất rị đởm
315. Tỳ đà dạ xà
316. Sân đà dạ di.
317. Kê ra dạ di
318. Xà dạ yết ra
319. Ma độ yết ra
320. Tát bà ra tha ta đạt na
321. Hất rị đởm
322. Tỳ đà dạ xà
323. Sân dà dạ di
324. Kê ra dạ di
325. Giả đốt ra
326. Bà kỳ nể
327. Hất rị đởm
328. Tỳ đà dạ xà
329. Sân đà dạ di
330. Kê ra dạ di
331. Tỳ rị dương hất rị tri
332. Nan đà kê sa ra
333. Dà noa bác đế
334. Sách hê dạ
335. Hất rị đởm
336. Tỳ đà dạ xà
337. Sân đà dạ di
338. Kê ra dạ di
339. Na yết na xá ra bà noa
340. Hất rị đởm
341. Tỳ đà dạ xà
342. Sân đà dạ di
343. Kê ra dạ di
344. A-la-hán
345. Hất rị đởm
346. Tỳ đà dạ xà
347. Sân đà dạ di
348. Kê ra dạ di
349. Tỳ đa ra dà
350. Hất rị đởm
351. Tỳ đà dạ xà
352. Sân đà dạ di
353. Kê ra dạ di
354. Bạt xà ra ba nể
355. Câu hê dạ câu hê dạ
356. Ca địa bát đế
357. Hất rị đởm
358. Tỳ đà dạ xà
359. Sân đà dạ di
360. Kê ra dạ di
361. Ra xoa vỏng
362. Bà dà phạm
363. Án thố na mạ mạ tỏa

 

Đệ Tứ

 

364. Bà dà phạm
365. Tát đác đa bát đác ra
366. Nam-mô tư đô đế
367. A tất đa na ra lặc ca
368. Ba ra bà
369. Tất phổ tra
370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị
371. Thập Phật ra thập Phật ra
372. Đà ra đà ra
373. Tần đà ra tần đà ra
374. Sân đà sân đà
375. Hổ hồng hổ hồng.
376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.
377. Ta ha
378. Hê hê phấn
379. A mâu ca da phấn
380. A ba ra đề ha đa phấn
381. Ba ra bà ra đà phấn
382. A tố ra
383. Tỳ đà ra
384. Ba ca phấn
385. Tát bà đề bệ tệ phấn
386. Tát bà na dà tệ phấn
387. Tát bà dược xoa tệ phấn
388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn
389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn
390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn
391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.
392. Tát bà đột sáp tỷ lê
393. Hất sắc đế tệ phấn
394. Tát bà thập bà lê tệ phấn
395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn
396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
397. Tát bà địa đế kê tệ phấn
398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn
399. Tát bà tỳ đà da
400. Ra thệ giá lê tệ phấn
401. Xà dạ yết ra
402. Ma độ yết ra
403. Tát bà dạ tha ta đà kê tệ phấn.
404. Tỳ địa dạ
405. Giá lê tệ phấn
406. Giả đô ra
407. Phược kỳ nể tệ phấn
408. Bạt xà ra
409. Câu ma rị;
410. Tỳ đà dạ
411. Ra thệ tệ phấn
412. Ma ha ba ra đinh dương
413. Xoa kỳ rị tệ phấn
414. Bạt xà ra thương yết ra dạ
415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn
416. Ma ha ca ra dạ
417. Ma ha mạt đát rị ca noa
418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn.
419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn
420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn
421. A kỳ ni duệ phấn
422. Ma ha yết rị duệ phấn
423. Yết ra đàn tri duệ phấn
424. Miệc đát rị duệ phấn
425. Lao đát rị duệ phấn
426. Giá văn trà duệ phấn
427. Yết la ra đác rị duệ phấn.
428. Ca bát rị duệ phấn
429. A địa mục chất đa
430. Ca thi ma xá na
431. Bà tư nể duệ phấn
432. Diễn kiết chất
433. Tát đỏa bà tỏa
434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

 

Đệ Ngũ

 

435. Đột sắc tra chất đa
436. A mạt đác rị chất đa
437. Ô xà ha ra
438. Dà bà ha ra
439. Lô địa ra ha ra
440. Ta bà ha ra
441. Ma xà ha ra
442. Xà đa ha ra
443. Thị tỉ đa ha ra
444. Bạt lược dạ ha ra
445. Kiền đà ha ra
446. Bố sữ ba ha ra
447. Phả ra ha ra
448. Bà tả ha ra
449. Bát ba chất đa
450. Đột sắc tra chất đa.
451. Lao đà ra chất đa
452. Dược xoa yết ra ha
453. Ra sát ta yết ra ha
454. Bế lệ đa yết ra ha
455. Tỳ xá giá yết ra ha
456. Bộ đa yết ra ha
457. Cưu bàn trà yết ra ha
458. Tất kiền đà yết ra ha
459. Ô đát ma đà yết ra ha
460. Xa dạ yết ra ha
461. A bá tất ma ra yết ra ha.
462. Trạch khê cách
463. Trà kỳ ni yết ra ha
464. Rị Phật đế yết ra ha
465. Xà di ca yết ra ha
466. Xá câu ni yết ra ha
467. Lao đà ra
468. Nan địa ca yết ra ha
469. A lam bà yết ra ha
470. Kiền độ ba ni yết ra ha
471. Thập phạt ra
472. Yên ca hê ca
473. Trị đế dược ca
474. Đát lệ đế dược ca
475. Giả đột thác ca
476. Ni đề thập phạt ra
477. Tỉ sam ma thập phạt ra
478. Bạt để ca
479. Tỷ để ca
480. Thất lệ sắc mật ca
481. Ta nể bát để ca
482. Tát bà thập phạt ra
483. Thất lô kiết đế
484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm
485. A ỷ lô kiềm
486. Mục khê lô kiềm
487. Yết rị đột lô kiềm
488. Yết ra ha
489. Yết lam yết noa du lam
490. Đản đa du lam
491. Hất rị dạ du lam
492. Mạt mạ du lam
493. Bạt rị thất bà du lam
494. Tỷ lật sắc tra du lam
495. Ô đà ra du lam
496. Yết tri du lam
497. Bạt tất đế du lam
498. Ô lô du lam
499. Thường dà du lam
500. Hắc tất đa du lam
501. Bạt đà du lam
502. Ta pḥng án dà
503. Bát ra trượng dà du lam
504. Bộ đa tỷ đa trà
505. Trà kỳ ni
506. Thập bà ra
507. Đà đột lô ca
508. Kiến đốt lô kiết tri
509. Bà lộ đa tỳ
510. Tát bát lô
511. Ha lăng già
512. Du sa đát ra
513. Ta na yết ra
514. Tỳ sa dụ ca
515. A kỳ ni
516. Ô đà ca
517. Mạt ra bệ ra
518. Kiến đa ra
519. A ca ra
520. Mật rị đốt
521. Đát liểm bộ ca
522. Địa lật lặc tra
523. Tỷ rị sắc chất ca
524. Tát bà na câu ra
525. Tứ dẫn dà tệ
526. Yết ra rị dược xoa
527. Đác ra sô
528. Mạt ra thị
529. Phệ đế sam
530. Ta bệ sam
531. Tất đát đa bát đác ra
532. Ma ha bạt xà lô
533. Sắc ni sam
534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam
535. Dạ ba đột đà
536. Xá dụ xà na
537. Biện đát lệ noa
538. Tỳ đà da
539. Bàn đàm ca lô di
540. Đế thù
541. Bàn đàm ca lô di
542. Bát ra tỳ đà
543. Bàn đàm ca lô di
544. Đát điệt tha
545. Án
546. A na lệ
547. Tỳ xá đề
548. Bệ ra
549. Bạt xà ra
550. Đà rị
551. Bàn đà bàn đà nể
552. Bạt xà ra bán ni phấn
553. Hổ hồng đô lô ung phấn
554. Ta bà ha.

 

LƯỢC GIẢI

 

           Tổ Đơn Hà nói: Từ xưa đến nay không có ai dịch nghĩa thần chú. V́ có năm nguyên nhân: 1. Lời bí mật của Phật, duy có Phật với Phật mới biết, ngoài các vị thánh cũng không thể biết được. 2. V́ một chữ hoặc một câu có hàm vô số nghĩa. 3. Hoặc tên của các vị quỷ thần, kêu gọi các vị ấy liền đến để bảo hộ người tu. 4. Mặt ấn của chư Phật, kẻ âm người dương đều phải tuân theo, cũng như ấn sắc của nhà vua. 5. Người chí tâm tụng tŕ, sẽ được diệt trừ tội nặng và mau chứng quả Thánh. 

           Các nhà phiên âm có khác, song hành giả chí tâm tŕ tụng một bổn nào cũng đều được hiệu quả.

 

***

 

IV. Công năng của thần chú

 

           A Nan, mười phương các đức Như Lai đều nhờ “tâm chú” này mà hàng phục các ma, ngăn dẹp ngoại đạo, được thành quả Phật. Mười phương chư Phật đều nhờ “tâm chú” này mà cứu độ tất cả chúng sanh khỏi các tai nạn khổ năo như thủy tai, hỏa tai, cơ cẩn v.v... và cứu độ chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đều được giải thoát.
           Các ông là hàng Thinh văn hữu học chưa khỏi luân hồi, phát tâm cầu quả A la hán, nếu không tŕ chú này, mà muốn cho khỏi các ma chướng th́ không thể được.

           Sau khi ta diệt độ, các chúng sanh đời sau, nếu có người tŕ tụng chú này, th́ các tai nạn: thủy tai, hỏa hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, qủy quái v.v... đều chẳng hại được.

           Nếu người phạm tội ngũ nghịch, phá trai, phạm giới, khi chí tâm tŕ chú này, th́ các tội đều tiêu, cũng như nước nóng làm giá tan. Những người không con, muốn cầu con, tụng chú này sẽ được con, cầu trường thọ v.v... được trường thọ, mỗi mỗi đều như ư nguyện.

 

V. Các vị thiên thần phát nguyện bảo hộ người tŕ chú

 

           Khi Phật nói thần chú này rồi, trong hội có vô số thần Kim cang, đồng lạy Phật và phát lời thệ nguyện: -Chúng con xin sẽ thành tâm bảo hộ cho người tŕ chú này.
           Lại có vô số các vị chư Thiên và Thánh Thần đều đứng dậy lạy Phật và phát nguyện bảo hộ người tŕ chú này, khiến cho họ khỏi các ma chướng và mau đặng thành đạo vô thượng Bồ đề.

           Lại có vô số vị Kim cang Tạng Bồ tát, đồng đứng trước Phật, phát lời thệ rằng:

           - Con tu hành chẳng chịu vào Niết bàn, nguyện ở lại đời sau để theo bảo hộ người tu hành, không cho các loài ác ma đến nhiễu hại, chúng nó phải ở cách xa người tu ngoài mười do tuần. Nếu có loài ác ma nào lai văng đến người tŕ chú này, th́ con dùng cây báo sử đánh nó nát như bụi, để cho người tu hành được như nguyện.

