Welcome to my homepage. Hope you've enjoyed your stay here. I look forward to seeing you again.

Phật Học Phổ Thông

Khóa 4
Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa


 
 
 

Mục Lục Khóa Thứ Tư 
Duyên Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo

 

Lời Chỉ Dẫn Tổng Quát
01 Quán Sổ Tức
02 Quán Bất Tịnh
03 Quán Từ Bi
04 Quán Nhân Duyên
05 Quán Giới Phân Biệt
06 Bố Thí Ba La Mật
06B Tŕ Giới Ba La Mật
07 Tinh Tấn Ba La Mật
07B Nhẫn Nhục Ba La Mật
08 Thiền Định Ba La Mật
08B Trí Huệ Ba La Mật
09 Tứ Vô Lượng Tâm
10 Ngũ Minh

 

Lời Chỉ Dẫn Tổng Quát  
(Cho Trọn Khóa Thứ Tư)
 

 

Khóa này cũng như các khóa trước, gồm cả thảy 10 bài giảng chia ra như sau: 

Năm bài giảng về "Ngũ đ́nh tâm quán". 
Ba bài giảng về "Lục độ" hay "Sáu phép Ba La Mật". 
Hai bài giảng về "Tứ vô lượng tâm" và "Ngũ minh". 

Trong 10 bài ấy, trừ bài Ngũ minh là bài giảng có tánh cách khái quát về những sự hiểu biết cần thiết mà một Phật tử chân chính cần phải trao dồi và thực hành để làm lợi cho Đạo và nhân quần xă hội; c̣n 9 bài giảng trước đều nói về các phép tu. 

Các phép tu này sẽ được giảng giải rơ ràng ở các bài sau. Nhưng ngay bây giờ để quí vị có một ư niệm tổng quát về trọn khóa thứ tư, chúng tôi xin tŕnh bày sơ lược hai phần chính yếu của nó. Đó những bài nói về Ngũ đ́nh tâm quán và Lục độ hay Sáu phép Ba la mật. 

1. Ngũ đ́nh tâm quán là năm phương pháp quán tưởng để dừng vong tâm. Vọng tâm là căn bệnh chính làm cho con người phiền năo khổ đau. Nó thúc đẩy người ta chạy theo ngũ dục, nó che lương tri, làm cho cái tâm vốn là sáng suốt trở nên tối tăm, không biết đâu là thật, đâu là giả, đâu là chính, đâu là tà, đâu là hay, đâu là dở. 

Muốn sự nhận định được sáng suốt, muốn cho ḷng ta dừng đuổi theo ngũ dục mà phải phiền năo khổ đau, ta phải t́m phương pháp chận đứng vọng tâm là quán tưởng. Quán là dùng trí huệ quán sát, phân tích hay suy nghiệm để t́m ra sự thật. Có năm phép quán để chận đứng vọng tâm, để đối trị năm chứng bệnh chính của tâm hồn chúng ta, là: 

a) Quán Sổ tức: để đối trị bệnh tán loạn của tâm trí 
b) Quán bất tịnh: để đối trị ḷng tham sắc dục. 
c) Quán Từ bi: để đối trị ḷng sân hận. 
d) Quán Nhân duyên: để đói trị ḷng si mê. 
đ) Quán Giới phân biệt: để đối trị chấp ngă. 

Năm phép quán ấy gọi là "Ngũ đ́nh tâm quán". Mỗi phép quán sẽ được tŕnh bày rơ ràng cặn kẽ trong một bài giảng, theo thứ tự như đă tŕnh bày ở trên. Sở dĩ chúng tôi để bài Quán Sổ tức đứng đầu trong năm phép quán, v́ muốn đi sâu vào các phép quán, trước tiên, phải biết quán là ǵ, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tĩnh, không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đă thuần phục rồi, th́ các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si, mạn. 

2. Lục độ hay Sáu phép Ba la mật: Sáu phép tu này để đối trị sáu món "tệ" thông thường, nhưng rất nguy hiểm, v́ chúng đă làm cho chúng sinh nhiều kiếp sanh tử luân hồi, chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ. Đó là: 

a) Tham lam bỏn sen; b) Sân hận; c) Si mê; d) Biếng nhác, trễ năi; đ) Hủy phạm giới luật; e) Tán loạn. 