 

VI.  Ông A Nan hỏi Phật tu hành phải trải qua bao nhiêu địa vị mới được thành Phật

 

           A Nan đứng dậy lạy Phật và thưa rằng: - Bạch Thế Tôn, người tu hành từ khi phát tâm cho đến thành Phật, phải trải qua bao nhiêu địa vị, và thứ lớp tu hành như thế nào? Xin Phật từ bi chỉ dạy cho kẻ mê muội này.
           Phật khen không A Nan và dạy rằng: - Ta sẽ v́ ông và chúng sanh đời sau cầu quả Đại thừa, chỉ dạy con đường tu hành từ địa vị phàm phu, cho đến khi vào đại Niết bàn, vậy các ông phải chăm chú nghe ta chỉ dạy:

           - A Nan, các ông phải biết: Từ nơi chơn tâm thanh tịnh, rời các danh tướng, không có thế giới và chúng sanh, v́ vọng động nên có sanh, nhờ sanh có diệt; sanh diệt cũng đều là vọng, diệt hết vọng gọi là chơn, thế gọi là Vô thượng Bồ đề và đại Niết bàn là hai quả chuyển y của Như Lai vậy.

 

VII.  Phật dạy ba món tiệm thứ

 

           - A Nan, ông nay muốn tu hành để thành Phật, th́ phải tuần tự y theo ba món tiệm thứ này, mới có thể diệt trừ được gốc rễ của loạn tưởng, cũng như người muốn súc sạch cái b́nh để đựng đồ quư, th́ trước hết phải đổ độc ra, kế dùng tro chùi rửa, sau dùng nước nóng và chất thơm rửa lại thiệt sạch, rồi mới có thể đựng vị cam lồ được.

 

            Ba món tiệm thứ là:

 

           1.Trừ các trợ duyên bên ngoài: Ăn, không nên ăn những vật không hợp với người tu hành, như ăn thịt uống rượu và ngũ vị tân v.v... Ngũ vị tân, ăn sống th́ nó tăng trưởng tánh nóng giận, ăn chín hay sanh tham dục, tụng kinh tŕ chú chẳng hiệu nghiệm, Thánh thần không bảo hộ. C̣n chỗ ở tu th́ phải t́m chỗ nào cho hợp với hoàn cảnh của người tu hành.

 

           2.Trừ các chánh nhơn bên trong: Cốt yếu là hành giả phải nghiêm tŕ tịnh giới, không dâm, sát, đạo và vọng, ǵn giữ ngoài thân không phạm, trong tâm không động, thân và tâm đều thanh tịnh như băng tuyết.

 

           3.Trừ các nghiệp hiện tiền: Khi tiếp xúc với trần cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt theo sáu trần, xoay các cảm giác trở về bản tâm thanh tịnh. Do ngoài không duyên theo trần cảnh, trong sáu căn không vọng động, đồng một thể thanh tịnh, nên mười phương thế giới đều được thanh tịnh sáng suốt; cũng như trong ngọc lưu ly có hàm chứa mặt trăng sáng. Hành giả lúc bấy giờ thân tâm thơ thới, chứng đặng vô sanh pháp nhẫn, mười phương chư Phật đều hiện trong tâm người ấy. Từ đây hành giả lần lần tăng tiến tu hành, tiến lên các quả Thánh.

 

VIII. Hành giả phải trải qua 55 địa vị mới đến qua Phật

 

           A Nan, người tu hành khi ái dục khô khan, sáu căn không c̣n chạy theo sáu trần nhiễm trước, lúc bấy giờ chỉ có trí huệ khô khan, chưa thấm nhuần nước pháp của Phật. Đây là địa vị đầu tiên tên Càn huê địa (huệ khô), lần lần tấn tu vào địa vị Thập tín (mười món tin):
 

1.  Tín tâm trụ
2.  Niệm tâm trụ 
3.  Tinh tấn tâm 
4.  Huệ tâm trụ 
5.  Định tâm trụ 
6.  Bất thối tâm 
7.  Hộ pháp tâm 
8.  Hồi hướng tâm 
9.  Giới tâm trụ 
10. Nguyện tâm trụ

 

            MĂN ĐỊA VỊ THẬP TÍN ĐẾN THẬP TRỤ 

Phát tâm trụ 
Trị địa trụ 
Tu hành trụ 
Sanh quư trụ 
Phương tiện cụ túc trụ 
Chánh tâm trụ 
Bất thối trụ 
Đồng chơn trụ 
Pháp vương tử trụ 
Quán đảnh trụ

 

MĂN THẬP TRỤ ĐẾN THẬP HẠNH
1.Hoan hỷ hạnh 
2.Nhiêu ích hạnh 
3.Vô sân hận hạnh 
4.Vô tận hạnh 
5.Ly si loạn hạnh 
6.Thiện hiện hạnh 
7.Vô trước hạnh 
8.Tôn trọng hạnh 
9.Thiện pháp hạnh 
10.Chơn thật hạnh

 

MĂN THẬP HẠNH ĐẾN THẬP HỒI HƯỚNG 

1.Cứu độ nhứt thế chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng 
2.Bất hoại hồi hướng 
3.Đẳng nhứt thế Phật hồi hướng 
4.Chí nhứt thế xứ hồi hướng 
5.Vô tận công đức tạng hồi hướng 
6.Tùy thuận b́nh đẳng thiện căn hồi hướng 
7.Tùy thuận đẳng quán nhứt thế chúng sanh hồi hướng 
8.Chơn như tướng hồi hướng
9.Vô phược giải thoát hồi hướng
10.Pháp giới vô lượng hồi hướng

 

MĂN THẬP HỒI HƯỚNG ĐẾN TỨ GIA HẠNH 

1.Noăn địa 
2.Đảnh địa 
3.Nhẫn địa 
4.Thế đệ nhứt địa

 

MĂN TỨ GIA HẠNH ĐẾN THẬP ĐỊA 

1.Hoan hỷ địa 
2.Ly cấu địa 
3.Phát quang địa 
4.Diệm huệ địa 
5.Nan thắng địa 
6.Hiện tiền địa 
7.Viễn thành địa 
8.Bất động địa 
9.Thiện huệ địa 
10.Pháp vân địa

 

           (Khi măn Thập địa đến địa vị Đẳng giác, qua Đẳng giác đến Diệu giác tức là Phật. Trừ địa vị Càn huệ ra, th́ từ địa vị Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh, Thập địa và Đẳng giác, nghĩa là phải trải qua 55 địa vị này mới được quả Phật.

           Song trong khi trải qua 55 địa vị này, phải gặp 50 món ma là những điều nguy hiểm nhứt trên đường tu hành).

 

IX. 50 món ma chướng (ngũ ấm ma)

 

           Thuyết pháp gần xong, đức Như Lai đứng dậy, tay vịn ghế thất bửu, kêu Ngài A Nan và đại chúng dạy thêm rằng:

           - Các ông chưa rơ trên đường tu hành, c̣n gặp nhiều cảnh ma rất là nguy hiểm. Nếu các ông không biết trước, sanh tâm tà kiến th́ đọa vào ác đạo, cũng như người nhận lầm giặc làm con, th́ bị hại chẳng ít. Vậy các ông phải chăm chú nghe, ta sẽ chín chắn chỉ dạy cho.

           Này A Nan, tất cả chúng sanh cùng với người mười phương chư Phật, đồng một thể chơn tâm thanh tịnh không hai. Bởi các ông bị vô minh vọng tưởng, nên sanh ra mười phương hư không và thế giới nhiều như vi trần, nhưng mười phương hư không và hằng sa thế giới đó đều sanh ở trong chơn tâm của các ông, chẳng khác nào một điểm mây nhỏ sanh trong trời xanh. Nếu người ngộ được chơn tâm rồi th́ mười phương hư không và thế giới đều tiêu hết.

           Bởi các loài ma kia thấy người tu hành sanh tâm lo sợ cho bà con quyến thuộc của chúng sẽ tiêu diệt, nên chúng dùng đủ thần lực đến nhiễu hại người tu. Chúng nó cũng đủ năm phép thần thông biến hóa chỉ chưa được lậu tận thông.

           Mặc dầu chúng đủ năm phép thần thông và sức mạnh, song vẫn c̣n ở trong ṿng trần lao; nếu các ông trong khi tu thiền tâm được thanh tịnh sáng suốt, không vọng động, th́ chúng ma kia không làm sao hại được. Cũng như dao chặt xuống nước, gió thổi ánh sáng, hoàn toàn không dính líu ǵ. Chúng ma kia phải lần lần tiêu diệt như băng bị nước nóng chế vào và tối tăm bị ánh sáng phá trừ; chỉ lo một điều là các ông cũng như chủ nhà, nếu chủ nhà mê muội rồi th́ các ma chướng kia như khách dễ bề nhiễu hại, rồi các ông trở làm con cái của ma, sau thành người ma.

           Ma Đăng Già là thứ ma yếu hèn, nó chỉ làm ông phá một giới trong tám muôn giới mà thôi, nhờ tâm ông thanh tịnh nên chẳng bị trầm luân. C̣n các chúng ma này rất là nguy hiểm, nó phá tan giới thân huệ mạng làm cho ông nhiều kiếp luân hồi. Chẳng khác nào như ông quan lớn bị cách chức, gia tài sự sản bị tịch thâu, trở thành một người dân trắng, không thể cầu cứu với ai được.

 

X. Mười món ma về sắc ấm

 

1.THÂN THỂ KHÔNG BỊ CHƯỚNG NGẠI


           Này A Nan, người trong khi tu thiền do sức dụng công, nên tâm tánh được nhiệm mầu sáng suốt, tự thấy thân thể ḿnh trong giây phút qua lại tự tại, không bị cái ǵ làm chướng ngại. V́ công dụng tu luyện, nên tạm hiện ra các việc như vậy, không phải là chứng Thánh; nếu sanh tâm nghĩ ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma cám dỗ.

 

2.LƯỢM BỎ TRÙNG ĐỘC TRONG THÂN

 

           A Nan, hành giả trong lúc dụng công tu thiền, thoạt thấy thân thể ḿnh trong suốt, các loài trùng độc, sên ḅ qua lại, rồi lượm bỏ ra ngoài mà thân không đau đớn. V́ dụng công tu luyện nên tạm hiện ra cảnh như vậy, không phải chứng Thánh. Nếu nghĩ ḿnh chứng Thánh th́ bị ma nó cám dỗ.