Để chúng sanh thoát khỏi nanh vuốt ác độc của sáu món tệ này, đức Phật dạy sáu phép đối trị gọi là "Lục độ". Chữ "Độ" có nghĩa là cứu độ hay vượt qua. Lục độ gồm có: 

a) Bố thí: để khỏi cái tệ tham lam bỏn sen 
b) Nhẫn nhục: để khỏi cái tệ nóng nảy, sân hận 
c) Trí huệ: để khỏi cái tội si mê 
d) Tinh tấn: để khỏi cái tệ biếng nhác, giải đăi. 
đ) Tŕ giới: để khỏi cái tội hủy phạm giới luật. 
e) Thiền định: để khỏi cái tệ tán loạn. 

V́ dùng sáu phương pháp này để trừ sáu món tệ, nên kinh nói: "Dĩ lục độ, độ lục tệ". Bồ Tát theo sáu phương pháp này tu hành để vừa độ cho ḿnh, vừa độ cho người, độ cho đến chỗ hoàn toán cứu cánh, nên cũng gọi là "sáu phép Ba la mật". 

Lục độ, hay sáu phép ba la mật được tŕnh bày trong tập sách này: 

Bài thứ sáu, Bố thí và Tŕ giới 
Bài thứ bảy, Tinh tấn và Nhẫn nhục 
Bài thứ tám, Thiền định và trí huệ. 

Xét một cách tổng quát, th́ dù là Ngũ đ́nh tâm quán hay Lục độ, cái phần chính yếu của tập "Phật học Phổ thông", khóa thứ tư này, vẫn nhắm đối tượng là diệt trừ bốn món phiền năo căn bản của con người là tham, sân, si, mạn. trừ được bốn món phiền năo ấy, từ phần thô thiển cho đến phần sâu kín, từ nhành ngọn cho đến cội gốc, trừ bao giờ cho đến khi không thấy bóng dáng của chúng trong tâm ta nữa, th́ khi ấy, con đường giải thoát tự nhiên lộ bày ra trước mắt chúng ta. 

Với hoài băo thiết tha ấy, chúng tôi biên soạn tập Phật học Phổ thông này, để tŕnh bày với quư vị Phật tử và độc giảt quư mến những phép tu mầu nhiệm để diệt trừ phiền năo và tiến lên dường giải thoát. 
  Trở Lên

Bài Thứ 1
Quán Sổ Tức

 

A. Mở Đề 

Bất luận trong công việc ǵ, sự định tĩnh của tâm trí là một yếu tố chính yếu để thành công. Nhất là công việc tu hành sự định tĩnh tâm thần lại càng quan trọng hơn nữa. Người tu hành mà tâm trí luôn luôn tán loạn học trước quên sau, học sau quên trước, tư tưởng thiếu tập trung, th́ dù có khổ công tu tập, cũng khó được kết quả khả quan, v́ thế trong phần nhiều các tôn giáo, người ta thường có những phút "lắng ḷng", tập trung tư tưởng vào bên trong để khám phá nội tâm và soi sáng lẽ đạo. Riêng về Đạo Phật th́ có những phép quán và thiện định. Về thiền đinh., chúng ta sẽ t́m hiểu trong các bài nói về Lục độ ở phần sau tập sách này. Trong bài này và bốn bài nối tiếp sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến phép quán. 

Phép quán đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đến là Sổ tức quán. Sở dĩ chúng tôi để bài quán Sổ tức này đứng đầu trong năm phép quán, trước tiên, phải biết quán là ǵ, quán như thế nào, và phải có một tâm trí định tỉnh không tán loạn. Muốn được thế, trước tiên phải tập quán Sổ tức. Khi quán Sổ tức đă thuần phục rồi, th́ các thứ quán sau mới dễ có kết quả, nghĩa là mới có thể trừ diệt dần các tâm bệnh: tham, sân, si mạn.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Quán Sổ tức là đếm hơi thở. Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để hơi thở ra vào của ḿnh, mà mục đích là để đ́nh chỉ tâm tán loạn.

 

II. V́ Sao Phải Đ́nh Chỉ tâm Tán Loạn  

Tâm trí chúng ta bị muôn việc ở đời chi phối, khi vui khi buồn, khi lo việc này, khi suy nghĩ chuyện khác, khi mừng khi giận, khi thương khi ghét, không bao giờ được định tĩnh. Dù cho ta có ngồi yên một chỗ, khoanh tay lại, tâm trí chúng ta cũng không dừng nghỉ, mà vẫn sống với đời sống lăng xăng rộn ràng của nó. Bao nhiêu h́nh ảnh phức tạp như một cuốn phim hiện lên trên màn ảnh của trí óc; và mỗi h́nh ảnh như thế lại mang theo nó một cảm tưởng vui buồn thương ghét, cho nên khi ta ngồi yên, chỉ là để cho thân xác được yên nghỉ, chứ c̣n tinh thần th́ vẫn hoạt động, có nhiềụ khi lại hoạt động nhiều hơn cả lúc làm việc. Hầu hết chúng ta đều khổ tâm, bực tức về sự hoạt động lỗi thời ấy của tâm trí chúng ta: Không muốn nhớ nữa mà vẫn cứ nhớ, không muốn thương nữa mà vẫn cứ thương, không muốn giận nữa mà vẫn cứ giận. Làm chủ thể xác đă là khó, mà làm chủ tinh thần lại càng khó hơn. Nhất là trong thế giới máy móc, phức tạp ngày nay, một thế giới đầy màu sắc rộn ràng, âm thanh chát chúa, h́nh ảnh kỳ dị một thế giới cuồng loạn trong ấy, trí óc không mạnh mẽ vững vàng th́ rất dễ bị rối loạn. V́ thế, theo các bản thống kê của các nhà bác học, số người mắc bệnh điên mỗi ngày mỗi nhiều trong thế giới ngày nay. 

Riêng trong phạm vi nhỏ hẹp, chúng ta cũng nhận thấy có nhiều người học hành chẳng nhớ, gặp việc hay quên, niệm Phật không thành công, tham thiền quán tưởng chẳng kết quả, đều do sự tán loạn của tâm trí mà ra. 

Vậy, muốn học hành mau nhớ, gặp việc không quên, niệm Phật được nhất tâm bất loạn, tham thiền quán tưởng được thành tựu, điều cốt yếu là phải làm sao cho tâm trí được yên định. 

V́ sao tâm trí được yên định, th́ dễ đạt được những kết quả như trên? Ta hăy lấy một thí dụ thông thường mà nhiều người đă kinh nghiệm: Khi ta học một bài thuộc ḷng hay làm một bài toán vào lúc hoàng hôn hay giữa cảnh náo nhiệt, th́ ta thấy vất vả khó khăn vô cùng, v́ suốt ngày tâm ta đă mệt mỏi tính toán lăng xăng, phân tán theo trần cảnh. Trái lại, cũng một bài học đó, hay bài toán đó, mà trong buổi khuya thanh vắng, một ḿnh một bóng với ngọn đèn, th́ ta lại học bài rất mau thuộc, làm bài rất mau xong, tâm tánh ta h́nh như thông minh sáng suốt phi thường. V́ sao vậy? V́ buổi khuya mới thức dậy, tâm trí ta yên tịnh, chưa bị trần cảnh chi phối. 

Ta có thể làm một thí dụ thứ hai nữa để vấn đề càng thêm sáng tỏ: Một cây đèn dầu, mặc dù rất lớn ngọn, nhưng khi thắp lên bị gió tứ phía đàn áp phải lung lay, leo lét khi mờ khi tỏ, có nhiều khi gần muốn tắt. Một ngọn đèn như thế chỉ làm hao dầu rất nhiều, chứ không thể soi sáng được ǵ hết. Nhưng khi chúng ta lấy ống khói chụp lại, gió không đánh bạt được nữa, ngọn đèn đứng thẳng và tỏa ánh sáng khắp gần xa, chiếu phá được một vùng bóng tối trong đêm trường. 

Cũng như ngọn đèn bị gió bạt kia, tâm hành giả bị bát phong xuy động, thất t́nh lục dục chi phối, lục trần bủa vây làm cho tán loạn, không soi sáng được ǵ cả. Vậy hành giả, muốn cho tâm được minh mẫn th́ phải đừng cho nó tán loạn, nghĩa là phải định tâm, định càng thâm th́ tâm càng tỏ, như ngọn đèn càng đứng lặng, th́ ánh sáng càng tỏa. Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trừ được vô minh để minh tâm kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đă định mà phát minh trí huệ sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, th́ không việc ǵ chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm ḿnh hết tán loạn, được yên định, th́ phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.

 

III. Những Điều Cần Biết Trước Khi Quán Sổ Tức  

Trước khi quán Sổ tức cần phải theo đúng những điều sau đây: 

1. Thức ăn: Phải ăn những thức ăn hợp với cơ thể của ḿnh. Nếu ăn đồ nóng nẩy quá, th́ than thể sẽ bị bức rức, tâm sanh loạn động. Trái lại, nếu ăn những vật sanh lănh, không tiêu hóa được , th́ thân thể sẽ nặng nề, lừ đừ dễ sanh buồn ngủ. 

2. Đồ mặc: Phải ăn mặc cho hợp thời tiết. Khi trời nực, mặc đồ mỏng, khi trời lạnh, mặc đồ ấm. Nếu trái lại thân thể mất sự điều ḥa, quán lâu có hiệu quả. 