 

3.NGHE TRONG HƯ KHÔNG CÓ TIẾNG NÓI PHÁP

 

           Hành giả trong lúc tu thiền, nghe trong hư không có tiếng thuyết pháp, hoặc nghe Thánh, Hiền, Tiên, Phật trong mười phương thế giới đều nói ra nghĩa lư nhiệm mầu. Đây v́ hành giả dụng công tu luyện nên tự tâm biến hiện ra cảnh giới như vậy, không phải chứng Thánh, nếu nghĩ ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma ám ảnh.

 

4.THẤY PHẬT HIỆN VÀ HOA SEN NỞ

 

           Người tu thiền định, khi tâm thanh tịnh rồi, tự phát ra ánh sáng. Lúc bấy giờ thấy mười phương đều hiện ra sắc vàng, tất cả các vật loại hóa thành Phật cả. Lại thấy đức Phật Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài thiên quang, các đức Phật ngồi xung quanh và có vô số hoa sen đồng thời xuất hiện.  Đây do hành giả dụng công tu thiền, nên thấy có cảnh tạm hiện ra như vậy, không phải là chứng Thánh; nếu nghĩ ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma cám dỗ.

 

5.THẤY CÁC VẬT BÁU ĐẦY CẢ HƯ KHÔNG

 

           Người trong khi tu thiền thấy mười phương hư không đều thành bảy báu, nào màu xanh, sắc vàng, đỏ, trắng, hiện ra vô số, mà chẳng chướng ngại nhau. Đây do trong lúc tu thiền, v́ hành giả dụng công đè nén vọng niệm thái quá, nên nó biến hiện ra cảnh như vậy, không phải chứng Thánh; nếu nghĩa ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma cám dỗ.

 

6.THẤY BAN ĐÊM NHƯ BAN NGÀY

 

           Người tu thiền định, do tâm yên tịnh nên phát ra ánh sáng. Lúc bấy giờ mặc dù nửa đêm, ở trong nhà tối mà vẫn thấy rơ hết cả mọi vật, không khác chi ban ngày. V́ hành giả dụng công tu luyện nên tạm hiện ra cảnh như vậy, không phải chứng Thánh; nếu cho ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma cám dỗ.

 

7.THÂN THỂ KHÔNG BIẾT ĐAU

 

           Người tu thiền đến khi tâm tánh được rỗng không, th́ thân thể chẳng biết đau. Lúc bấy giờ lửa đốt không cháy, dao chặt không đau. Đây do sức dụng tâm tu luyện của hành giả nên tạm được như vậy, không phải chứng Thánh; nếu cho ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma cám dỗ.

 

8.THẤY CẢNH GIỚI PHẬT HIỆN KHẮP NƠI

 

           Người tu thiền định do dụng công cùng tột, nên thấy mười phương núi sông toàn cả thế giới đều biến thành cơi Phật, đủ cả bảy món báu chiếu sáng khắp giáp. Lại thấy hằng sa chư Phật ở trong cung điện tốt đẹp hiện đầy cả hư không. Trông lên trên th́ thấy các cung trời, xem trở xuống lại thấy hết các cơi địa ngục đều không có chướng ngại. Đây do lúc tu thiền, v́ hành giả ngưng vọng tưởng lâu ngày, nên nó hóa hiện như vậy, không phải chứng Thánh; nếu cho ḿnh chứng Thánh, th́ bị đọa vào đường tà.

 

9.BAN ĐÊM THẤY, NGHE ĐƯỢC PHƯƠNG XA

 

           Trong khi tu thiền, do tâm tham cứu sâu xa, nên trong lúc giữa đêm thấy được nào là chợ búa, đường sá, bà con họ hàng ở các phương xa, hoặc nghe được tiếng nói. Đây do hành giả kiềm thúc cái vọng tâm thái quá, nên tạm hiện ra như vậy, không phải chứng Thánh; nếu cho ḿnh chứng Thánh, th́ bị đọa vào đường tà.

 

10.THÂN H̀NH BIẾN HÓA, NÓI PHÁP THÔNG SUỐT

 

           Trong khi tu thiền, do hành giả dụng tâm tham cứu cùng tột, nên thấy có các vị Thiện tri thức, chỉ trong giây phút mà thân ḿnh biến hóa nhiều cách. Đây do trong khi tu thiền v́ hành giả sanh tâm chấp trước, nên bị ma ám ảnh, làm cho người này thông suốt nghĩa mẩu, nói pháp vô ngại, không phải chứng Thánh; nếu chẳng chấp trước th́ cảnh ma này lần lần tiêu; c̣n cho ḿnh chứng Thánh th́ bị đọa vào cảnh ma.

 

TÓM LẠI

 

           Này A Nan!  Mười cảnh ma này, đều do trong lúc tu thiền, hành giả dụng tâm phá trừ sắc ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như vậy. Nếu khi gặp những cảnh ấy, mê lầm không biết, cho ḿnh đă chứng Thánh th́ bị ma nó ám ảnh, rồi sanh đại vọng ngữ, nói ḿnh thành đạo chứng quả v.v... sau khi chết rồi đọa vào địa ngục vô gián. Vậy khi ta nhập diệt rồi, các ông nên y lời ta dạy, đem những việc ma này giảng dạy cho người tu hành đời sau, bảo hộ người tu hành đặng đạo quả, chớ để cho họ bị thiên ma nhiễu hại.

Trở Lên

BÀI THỨ MƯỜI LĂM

 MƯỜI MÓN MA VỀ THỌ ẤM/ TƯỞNG ẤM

 

I. MƯỜI MÓN MA VỀ THỌ ẤM:


1. Thấy loài vật, thương khóc


           Này A Nan, người tu thiền định khi phá trừ sắc ấm rồi, tâm trí sáng suốt, do hành giả dụng công dằn ép các vọng tưởng thái hóa, nên phát sanh ḷng thương xót các loài vật vô cùng, cho đến thấy loài ṃng muỗi, thương cũng như con ruột, thương cho đến nỗi sa nước mắt khóc ṛng. Nếu hành giả giác ngộ th́ cảnh ấy lần lần tiêu hết, không có hại chi; c̣n mê lầm không biết, th́ bị ma sầu bi ám ảnh vào tâm, rồi thấy người tự khóc ṛng, tâm mất chánh định, sau khi chết rồi đọa vào cảnh ma.


2. Chí dơng mănh bằng Phật


           Này A Nan, người tu thiền định khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, thấy có nhiều điều linh ứng và những cảnh tốt đẹp hiện ra. V́ trong ḷng cảm khích thái quá, nên hành gỉả phát tâm đại dơng mănh, lập chí đồng với chư Phật, quyết tu một đời thành Phật, không chịu trải qua bao vô số kiếp. Nếu hành giả giác ngộ th́ cảnh ấy lần lần tiêu diệt; c̣n mê lầm không biết cho ḿnh chứng Thánh th́ bị ma nhập tâm, thấy người hay khoe khoang hống hách, ngă mạn không ai bằng, cho đến trên thấy không có Phật, dưới thấy không có người, mất chánh định, sau khi chết rồi bị đọa vào ác đạo.


3. Tâm nghĩ tưởng khô khan


           Lại nữa, người tu thiền định, khi địa vị cũ đă qua khỏi, địa vị mới chưa chứng, lúc ấy bơ vơ giữa chừng, vị trí lực suy kém, nên trong tâm sanh ra rất khô khan, tất cả thời nhớ nghĩ vẩn vơ, rồi tự cho đó là tinh tấn. Đây v́ trong lúc tu thiền, không có trí tuệ sáng suốt để phán đoán. Nếu hành giả hiểu biết th́ không có hại; c̣n mê lầm không biết, cho ḿnh chứng Thánh th́ bị ma ám ảnh vào tâm, sớm chiều bóc quăng trái tim của mính, mất chánh định, chết rồi đọa vào ác đạo.


4. Đặng chút ít cho là đầy đủ


           Người tu thiền định khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, v́ dùng huệ nhiều hơn định, mất sự thăng bằng, nên gặp những cảnh thù thắng hiện ra, sanh ḷng nghi ngờ cho là Đức Tỳ Lô Giá Na Phật, mới đặng chút ít cho là đầy đủ. Nếu hành giả hiểu biết th́ không có hại; c̣n mê lầm không biết cho ḿnh là Thánh, th́ bị ma ám ảnh, khi gặp người tự xưng: “Ta đặng đạo vô thượng Bồ đề”, sẽ mất chánh định, sau đọa vào đường ma.


5. Tâm buồn rầu vô hạn


           Người tu thiền định, khi cảnh cũ đă mất, địa vị mới chưa chứng, tự thấy bơ vơ; gặp cảnh gian nan nguy hiểm, sanh tâm buồn rầu vô hạn, như ngồi trên chông sắt, như uống thốc độc, tâm chẳng muốn sống, thường cầu xin người giết giúp thân mạng ḿnh, đặng sớm được giải thóat. Đây là do trong khi tu hành, hành giả thiếu phương tiện để lướt qua những cảnh ấy. Nếu liễu ngộ th́ không hại; c̣n mê lầm chẳng biết, hành giả cho ḿnh chứng Thánh, thời bị ma u sầu ám ảnh, rồi tự cầm gươm dao lóc lấy thịt ḿnh, ưa bỏ thân mạng, thường hay lo rầu hoặc vào ở trong núi non rừng rú, không muốn thấy người, mất tâm chánh định, sau chết rồi đọa vào đường ma.


6. Vui cười không thôi


           Người tu thiền định, khi tâm được thanh tịnh an ổn rồi, bỗng nhiên sanh ra vui mừng vô hạn không thể ngăn được. Nếu hiểu biết thời không có hại; c̣n mê lầm cho ḿnh chứng Thánh, th́ bị ma nhập vào tâm phủ, Thấy người cười hoài, đi trên đường sá một ḿnh ca múa, tự cho rằng “Ta đă đặng vô ngại giải thóat”, mất chánh định, sẽ đọa vào đường tà.


7. Sanh đại ngă mạn


           Người tu thiền định, khi thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, tự cho ḿnh được như thế là đầy đủ rồi, sanh tâm ngă mạn, đối với mười phương chư Phật c̣n khinh khi, huống hồ là Thinh-văn, Duyên-giác. Nếu hiểu ngộ th́ chẳng hại; c̣n hành giả mê lầm không biết cho là chứng Thánh, th́ bị ma đại ngă mạn nó nhập tâm, không lạy Phật tổ, hủy họai kinh tượng. Hạng người ấy thường nói với tín đồ rằng: “Phật bằng cây, đất, đồng, ch́; c̣n kinh tượng là giấy mực, có ǵ mà kính lạy; nhục thân này mới là chơn thật thường c̣n, sao chẳng cung kính, thật là điên đảo”. Tín đồ nghe rồi tin theo, đốt kinh chôn Phật. Người làm cho chúng sanh nghi lầm như thế, sau khi chết rồi bị đọa vào địa ngục vô gián.