3. Chỗ ở: Phải ở chỗ thanh vắng, th́ sự tu quán mới mau được thành công. Nếu ở chỗ ồn ào, đối với người mới tu, không khỏi bị loạn động. 

4. Thời giờ tu: Nên lựa những giờ thanh vắng, như 10 giờ đêm, hay 4 giờ khuya. Nếu ở thành thị th́ lựa giờ nào gia đ́nh ngủ hết, chung quanh bớt tiếng động. 

5. Tắm rửa: Thân thể phải thường tắm rửa sạch sẽ, để khỏi ngứa ngáy bức rức trong người. 

6. Cách thức ngồi: Phải ngồi kiết ǵa (hai chân tréo xếp lại gọn, thúc vào bắp vế cho sát), hoặc ngồi bán già (chân mặt tréo lên chân trái hay chân trái tréo lên chân mặt, thúc sát vào vế cho gọn gàng). Cách ngồi nầy đầu tiên chưa quen, không sao khỏi bị tê chân (chỉ tê chân khi đang ngồi thôi); qua thời gian hết tê rồi th́ đau mỏi cả hai chân. Khi hết đau mỏi, về sau ngồi bao lâu cũng được. 

7. Lưng: Lưng phải ngồi thẳng như vách tường, để cho các khớp xương sống ăn chịu đều nhau, như thế ngồi mới lâu được. Hành giả nên xem tấm vách tường kia, như nó đứng thẳng, các viên gạch ăn chịu đồng đều, nên mới đứng lâu được , nếu hơi nghiêng, cố nhiên nó phải ngă. 

8. Hai tay: Hai cánh tay ṿng xuôi xuống, hai Bàn tay để trên hai chân, tay mặc gác lên tay trái, cách thức như Phật ngồi (xem h́nh đức Trung Tôn ngồi trong mỗi chùa). 

9. Cổ và đầu: Cổ phải thẳng, đầu hơi ngă tới, hai mắt chỉ mở một phần tư (nếu mở mắt lớn th́ tâm dễ bị loạn động, c̣n nhắm lại th́ sanh hôn trầm).

 

IV. Phương Pháp Sổ Tức 

Khi đă ngồi yên ổn đúng với như cách thức đă nói trên, hành giả bắt đầu đếm hơi thở. Trước khi đếm, phải thở ra hít vào chín mười hơi thật dài, để cho hơi thở điều ḥa và những trược khí, uất kiết, nặng nề trong người đều tuông ra cả, và thay thế vào bằng những thanh khí mát mẻ, trong sạch của thiên nhiên. 

Khi thở ra, hành giả phải tưởng: "những điều phiền năo: tham, sân, si, các chất bẩn trược trong người đều bị hơi thở tống ra sạch hết, không c̣n một mảy may nào". Khi hít vào, hành giả nên tưởng: "Những chất nhẹ nhàng trong sạch sáng suốt của vũ trụ đều theo hời thở thấm vào bủa khắp thân tâm". 

Khi đủ mười hơi rồi, hành giả bắt đầu thở đều đều , không dài không ngắn, không mau không chậm, phải thở nhẹ nhàng như hơi rùa thở. Nếu thở mau và dài th́ tâm sanh loạn động, c̣n thở chậm và ngắn, th́ tâm sanh hôn trầm, hoặc bị uất kiết, có khi lại sanh ra giải đăi, rồi tâm dong ruổi duyên theo ngoại cảnh. Nên phải thở cho nhẹ nhàng và đều đặn, không mau không chậm, th́ trong người mới được thư thới khỏe khoắn. 

Từ đây mới bắt đầu đếm hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở có bốn cách như sau: 

1. Đếm hơi lẻ. Nghiă là thở hơi ra đếm một, thở hơi vô đếm hai, thở hơi ra đếm ba, thở hơi vô đếm bốn, đếm cho đến mười, không thêm không bớt, rồi bắt đầu đếm từ một cho đến mười lại. Cứ đếm đi đếm lại từ một đến mười, trong khoảng nửa giờ, một giờ hay hai giờ tùy ư. 

2. Đếm hơi chẵn. Nghĩa là thở vào rồi thở ra đếm một, thở vào rồi thở ra lần nữa đếm hai, cứ tuần tự như thế cho đến mười lại, măi cho đến khi đi ngủ. 

Phương pháp đếm hơi chẳn này rất thông dụng,, xưa nay người ta vẫn thường dùng, và đếm hơi thở ra dễ hơn, khỏi bịnh tồn khí (chứa hơi lại trong phổi). 