8. Tâm sanh khinh an


           Người tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, trong tâm sanh ra vô lượng khinh an rồi tự cho ḿnh đă chứng Thánh, đặng đại tự tại. Nếu hành giả hiểu biết thời không hại; c̣n mê lầm không biết th́ bị ma nhập tâm, rồi tự cho ḿnh đă đầy đủ, không cần tu tấn, mất chánh định, sau khi chết rồi bị đọa vào đường tà.


9. Chấp không


           Người tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, trong tâm bỗng sáng, rồi sanh ra chấp đọan diệt, bác không nhân quả, không tội phước, tất cả đều không. Nếu hành giả hiểu biết thời không hại; c̣n mê lầm không biết chấp ḿnh chứng Thánh th́ bị ma nhập tâm, rồi chê bai người tŕ giới cho là tu hành Tiểu thừa, tự xưng ḿnh là Bồ-tát ngộ chơn lư chơn không rồi, không c̣n tŕ giới và phạm giới nữa, vẫn ăn thịt và uống rượu làm những việc tà dục. Do thần lực của ma nó làm cho tín đồ say mê, thương yêu cung phụng, luôn luôn trung thành, chẳng sanh ḷng nghi ngờ hủy báng. V́ ma nhập lâu ngày làm cho phải điên, đến nỗi ăn uống những đồ nhơ uế, mà cho cũng như là uống rượu ăn thịt, phá các giới cấm của Phật, hoàn toàn chấp không, làm mất chánh kiến của ḿnh, sau khi chết rồi đọa vào đường tà.


10.  V́ quá tham ái nên sanh ra cuồng


           Người tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, sanh ra vô cùng ái dục, đến đỗi phát cuồng. Nếu hành giả giác ngộ th́ cảnh đó hết dần, c̣n mê lầm không biết cho là chứng Thánh, th́ bị ma nhập tâm, rồi khuyến hóa người đời b́nh đẳng hành dục, bảo họ rằng: “Hành dục là đạo Bồ-đề, người hành dâm dục là kẻ duy tŕ chánh pháp. Do thần lực của ma làm cho người cuồng kia chinh phục được cả ngàn muôn người, đến chừng ma nhàm chán, bỏ người tu thiền kia rồi, lúc bấy giờ hành giả không c̣n oai đức ǵ nữa, bị luật nước giam cầm, đến khi lâm chung đọa vào địa ngục vô gián.


Tóm lại


           A Nan, mười cảnh ma này, đều do trong lúc tu thiền, hành giả dụng tâm phá trừ thọ ấm, nên tự hiện ra các cảnh như vậy. Nếu hành giả mê lầm không biết, cho rằng chứng Thánh, th́ bị ma dựa vào, làm nhiều hại đến thế; chết rồi đọa vào địa ngục vô gián.
           Sau khi Ta nhập diệt, các ông nên đem lời Ta dạy đây mà truyền dạy cho chúng sanh đời sau, bảo hộ người tu hành được thành đạo Bồ-đề, chớ để cho họ gặp các loài ma chuớng làm hại, mà phải bị đọa vào ác đạo.


II.    MƯỜI MÓN MA VỀ TƯỞNG ẤM :


1. Tham cầu diệu dụng


           A Nan, người tu thiền định, khi phát minh được diệu định rồi, lại khởi tâm tham cầu những việc diệu dụng và linh nghiệm. Khi đó thiên ma được biết, gặp dịp thuận tiện, nên xuất hồn nhập vào người, mà người bị nhập kia lại không biết, tự cho ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, cũng thường nói ra kinh pháp. Trong giây phút, thân ḿnh người bị nhập kia, biến hiện ông Thầy, cô Ni, vị Đế thích hay người phụ nữ v.v… hoặc ở trong nhà tối, từ nơi thân họ chiếu ra hào quang sáng ánh. Người đời lầm cho là Bồ-tát thật, rồi tin nghe theo lời ma giáo hóa, sanh tâm buông lung, phá giới luật của Phật, lén làm việc tham dục. Người này ưa nói những điểm tai biến lạ lùng, hoặc nói chỗ kia có Phật ra đời, năm nào nổi đao binh giặc giă, năm nào có hỏa họan v.v… khủng bố tinh thần dân chúng, khiến cho người hao tài tốn của. Đến khi ma kia nhàm chán bỏ đi, th́ thầy tṛ người bị ma nhập kia đều bị giam cầm. các ông nếu biết trước thời khỏi vào luân hồi; c̣n mê lầm không biết th́ đọa vào ác đạo.


2. Tham cầu du ngọan


           A Nan, hành giả khi tu thiền, trong tâm muốn xuất thần dạo chơi. Lúc bấy giờ Thiên ma Ba tuần hiểu biết, được dịp thuận tiện nhiễu hại, nên xuất hồn nhập vào người, mà người bị nhập kia lại không biết, tự nói ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, miệng cũng nói kinh pháp thông suốt, làm cho những người nghe đều tự thấy thân ḿnh hóa ra sắc vàng sáng rỡ, ngồi trên ṭa sen báu, đặng những điều chưa từng có. Người đời lầm tưởng là Bồ-tát thị hiện. Người bị ma nhập kia lại dạy người phá giới luật của Phật, âm thầm làm việc tham dục, miệng ưa nói chuyện chư Phật giáng thế, như: ở xứ kia, ông đó là Đức Phật nào thị hiện, người nọ là vị Bồ-tát chi thị hiện v.v… làm cho người thấy, nghe sanh ḷng khao khát, dâm tà kiến thêm mạnh, giống trí tiêu ṃn. Đến lúc ma kia nhàm chán bỏ đi, th́ thầy tṛ người bị ma nhập ấy đều bị bắt cả. các ông nếu sớm giác ngộ th́ khỏi vào luân hồi; c̣n mê lầm không biết th́ đọa vào địa ngục.


3. Cầu ngộ chơn lư


           Lại nữa, người tu thiền định, trong tâm tham, cầu ngộ chơn lư. Lúc bấy giờ Thiên ma Ba tuần biết được ư muốn, nên xuất hồn nhập cho người, mà người tự không biết, tự cho rằng ta đặng đạo vô thượng niết-bàn, miệng cũng nói kinh pháp, làm cho thính giả tuy chưa nghe pháp, mà tâm tự khai ngộ, biết được việc nhiều đời trước, hoặc biết rơ được tâm tánh người, hoặc thấy các cảnh địa ngục, biết trước những họa phước ở nhơn gian, miệng tự đọc kinh hay nói kệ, mỗi người đều tự vui mừng, cho là đặng những việc chưa từng có. Người đời mê lầm cho là Bồ-tát thị hiện. Ma kia lại ưa nói: “Phật có lớn nhỏ, Phật thiệt, Phật giả, Phật nam, Phật nữ, Đức Phật kia là Đức Phật trước, Đức Phật nọ là Đức Phật sau; Bồ-tát cũng vậy”, làm cho người mầt chánh tín lại sanh tà kiến, tâm tánh buông lung, phá giới luật của Phât, lén làm việc tham dục. Đến khi chúng ma kia sanh tâm nhàm chán bỏ đi, th́ thầy tṛ người bị ma nhập kia đều bị bắt. Các ông biết trước thời khỏi bị luân hồi; c̣n mê lầm tin theo thời đọa vào địa ngục.


4. Móng tâm muốn biết nguồn gốc của muôn loài


           Lại nữa, người tu thiền định, khi ở trong định, móng tâm muốn biết cùng tột căn nguyên của muôn vật, thỉ chung sanh hóa thế nào. Khi đó Thiên ma hiểu biết ư muốn, gặp dịp thuận tiện để khuấy nhiễu, nên xuất hồn đến nhập cho người, mà người nhập kia lại không biết, cho ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, cũng thường nói kinh pháp. Chúng ma kia dùng oai thần nhiếp phục quần chúng, làm cho thính giả tuy chưa nghe pháp mà trong ḷng đă tự kính phục. Chúng ma nói: “Thân thịt hiện tiền đây là Bồ-đề Niết-bàn, là Pháp thân của Phật”. Chúng ma lại nói: “Mắt, tai, mũi, lưỡi là cảnh tịnh độ, nam căn và nữ căn tức là Bồ-đề Niết-bàn”. Nhưng người mê lầm không biết tưởng là Bồ-tát thị hiện, tin tưởng quy y theo, cho là một đấng hy hữu chưa từng có. Mất tâm chánh tín, phá giới luật của Phật, âm thầm làm hạnh tham dục. Đến khi ma kia nhàm chán bỏ đi rồi, th́ thầy tṛ người bị ma nhập kia đều bị bắt cả. Các ông nếu biết trước th́ khỏi bị luân hồi, c̣n mê lầm tin theo thời đọa vào địa ngục vô gián.


5. Tham cầu cảm ứng linh nghiệm


           Người tu thiền định v́ móng tâm tham cầu sự cảm ứng linh nghiệm, nên Thiên ma biết được ư muốn, nó xuất hồn đến gá vào người mà người kia không biết, tự cho ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, cũng thường nói kinh pháp. Ma lại dùng thần lực khiến cho những người nghe pháp đều thấy thân thể người bị nhập kia già nua như người trăm tuổi sanh ḷng thương mến, đêm ngày hầu hạ không biết mệt mỏi, và tứ sự cúng dường. Nó lại làm cho người người kính trọng là vị Tiên sư hay Thiện tri thức. Đối với người, nó ưa nói việc huyền ảo như: “Đời trước ta tế độ người kia, người nọ. Đời trước người kia là anh em hay vợ con của ta, đời nay ta tế độ, để cùng nhau sẽ sanh về thế giới kia và cúng dường Đức Phật nọ”; hoặc nói: “Có cơi Trời Đại quang minh, tất cả các Đức Phật đều ở đó”. Những người mê muội không biết, lầm cho là Bố-tát thị hiện, tin tưởng kính trọng vô cùng, mất tâm chánh tín, phá giới luật của Phật, âm thầm làm việc tham dục. Đến khi chúng ma kia sanh tâm nhàm bỏ. các ông biết trước thời khỏi vào luân hồi, c̣n tin tưởng nghe theo th́ đọa vào địa ngục vô gián.


6. Tham cầu ở chỗ vắng vẻ tịch mịch


           Người tu thiền định, khép ḿnh nơi khổ hạnh tham cầu ở chỗ vắng vẻ tịch mịch. Khi đó Thiên ma Ba tuần biết được ư muốn, nên xuất hồn nhập vào người, mà người kia không biết, cho ḿnh chứng đạo vô thượng Niết-bàn, cũng thường hay nói pháp. Ma dùng thần lực khiến cho các người nghe đều biết được đời trước của ḿnh. Hoặc trong chỗ đông người, nó chỉ một người nào đó nói rằng: “Người này chưa chết, mà đă thành súc sanh”. Nói rồi, ma nó bảo một người khác đạp sau cái đuôi, th́ người kia biến thành súc sanh, đứng dậy không được, làm cho đồ chúng hết sức kính phục. Có ai vừa móng tâm niệm ǵ, th́ ma nó liền biết và nói ra ngay. Ngoài giới luật của Phật, chúng c̣n giữ thêm những điều khổ hạnh, phỉ báng các thầy Tỳ-kheo, mắng nhiếc tín đồ, làm tiết lộ việc bí mật của người mà không sợ người hiềm ghét, thường nói những việc họa phước sắp đến, không sai một mảy. Đến lúc ma kia nhàm chán bỏ rồi, th́ thầy tṛ người bị ma nhập đều bị bắt. Các ông biết trước thời không vào luân hồi; c̣n mê mờ tin theo th́ đọa vào địa ngục vô gián.


7. Tham cầu biết kiếp trước


           Người trong khi tu thiền định, móng tâm tham cầu biết kiếp trước của ḿnh. Khi đó Thiên ma hiểu biết, gặp dịp thuận tiện, nên xuất hồn nhập vào người, mà người bị nhập kia không biết, tự cho ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, cũng thường nói kinh pháp, hoặc làm cho người t́nh cờ đặng châu báu. Nó hóa ra một con vật ngậm hột châu hay những vật kỳ quái đem đến đưa cho người. Nó chỉ ăn rau rác đơn sơ, không dùng đồ ngon quí, có khi mỗi ngày chỉ ăn một hột mè, hột bắp, mà thân h́nh vẫn mập tốt. Chúng thường nói: “Xứ kia có kho báu, chỗ nọ có các Thánh Hiền ẩn”. Chúng làm cho người thấy những điều kỳ dị, hoặc nói những việc tham dục, phá giới của Phật, âm thầm làm hạnh dâm dục. Đến khi ma kia nhàm bỏ rồi, th́ thầy tṛ người bị nhập đều bị bắt cả. Các ông biết trước th́ khỏi đọa vào luân hồi; c̣n mê lầm tin theo, th́ đọa vào địa ngục.


8. Tham cầu thần thông


           Người khi tu thiền định, móng tâm muốn được thần thông biến hóa. Khi đó Thiên ma liền biết, nên xuất hồn nhập cho người mà người không biết, tự cho rằng: “Đặng đạo vô thượng Bồ-đề”. Miệng nói kinh pháp và một tay cầm lửa, một tay rứt ánh sáng phân phát để trên đầu của thính giá. Mỗi người đều thấy trên đầu có ánh sáng dài đến vài thước, mà chẳng biết nóng; hoặc đi trên nước hay ngồi trên hư không vẫn tự tại; hoặc vào trong b́nh, vô trong đăy (bọc), đi ngang qua vách tường, mà không bị chướng ngại. Chỉ trừ khi đối với binh đao, th́ họ không tự tại. Họ xưng là Phật mà thân mặc đồ thế gian, thọ các thầy tỳ-kheo lễ bái, chê bai người tham thiền và tŕ giới, mắng nhiếc đồ chúng, làm tiết lộ việc nhà người mà không sợ người hiềm giận. Họ thường nói với người: “Ta đă đặng thần thông tự tại”; hoặc làm cho người thấy được cơi Phật (ma hiện ra cơi Phật) đem những điều dở hèn làm việc truyền đạo và khen ngợi việc hành dục. Đến khi ma kia nhàm bỏ, th́ thấy tṛ người bị ma nhập kia đều bị bắt cả. Các ông biết trước thời khỏi vào luân hồi; c̣n mê lầm tin theo thời đọa vào địa ngục vô gián.


9. Tham cầu không không


           Người khi tu thiền định, tâm ưa nhập diệt, tham cầu không không. Khi ấy Thiên ma liền biết, đặng dịp thuận tiện, nên xuất hồn nhập cho người, mà người kia chẳng biết, tự cho ḿnh đặng đạo vô thượng Niết-bàn, miệng nói kinh pháp. Hoặc ở trong chỗ đông người, người ấy tự biến mất, không ai thấy được, rồi t́nh cờ từ hư không hiện ra, khi ẩn khi hiện thần diệu vô cùng, hoặc hiện thân trong suốt như ngọc lưu ly, khi duỗi tay chân ra th́ thơm nực mùi hương chiên đàn, chê bai giới luật, hủy báng người xuất gia, bác không có nhơn quả, cho rằng chết rồi mất hẳn không có đầu thai, âm thầm làm việc tham dục, khiến cho những người thọ dục, cũng chấp không có nhơn quả tội phước v.v… Đến lúc ma nhàm bỏ, th́ thầy tṛ người bị ma nhập kia đều bị bắt cả. các ông biết trước thời khỏi vào luân hồi; c̣n mê lầm không biết th́ đọa vào địa ngục vô gián.


10.  Tham cầu sống lâu


           Người tu thiền định, móng tâm tham cầu sống lâu. Lúc bấy giờ Thiên ma hiểu biết, xuất hồn nhập cho người, mà người tự không biết, nói ḿnh đặng đạo vô thựơng Niết-bàn, miệng thường nói kinh pháp và đi qua lại các thế giới được tự tại không ngăn ngại; mặc dù đường xa muôn dặm, nhưng đi không nháy mắt đă trở về đến chỗ, lại lấy những vật ở phương xa kia đem về làm tin. Hoặc ở trong một căn nhà nhỏ, nó bảo người đi thiệt mau, từ vách bên này qua vách bên kia, đi mấy năm cũng không đến; hoặc thường nói: “Chúng sanh trong mười phương đều là con của ta, ta sanh ra chư Phật, ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên tự nhiên có, chẳng chơn tu hành mà được”; hoặc ngồi nói lầm thầm một ḿnh như người cuồng, khiến cho người đời tin tưởng là Phật thiệt. Các ông biết trước th́ khỏi bị luân hồi, c̣n mê lầm tin theo thời đọa vào địa ngục vô gián.


Tóm lại


          
A Nan, mười món ma tưởng ấm này, ở trong đời mạt pháp, sẽ giả làm người xuất gia tu hành, trong đạo của Ta, hoặc nhập cho người, hoặc tự hiện h́nh, đều tự xưng rằng: “Đă chứng quả Phật”. Chúng khen ngợi việc dâm dục, phá giới luật của Phật. Ma thầy, ma tṛ cùng nhau tryền dạy, làm hại cho người đến nhiều đời lắm, khiến người chơn tu mất chánh kiến, bị đọa làm bà con quyến thuộc của ma.
           Các ông ngày nay đă được độ ra khỏi sanh tử luân hồi rồi, vậy các ông phải khởi ḷng đại bi, không nên nhập diệt sớm, phải nguyện ở lại đời mạt pháp để cứu độ những người chơn chánh tu hành đời sau, khỏi bị ma nhiễu hại.
           Các ông tuân theo lời ta dạy đây, mới gọi là đền đáp ơn Phật. Các ông gắng bảo hộ người tu hành, nên đem lời nói của Ta đây truyền dạy cho chúng sanh đời sau, khiến cho họ hiểu rơ các việc ma, để khỏi bị Thiên ma nhiễu hại và mau được thành đạo vô thượng.

Trở Lên

Bài Thứ Mười Sáu:

10 món ma về hành ấm, 10 món ma về thức ấm

 

DÀN BÀI

I. Mười món ma về hành ấm:
 1. Chấp không nguyên nhơn sanh
2. Bốn món chấp thường
3. Chấp một phần thường, một phần vô thường
4. Chấp có bốn món biên giới
5. Bốn món luận nghị rối lọan, không nhứt định             
6. Chấp mười sáu tướng có
7. Chấp tám món vô thường
8. Chấp tám món cu phi
9. Chấp bảy món đọan diệt
10. Chấp năm món Niết-bàn hiện tại
II. Mười món ma về thức ấm:
1. Chấp minh đế
2. Chấp năng sanh
3. Chấp chơn thường  
4. Chấp cây cỏ cũng đều có biết
5. Chấp tứ đại hóa sanh

6. Chấp hư vô
7. Tham cầu sống lâu

8. Tham luyến cảnh dục
9. Định tánh Thinh-văn
10. Định tánh Duyên-giác

 

NỘI DUNG

 

I. MƯỜI MÓN MA VỀ HÀNH ẤM :


1. Chấp không nguyên nhơn sanh


          
A Nan, người tu thiền định khi tưởng ấm hết rồi, th́ tâm được minh chánh, không c̣n khởi các vọng tưởng tham muốn như trên, nên các Thiên ma không gặp dịp thuận tiện để nhiễu hại nữa. Lúc bấy giờ hành giả tự nghiên cứu nguồn gốc của muôn loài, rồi sanh ra hai lối chấp:
           a/ V́ chỉ thấy biết được chúng sanh từ tám vạn kiếp trở lại, ngoài tám vạn kiếp th́ mù mịt không thấy biết, nên sanh ra chấp: «Chúng sanh từ tám vạn kiếp trở lại tự nhiên có, không có nguyên nhơn sanh».
           b/ Hành giả nghiên cứu chỉ thấy người sanh ra người, chim sanh ra chim, quạ từ hồi nào đến giờ vẫn đen, không phải do nhuộm mà đen, c̣ từ hồi nào đến giờ vẫn trắng, không phải do rửa mới trắng v.v... từ tám vạn kiếp đến nay đă vậy, th́ từ đây về sau cũng thế. Hành giả tự nghĩ ta từ hồi nào đến giờ không thành Bồ-đề, th́ về sau đâu lại có thành Phật, rồi khởi ra tà chấp: «Các vật tượng ngày nay đều không có nguyên nhân». Bởi mê mờ tánh Bồ-đề, mất chánh tri kiến, sanh ra hai lối chấp trên, nên đều đọa về ngọai đạo.


2. Bốn món chấp thường


          
A Nan, người tu thiền định, khi tưởng ấm hết rồi, tâm được minh chánh, nên ngọai ma không c̣n thuận tiện để nhiễu hại được. Khi đó hành giả tham cứu tột cội gốc của muôn loài, khởi ra bốn món chấp thường:
           a/ Chấp hai vạn kiếp thuờng. – V́ hành giả nghiên cứu cùng tột cả tâm và cảnh đều vô nhơn, v́ sức tu chỉ biết được chúng sanh sanh diệt xoay vần từ hai vạn kiếp trở lại không mất, nên chấp cho là thường.
           b/ Chấp bốn vạn kiếp thường. – Hành giả tham cứu cùng tột tánh của tứ đại thường c̣n, do sức tu tập chỉ biết được chúng sanh từ bốn vạn kiếp trở lại, tuy có sanh diệt, mà bản thể nó vẫn thuờng c̣n thường không mất, nên chấp là thuờng.
           c/ Chấp tám vạn kiếp là thuờng. – Hành giả tham cứu cùng tận tám thức, thấy nó thường hằng. V́ thấy từ tám vạn kiếp trở lại chúng sanh xoay vần không mất, nên chấp là thuờng.
           d/ Chấp cái không sanh diệt là thường. – Người tu thiền định khi các tưởng ấm sanh diệt đă hết, nhơn đó khởi tâm chấp cái không sanh diệt là thuờng.
A Nan, người tu thiền định, do mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, khởi ra bốn món chấp thường trên, nên đều đọa về ngọai đạo.


3. Chấp một phần thường, một phần vô thường


           Người tu thiền định, khi tưởng ấm hết, nghiên cứu cùng tột cội gốc của sanh lọai, rồi khởi ra bốn lối chấp điên đảo:
           a/ Chấp tâm là thường, chúng sanh vô thường. – Hành giả khi quán tâm ḿnh yên lặng khắp cả mười phương, các chúng sanh từ trong tâm ḿnh tự sanh và tự chết, rồi chấp tâm ta là thường, chúng sanh vô thuờng.
           b/ Chấp thế giới, những chỗ bị họai là vô thuờng, những chỗ không bị họai là thuờng. – Người tu thiền định quán sát cả mười phương thế giới, chỗ kiếp họai (như từ Tam thiền trở xuống bị tam tai làm hại) th́ chấp là vô thường ; những chỗ không họai th́ chấp là thường (từ Tứ thiền trở lên, tam tai không làm họai được, chấp cho là cứu cánh Niết-bàn).
           c/ Chấp cái tâm là thường, c̣n sanh tử là vô thuờng. – Người tu thiền định, quán sát tâm ḿnh không biến đổi, nó nhỏ nhiệm tinh vi như hạt bụi và lưu chuyển cả mười phương, lại khiến cho thân này sanh và diệt mà nó không biến đổi; nên chấp cho: «Tâm là thường; tất cả các vật đều từ tâm sanh ra, có sanh tử nên vô thường».
           d/ Chấp hành ấm thường ; sắc, thọ, tưởng là vô thường. – Người tu thiền định, khi thấy sắc, thọ, tưởng ba ấm trước đă diệt, nên chấp là vô thường, thấy hành ấm lưu chuyển thường c̣n nên chấp là thường.
           Bốn lối chấp trên, đều sai lầm cả, do mê muội tánh Bồ-đề, mất chánh kiến, nên đọa về ngọai đạo.


4. Chấp có bốn món biên giới


           Người tu thiền định, khi tưởng ấm hết rồi, thấy được cùng tột cội gốc của sanh lọai, lúc bấy giờ khởi ra bốn lối chấp có biên giới:
           a/ Chấp ba đời. – Người tu thiền định, lúc bấy giờ chấp tâm niệm hiện tại tương tục (hành ấm) là vô biên, c̣n quá khứ và vị lai là hữu biên.
           b/ Chấp chúng sanh. – Người tu thiền định v́ chỉ thấy được chúng sanh trong tám vạn kiếp, nên chấp là hữu biên ; c̣n trước tám vạn kiếp th́ tịch mịch không thấy và cũng không nghe, nên chấp là vô biên.

           c/ Chấp tâm tánh. – Người tu thiền định khi thấy tâm ḿnh biến khắp và biến ra tất cả người, nên khởi lên chấp tâm ta vô biên. C̣n tất cả người đều ở trong tâm ta, là hữu biên.
           d/ Chấp sanh diệt. – Người tu thiền định khi cùng tột hành ấm, thấy được tâm ḿnh, sanh tâm chấp tất cả chúng sanh và thế giới đều có phân nửa sanh và phân nửa diệt; sanh là hữu biên, diệt là vô biên.
           Các lối tà chấp trên, đều do trong khi tu thiền mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, nên đều đọa về ngọai đạo cả.


5. Bốn món luận nghị rối lọan không có nhứt định


           Người tu thiền định, khi tưởng ấm hết, liền khởi ra bốn lối chấp điên đảo không nhất định:
           a/ Chấp tám món cũng. – Người tu thiền định, khi quán sát nguồn gốc biến hóa của muôn vật, thấy có chỗ th́ biến đổi, có chỗ lại thường c̣n ; có cái sanh, có cái diệt ; có pháp tăng, có vật giảm, có cái có, có cái không. Bởi thế nên có ai đến hỏi đạo th́ nói rằng: «Cũng biến, cũng hằng, cũng sanh, cũng diệt, cũng tăng, cũng giảm, cũng có, cũng không». Lúc nào cũng nói rối lọan như vậy, làm cho người không hiểu chi cả.
           b/ Chấp duy cái «không». – Người tu thiền định, v́ quán cả tâm và pháp đều không ; rồi cứ chấp ở nơi cái «không». Có ai đến hỏi đạo th́ họ chỉ đáp một chữ «không»; ngoài cái «không» ra th́ không c̣n nói chi nữa cả.
           c/ Chấp duy cái «có». – Người tu thiền định, do quán sát tâm ḿnh biến khắp tất cả, chỗ nào cũng có, rồi cứ chấp ở nơi cái «có». Có ai đến hỏi đạo, th́ họ chỉ nói một chữ «có»; ngoài cái «có» ra th́ không c̣n nói ǵ nữa cả.
           d/ Chấp «cũng có» và «cũng không». – Người tu thiền định v́ thấy ở nơi cảnh đă lăng xăng, c̣n tâm th́ rối lọan, nên có người đến hỏi đạo th́ đáp rằng: «cái cũng có» cũng tức là «cái cũng không»; trong cái «cũng không» cũng tức là cái «cũng có». Lúc nào họ cũng nói rối lọan như vậy, không ai gạn cùng được.
           Người tu thiền định v́ mất chánh kiến mê mờ tánh Bồ-đề, khởi ra các lối chấp như vậy, nên đều đọa về ngọai đạo.


6. Chấp mười sáu tướng có


           Người tu thiền định khi tưởng ấm hết, chỉ c̣n hành ấm diêu động, họ thấy một nguồn sống vô tận, nên sanh tâm chấp cho «chết rồi c̣n tướng».
           Chấp về sắc uẩn có bốn: a) chấp sắc uẩn là «ta», b) chấp «ta» có sắc uẩn, c) chấp sắc uẩn thuộc nơi «ta», d) chấp «ta» ở nơi sắc uẩn.
           C̣n Thọ, tưởng, hành mỗi uẩn cũng đều có bốn lối chấp như vậy, cộng thành mười sáu tướng. Hoặc chấp phiền năo và Bồ-đề hai tánh thật có, hết phiền năo mới được Bồ-đề; hai tánh không chung gặp nhau.
           V́ hành giả trong lúc tu thiền, mất chánh tri kiến, mê mờ tánh Bô-đề, khởi ra các lối tà chấp trên, nên đều đọa về ngọai đạo.


7. Chấp tám món vô tướng


           Người tu thiền định khi sắc, thọ, tưởng đă diệt rồi, lúc bấy giờ thấy thân h́nh hiện tiền đây c̣n không thật có, th́ khi chết rồi làm ǵ có các h́nh tướng. V́ so sánh như vậy, nên chấp chết rồi không có h́nh tướng.

           Chấp sắc ấm như vậy th́ thọ, tưởng, hành cũng như vậy (chấp hiện tại và vị lai đều không tướng), thành ra tám món vô tướng. Hoặc chấp Niết-bàn chỉ có cái tên suông, không có nhơn quả, rốt ráo đọan diệt.
           V́ hành giả mê mờ tánh Bồ-đề, mất chánh tri kiến, khởi ra các lối tà chấp như vậy, nên đều đọa về ngọai đạo.


8. Chấp tám món cu phi


           Người tu thiền định, đối với ba ấm: sắc, thọ và tưởng, trước kia thấy có mà nay lại không; c̣n đối với hành ấm thiên lưu hiện nay th́ có mà về sau lại không. V́ họ chấp mỗi ấm đều có hai tướng: chết rồi phi hữu và phi vô; cả bốn ấm thành ra tám tướng, Bởi hành giả mê mờ tánh Bồ-đề, mất chánh tri kiến nên đọa về ngọai đạo.


9. Chấp năm món đọan diệt


           Người tu thiền định, khởi ra các chấp: cơi dục th́ «sắc thân» diệt hết; cơi Sơ thiền các «dục» diệt hết; cơi Nhị thiền các «khổ» diệt hết, cơi Tam thiền các «vui» diệt hết ; cơi Tứ thiền các «xả» diệt hết.
           Như vậy xoay vần cùng tột cả năm chỗ đều chấp hiện tiền tiêu diệt, diệt rồi không sanh trở lại. V́ hành giả mê mờ tánh bồ-đề, mất chánh tri kiến, sanh các lối tà chấp như vậy, nên đọa về ngọai đạo.


10. Chấp năm món Niết-bàn hiện tại


           Người tu thiền định, khi thọ ấm hết, xét cùng cội gốc của sanh lọai, khởi ra chấp năm chỗ Niết-bàn: a) Chấp dục giới là cảnh Niết-bàn, b) Chấp cơi Sơ thiền là Niết-bàn, c) Chấp Nhị thiền là Niết-bàn, d) Chấp tam thiền là Niết-bàn, e) Chấp cơi Tứ thiền là Niết-bàn.
           V́ ành giả mê muội tánh Bồ-đề, chấp năm cảnh vui cơi trời hữu lậu mà cho là Vô vi Niết-bàn, nên đọa về ngọai đạo.


Tóm lại


A Nan, mười cảnh ma về hành ấm này, là do hành giả dụng tâm sai lầm nên mới sanh ra như vậy. V́ hành giả mê mờ không biết, tự cho là chứng Thánh, sanh đại vọng ngữ, nên đọa vào ngục vô gián. Vây các ông nên đem các việc ma này truyền dạy cho chúng sanh đời sau, chớ để cho người tu thiền bị tâm ma khởi lên làm hại đến thế. Các ông phải bảo hộ người tu hành đi thẳng đến đạo Bồ-đề, chớ để cho họ gặp con đuờng chia tẽ.


II. MƯỜI MÓN MA VỀ THỨC ẤM:


1. Chấp minh đế


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, chỉ c̣n thức ấm, các tướng sanh diệt đă hết, mà tâm thanh tịnh tịch diệt chưa hiện bày. Lúc bầy giờ nếu hành giả móng tâm chấp là chơn thường, th́ mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, thành bạn bè với phái ngọai đạo Ta-tỳ-ca-la, chấp minh đế (sơ tướng A-lại-da) là cái chỗ trở về của vạn vật trái với thành Niết-bàn, đọa về ngọai đạo.


2. Chấp năng sanh


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, các tướng sanh diệt đă diệt, mà tâm thanh tịnh tịch diệt chưa hiện, khi đó thấy thức tâm ḿnh châu biến, rồi khởi ra cái chấp: «Tất cả chúng sanh đều do ta sanh ra». V́ sanh tâm chấp như thế,nên mất chánh kiến, mê lầm tánh Bồ-đề, thành bà con của trời Đại-ngă-mạn (Mê-hê-thủ-la-thiên).


3. Chấp chơn thường


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, thức ấn hiện ra, rồi sanh tâm nghi: Thân ḿnh và mười phương hư không đều từ thức kia hiện ra, nên sanh tâm chấp cho «Thức là chơn thường», mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, thành bè bạn của trời Tự tại.


4. Chấp cây cỏ cũng đều biết


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đă diệt, chơn tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thức ấm biến khắp tất cả, rồi sanh tâm chấp: «Mười phương cây cỏ cũng đều là hữu t́nh, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây». Mê mờ tánh Bồ-đề, mất chánh kiến, nên sẽ làm bè bạn với hai chúng ngọai đạo Bà-tra và Tán-ni, chấp tất cả vạn vật đều có tri giác (biết).


5. Chấp tứ đại hóa sanh


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, chơn tâm chưa hiện, lúc bấy giờ thấy lửa sáng, nước trong, gió động, đất cứng, do bốn món này sanh ra các vật, rồi chấp cho là thường c̣n, hết ḷng cung kính phụng thờ. Như ông Ca Diếp Ba và phái Bà-la-môn thờ lửa, thờ nước v.v... để cầu ra khỏi sanh tử, mê mờ tánh Bồ-đề, mất cáhnh kiến, đọa làm ngọai đạo.


6. Chấp hư vô


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, thấy thức ấm viên minh, rồi sanh ra chấp cái thức ấm hư vô, là chỗ nương của muôn vật, tất cả các vật đều về chỗ hư vô. V́ vậy mà mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, nên thành bè bạn với trời Vô tưởng, Tứ không và thần Hư không.


7. Tham cầu sống lâu


           Người tu thiền định khởi tâm tham cầu thân này thường c̣n, cố làm cho thân này được sống hoài không chết, nên thành bè bạn của tiên A Tư Đà, cầu mạng sống lâu, mê mờ tánh bồ-đề, mất chánh kiến, đọa về ngọai đạo.


8. Tham luyến cảnh dục


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, lúc bấy giờ thấy thân thể và thức tâm tiêu diệt, cho nên sanh tâm lưu luyến lại cảnh trần, tự biến hóa ra nhiều cảnh báu đẹp và nhiều mỹ nữ, rồi mặc t́nh vui thú. V́ mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, nên thành bè bạn của Thiên ma ở cơi trời Tự tại (trên đảnh cơi Dục).


9. Định tánh Thinh-văn


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, các tướng sanh diệt đă diệt, mà chơn tâm tịch diệt chưa viên, lúc bấy giờ khởi tâm tham luyến ở chỗ không tịch, chẳng muốn tăng tiến, v́ mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ-đề, đọa về hàng Định tánh Thinh-văn, như ông Vô Văn Tỳ-kheo, sanh tâm tăng thượng mạn.


10. Định tánh Duyên-giác


           Người tu thiền định khi hành ấm hết, chỉ thấy một màu thanh tịnh sáng suốt, lúc bấy giờ sanh tâm chấp cho đó là Niết-bàn; rồi tham trước cảnh này, không cầu tăng tiến, mê mờ tánh Bồ-đề, mất chánh kiến, nên đọa về hàng Định tánh Duyên-giác.


Tóm lại


          
A nan, mười món ma này, do người tu thiền, khi dụng tâm phá trừ thức ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như vậy. V́ mất chánh tri kiến, mê lầm tánh Bồ-đề, khởi tâm chấp trước, cho ḿnh đặng thiền, đặng đạo, thành Phật, thành Thánh v.v... có người sanh ra diên cuồng, nên đều đọa về ngọai đạo cả.
           Vậy các ông phải giữ ǵn nơi ḷng, vâng lời Ta dạy: Sau khi Ta diệt độ rồi, các ông phải đem lời Ta dạy đây mà truyền dạy cho chúng sanh đời sau, bảo hộ người tu hành, chớ để cho chúng ma làm hại. Trên đường tu hành họ được thẳng vào chỗ tri kiến của Phật chẳng gặp các đường tẽ.
           Này A Nan, người trong khi tu thiền, gặp ma nó biến hiện ra nhiều cảnh rất là vi tế, nếu các ông hiểu biết, rửa sạch tâm cấu nhiễm, chẳng khởi tà kiến, th́ cảnh ma kia lần lần tiêu diệt, các ông sẽ thẳng đến đạo Bồ-đề.
           C̣n như đời sau, có chúng sanh nào chẳng dám tu thiền, sợ bị các ma nhiễu hại, th́ ông nên khuyên họ nhất tâm tŕ chú Lăng Nghiêm này, để các ma chướng kia không thể hại được, rồi cũng thẳng đến được đạo Bồ-đề.
           Khi Phật nói Kinh này rồi, toàn cả hội chúng, nào là: Tăng, Ni, thiện nam, tín nữ, trời, người, thần A-tu-la, Thánh, Tiên, quỉ thần, Thinh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát, tất cả đều hoan hỷ lễ Phật rồi trở lui.


LƯU Ư


           Quư Phật tử đọc hết đọan ngũ ấm ma này rồi, từ đây về sau, trên đường tu hành cần phải thận trọng, chớ nên gặp chi tin nấy, mà nguy hiểm cho ḿnh về hiện tại cũng như tương lai.
           Chúng tôi thấy trong giới Phật tử, phần đông là hàng phụ nữ (xin lỗi quư bà) ḷng tin tưởng dồi dào lắm! Mỗi khi thấy một việc ǵ lạ thường, có tính cách thần kỳ huyễn hoặc, không chịu b́nh tâm suy xét chơn hay ngụy; cứ cho đó là Phật thị hiện hay Bồ-tát giáng thế v.v... rồi rủ nhau tin tưởng theo càn, say mê như người nghiện thuốc, rủ nhau theo rất đông cho đến đỗi như cả phong trào. Như những việc trước mắt... mà quư vị đă thấy vừa qua... kết cuộc rồi thế nào quư vị đă biết rơ... Thật nguy hại vô cùng! Nếu lỡ một phen bước vào đường tà rồi, th́ trăm kiếp ngàn đời khó trở lại.
           Tôi xin dẫn một vài bằng chứng trong Kinh, để quư vị xem qua, đặng cẩn thận những điều nguy hiểm trong lúc tu hành.
           Thuở xưa, Tổ Ưu Bà Quật Tôn giả đang nhập định, bị Thiên ma Ba tuần khuấy nhiễu... Đến khi xuất định, ngài dùng thần thông hàng phục được Thiên ma. Sau khi chúng đă hối ngộ quy y Tam bảo rồi, v́ cảm hồng ân tế độ của Tổ sư, nên đến xin cúng dường ngài một bữa cơm để tỏ ḷng tri ân.
           Tổ sư dạy: - «Ta v́ chuyên lo tu hành không giờ rảnh để đi thụ trai. Ta chỉ muốn xem một việc, nếu ngươi bằng ḷng, thế là đền ơn cho ta rồi». Thiên ma: - «Dạ, đệ tử xin vâng». Tổ sư dạy: - «Khi Phật ra đời đă có ngươi: vậy trong lúc đó Phật cùng các vị Thánh chúng như thế nào? Hôm nay ngươi hóa hiện lại cho ta xem thử». Thiên ma thưa: - «Con xin vâng lời Tổ sư dạy. Nhưng khi con hóa hiện ra Phật, xin Tổ sư nhớ đừng lạy, v́ sợ tổn phước con nhiều». Tổ sư hứa lời.
           Thiên ma ba tuần liền biến mất, trong giây phút hóa hiện ra Đức Phật, thân vàng rực rỡ, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, hào quang sáng chiếu khắp cả một góc trời, trong rừng từ từ đi ra. Nào là ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Ca Diếp đứng hầu hai bên oai nghi tề chỉnh đủ cả 1.250 vị đệ tử, rần rộ theo sau...
           Tổ Ưu Bà Quật Tôn giả thấy Phật đi đến phóng hào quang rực rỡ, các vị Thánh chúng theo hầu, oai nghi tề chỉnh v.v... nên hết sức vui mừng, liền đứng dậy kính lễ, mà quên hẳn lời hứa trước kia. Lúc bấy giờ Thiên ma biến mất.
           Phật tử chúng ta xem qua đọan này, nên xét nghĩ: Như Tổ Ưu Bà Quật Tôn giả đă biết trước là ma hiện ra Phật và có hứa hẹn trước «không lạy», mà đến khi ma hiện ra c̣n quên, không phân biệt là ma hay Phật. Nếu chúng ta t́nh cờ gặp cảnh ngộ như thế, thử nghĩ trong tâm chúng ta thế nào?
           Bởi thế trên đường tu hành, lúc nào chúng ta cũng phải cẩn thận cho lắm, chớ nên thấy cái ǵ lạ, không chịu suy xét kỹ, cứ nhắm mắt theo càn, ùa nhau tin tưởng cho là Thần, Thánh thật. Lỡ một phen sa vào đường tà rồi, th́ trăm kiếp ngàn đời khó trở lại. Chúng ta nên nhớ rằng: cái ǵ thiệt th́ nó vẫn thiệt, dù ḿnh tin hay không tin nó cũng không mất. C̣n cái ǵ giả th́ ồ ạt trong một thời gian mà thôi, nếu người không tin th́ nó sẽ tự tiêu diệt.
           Phật dạy các đệ tử: «Không nên thấy Phật cứ theo, nghe lời Phật nói cứ tin; mà phải luôn luôn suy nghĩ, nếu đúng chơn lư sẽ tin theo». Phật dạy như thế, để cho các Phật tử khỏi bị tà ma ngọai đạo dối gạt.
           Trong Kinh Kim Cang Phật dạy:


Nhược dĩ sắc kiến ngă
Dĩ âm thinh cầu ngă
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như lai


           Đại ư đoạn này Phật dạy: Nếu người nào cho rằng thấy sắc thân của Phật có 32 tướng tốt, là thấy được Phật, th́ ông Chuyển Luân Thanh Vương cũng có đủ 32 tướng tốt, hoặc ma nó hiện ra sắc thân Phật có đủ tướng tốt, vậy cũng là Phật hay sao? – hay nghe tiếng nói pháp thanh tao của Phật mà cho là nghe được tiếng Phật, th́ tiếng chim Ca-lăng-tần-già, kêu rất thanh tao lảnh lót, vậy cũng là tiếng nói của Phật hay sao? Những người tin tưởng như vậy, là theo tà đạo, không bao giờ thấy được Phật.
           Phật thường nhắc nhở dặn ḍ các đệ tử: Phải dùng giáo lư chơn chánh dạy người. Khi người hiểu được chơn lư rồi tin theo, th́ ḷng tin đó mới được chơn chánh. Phật cấm các đệ tử không cho dùng phép thần thông hay phép lạ để cảm hóa người. Chỉ trừ một vài trường hợp hàng phục Ngọai đạo hoặc quỉ thần; v́ sợ sau này Thiên ma ngọai đạo dùng thần thông hay phép lạ làm mê hoặc người.
           V́ thế nên Phật không từ trên hư không rớt xuống, hay tự nhiên xuất hiện; mà Ngài lại thị hiện cũng như người, lớn lên có vợ con, rồi đi tu và thành đạo v.v… để cho chúng sanh sau này, đừng tin tưởng những điều huyễn hoặc thần kỳ.
           Khi Phật c̣n trụ thế, có người đàn việt đem dâng cái b́nh bát cho chư tăng, lại để trên đầu một cây cột phướn cao, và thưa rằng: “Nếu vị nào lấy được tôi sẽ cúng cho”.
           Khi đó ông Tân Đầu Lô Phă Đọa Xà Tôn giả, dùng thần thông lấy cái b́nh bát ấy. Ông bị Phật quở trách rất nghiêm khắc, và phạt ông phải ở lại thế gian ứng cúng, làm phước điền cho chúng sanh, không được nhập diệt. Và Phật c̣n chế ra giới luật cấm các đệ tử không được dùng thần thông hay phép lạ trước người phàm phu.
           Trong kinh cũng có chỗ nói, các Đức Phật và Bồ-tát thỉnh thỏang thị hiện ra đời để hóa độ chúng sanh, như Đức Di Lặc hay Ngài Quán Thế Âm v.v… Nhưng khi các Ngài hiện ra không ai biết được, chỉ trừ đến khi tịch diệt, các Ngài mới để lại vài di tích. Chừng đó người đời mới biết Phật hay Bồ-tát thị hiện; khi biết th́ không c̣n thấy các Ngài nữa.
           Như Đức Di Lặc bồ-tát hiện thân làm vị Bố đại Ḥa thượng. Ngài thường xách bị lớn bằng vải, đi khắp đó đây để hóa độ chúng sanh, mà người đời không ai biết, chỉ gọi Ngài là vị Bố đại Ḥa thượng(₁). Đến khi thị tịch, Ngài nói một bài kệ, lúc bấy giờ người ta mới biết là Đức Di Lặc Bồ-tát hiện thân.


           Bài kệ:


Di Lặc chơn Di Lặc,
Hóa thân thiên bách ức,
Thời thời thị thời nhân,
Thời nhân giai bất thức.


           Nghĩa là: Di Lặc thật là Di Lặc, biến hóa trăm ngàn muôn ức thân h́nh; thường thường thị hiện độ người, mà người đời chẳng ai biết.

 

(1) Bố đại Ḥa thượng là vị Ḥa thượng tay cầm cái đăy lớn bằng vải. Người mập bụng to, sắc mặt thường hoan hỷ. Hiện nay ở các chùa phần nhiều đều có thờ Ngài, người đời thường gọi là Đức Di Lặc.


III. KẾT LUẬN


           Đại ư toàn cả bộ kinh này, Phật dạy chúng sanh phải trở về với thể tánh chơn tâm thường trụ, đồng với ư nghĩa như trong Kinh Pháp Hoa: «Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến».
           Phật đă dạy cho chúng ta biết rằng: Chư Phật và chúng sanh cũng đồng một bản thể chơn tâm không khác. V́ chúng sanh mê muội thể tánh chơn tâm này, nên phải chịu sinh tử luân hồi; c̣n chư Phật đă ngộ chơn tâm nên được tự tại giải thoát. V́ vậy mà Phật dạy: «Ta là Phật đă thành, c̣n các chúng sanh là Phật sẽ thành».
           Nguyên nhân Phật nói Kinh này, là do ngài A Nan thị hiện mắc nạn, bị nàng Ma-đăng-già bắt. Sau khi nhờ Phật cứu độ được thoát nạn rồi, ngài mới cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp nào mà mười phương các Đức Phật tu hành đều được thành đạo chứng quả.
           Nhơn đó Phật nói Kinh Lăng Nghiêm, để chỉ rơ chơn tâm. Nếu giác ngộ được chơn tâm là được thành Phật. Đó là một con đường tu duy nhứt của chư Phật quá khứ, hiện tại cũng như vị lai.
           Trước khi chỉ chơn tâm th́ Phật gạn hỏi cái tâm theo thường t́nh chúng sanh vọng chấp. Bảy đọan hỏi tâm làm cho ngài A Nan cùng đường tột lối; lúc bấy giờ Phật mới từ từ chỉ cái tâm đến sáu lần. Ban đầu Phật tạm chỉ các giác quan về phần trực giác như thấy, nghe v.v... là tâm. Khi A Nan và đại chúng đều hiểu rồi, Phật lại chỉ lên một từng nữa: «Các giác quan tuy không phải vọng, nhưng cũng chưa phải là chơn tâm, nó cũng như mặt trăng thứ hai v.v...» Phật lại chỉ cái Bản thể sanh ra các giác quan (hiện tượng) mới thật là chơn tâm. Tức là ở về đọan, trong văn kinh chữ Hán chép: «Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập v.v...».
           Phật dạy: V́ các ông c̣n ở trong ṿng mê, nên chỉ gọi là giác quan: Thấy, nghe, hay, biết của chúng sanh; đến khi ngộ rồi th́ gọi là bốn đức Niết-bàn của Phật: thường, lạc, ngă, tịnh. Và Phật dạy: Tất cả các pháp đều từ tâm biến hiện, như năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại đều do tâm sanh ra, rồi cũng trở về thể tánh chơn tâm. Thế là Ngài dẫn cái tướng qui về chơn tánh.
           Đến đọan này ngài A nan mới ngộ được chơn tâm, nên đứng dậy lạy Phật và xứng theo thể tánh chơn tâm rộng lớn mà phát lời thệ nguyện rộng sâu vô tận.
           Ngài nguyện rằng: «Trong đời ngũ trược tội ác, con thề vào trước để độ chúng sanh; nếu c̣n có một chúng sanh nào chưa thành Phật th́ con thề chẳng lănh quả vui Niết-bàn...» Và câu «Hư không kia có thể tiêu hết, chớ chí nguyện của con đây không hề lay chuyển». Cũng v́ ngộ được đồng thể chơn tâm, nên ngài mới phát lời thệ nguyện rộng lớn như thế.
           Ḿnh đă được độ, muốn cho chúng sanh cũng đều được độ, nên ngài A nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu hành cho chúng sanh đời sau:


Phật dạy có ba việc:


           
1.- Khi đối cảnh không khởi vọng niệm phân biệt theo vọng trần; tức là câu «bất tùy phân biệt». Nghĩa là, xoay các giác quan như thấy, nghe, hay, biết đều trở về thể tánh chơn tâm. Nếu vọng niệm không khởi th́ chơn tâm hiện bày, đây là một pháp tu trực chỉ của bậc thượng căn.

           2.- Phật dạy tŕ giới. Nhơn tŕ giới tâm đuợc thanh tịnh, nhờ tâm tịnh mới phát sanh ra trí huệ, để phá trừ vô minh. Vô minh hết th́ chơn tâm tự hiện bày. Nhưng trong Kinh này nói tŕ giới là chỉ cho tâm giới. Nghĩa là thân đă không sát, đạo, dâm, vọng cho đến cái «biết ḿnh đă đọan trừ» cũng không c̣n. Thật là cao siêu vô cùng, khó khăn tột bực. V́ nếu tâm c̣n móng một tư vọng niệm ǵ, thế là tâm chưa tịnh. Nếu tâm chưa tịnh th́ giới thể chưa viên.
           3.- Phật dạy, nếu người nào nghiệp chuớng nặng nề, th́ nên chí tâm tŕ tụng chú Lăng Nghiêm, dù nghiệp chướng nặng đến đâu cũng lần lần tiêu hết, phước lành tăng trưởng, sẽ thành đạo Bồ-đề; như thuận gió tung bụi chẳng có khó khăn ǵ.
           Trên đường tu hành, Phật dạy phải trải qua các địa vị như: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh, Thập địa và Đẳng giác là năm mươi lăm vị rồi đến quả Phật.

           Trong khi tu thiền định lại gặp năm chục thứ ma (sắc, thọ, tưởng, hành, thức mỗi ấm có mười) nó biến hiện đủ điều, nào là ma nội tâm, ma ngọai cảnh, đủ cách nhiễu hại hành giả. Cho đến khi gần thành Phật mà nó cũng vẫn c̣n theo phá. Như thái tử Sĩ Đạt Ta, trước giờ phút đại ngộ, dưới gốc cây Bồ-đề, vẫn c̣n bị ba người con của Ma vương tân lực khuấy nhiễu. Đến sao mai sắp mọc Ngài thành Phật mới hết.
           Sau mỗi đọan ma hiện, Phật đều dạy rằng: «Do hành giả dụng công tu thiền, nên nó biến hiện ra như vậy, không phải là đặng đạo hay chứng Thánh, nếu hành giả biết trước th́ các cảnh ma kia lần lần tiêu diệt không hại chi, c̣n mê lầm không biết, cho ḿnh đặng đạo hay chứng Thánh, sanh tâm chấp trước, th́ bị ma nó cám dỗ, rồi phải đọa vào đuờng tà, làm quyến thuộc của ma.
           Bởi thế, nên người tu hành cần phải thận trọng, chớ nên gặp chi tin nấy mà bị ma cám dỗ, rất nguy hiểm cho đời ḿnh về hiện tại cũng như vị lai.
           Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần, bảo các đệ tử: «Nên đem lời Ta nói đây truyền dạy cho chúng sanh đời sau, khiến cho mọi người đều biết rơ, để tránh khỏi bị ma nhiễu hại, trên đường tu hành được thẳng đến đạo Bồ-đề».
           Phật lại thiết tha kêu gọi các đệ tử: Hôm nay các ông đă được Ta tế độ rồi, vậy các ông không nên nhập diệt sớm, mà phải nguyện ở lại đời mạt pháp, để bảo hộ người tu hành đời sau, thế mới là người biết ơn Phật.
           Ḷng từ của Phật thật là vô biên, tế độ chúng sanh không cùng tận, thương chúng ta như mẹ thương con, dạy dỗ chúng ta như mẹ hiền khuyên con dại; nhắc đi nhắc lại nhiều lần không biết mỏi. Thật đúng với câu: «Đại từ đại bi mẫn chúng sanh. Đại hỷ, đại xả tế hàm thức...».
           Phật tử chúng ta phải làm thế nào để khỏi phụ ḷng thương yêu của Từ Phụ, cho xứng với danh từ « Phật tử ».
 
 

 
Trở Về     Phật Học Phổ Thông Khóa 8