3. Đếm thuận. Nghĩa là đếm theo hai cách trên, cách nào cũng được , những tuần tự từ một đến mười. 

4. Đếm nghịch. Nghĩa là cũng dùng hai cách đếm trên, nhưng đếm ngược từ mười đến một. 

Bốn phương pháp này, tùy ư hành giả muốn dùng một phương pháp hay cả bốn phương pháp thay đổi cho nhau cũng được. Miễn sao thuận tiện cho ḿnh và khỏi lộn, là thành công; nghĩa là đối trị được tâm tán loạn.

 

V. Những Điều Lầm Lộn Thưiờng Xảy Ra Trong Khi Đếm Hơi Thở  

Những điều lầm lộn mà hành giả thường mắc phải trong khi mới bắt đầu tu phép Sổ tức là: 

1. Tăng. Nghiă là thở ít mà đếm nhiều, đếm nhảy vọt, như ba liền đếm đến năm, hoặc mới năm liền nhảy lên đếm tám v.v.. 

2. Giảm. Nghiă là thở nhiều mà đếm ít, đếm thụt lùi, như đến bốn rồi lại đếm ba, hay bảy rồi lại đếm sáu v.v.. 

3. Vô kư. Nghĩa là không nhớ rơ ḿnh đă đếm đến số mấy rồi. 

Mỗi khi lầm lộn như thế, phải bắt đầu đếm lại. Phải tập cho đến khi nào không c̣n mắc phải những lầm lộn nói trên, th́ tâm trí mới được yên tịnh.

 

C. Kết Luận: 

Quán Sổ tức là một phương pháp đối trị tâm tán loạn rất hiệu nghiệm và rất thông dụng trong các môn phái của Phật giáo, từ Tiểu Thừa cho đến Đại Thừa, từ các nước Á Châu đến Tây phương. Nhất là trong các giới Phật tử Nhật bản và Âu châu, pháp quán này rất được thịnh hành. Người tu hành áp dụng pháp quán này th́ tâm hết tán loạn niệm Phật mau được "nhất tâm bất loạn" tham thiền quán tưởng mau được thành công. 

Không những kẻ tu hành, người thế gian cũng nên theo pháp quán này, th́ thân thể sẽ được khỏe mạnh, tinh thần sẽ được yên tịnh thư thới, trí tuệ lại sáng suốt,, học hành mau nhớ, suy tính, phán đoán công việc làm ăn được mau lẹ và phân minh. 

Nhưng trong mọi công việc ǵ cũng vậy, muốn thành công, tất phải kiên nhẫn bền chí. Phương pháp dù hay đẹp bao nhiêu mà thiếu chuyên tâm tŕ chí, th́ cũng không đưa đến kết quả khả quan nào cả. Chúng ta hăy xem người lái đ̣ chèo ngược nước kia, nếu chèo được năm bảy mái chèo lại buông tay ngồi nghỉ, th́ không những chẳng đi tới được bến bờ đă định, mà c̣n thụt lùi c̣n rất xa nữa. Cổ nhân cũng dạy: "Giả sử có một thứ giống ǵ dễ trồng, mà một ngày nắng, mười ngày lạnh, th́ giống đó cũng khó sinh". Vậy hành giả đừng nên thấy phép quán này dễ mà khinh lờn, giăi đăi, tu một ngày nghỉ mười ngày, làm như thế tất nhiên không bao giờ được thành công. 

Ngoài sự chuyên cần, hành giả c̣n phải theo đúng lời chỉ dẫn trên này, áp dụng đúng phương pháp th́ mới được kết quả mỹ măn. 

Là Phật tử , phải thực hành pháp môn Sổ tức này để cho tâm trí hết tán loạn, trí huệ dễ phát sinh, vô minh chấm dứt và trở lại với bản tâm thanh tịnh của ḿnh. 

Nói một cách thiết thực hơn nữa, nếu muốn tu các pháp quán trong "Ngũ đ́nh tâm quán ", mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong những bài sau, trước tiên phải tập quán cho thuần thục phép Sổ tức này. Nếu quán này chưa thành công, nghĩa là tâm đang c̣n tán loạn, mà đă vội quán những pháp khác, như "Bất tịnh quán , Từ bi quán" v.v...th́ chẳng khác chi xây lầu trên cát, thế nào cũng sẽ bị sụp đổ.

Trở Lên

Bài Thứ 2
Quán Bất Tịnh

  

A. Mở Đề 

Trong thế gian này, không có ai là không tham sống. Sự tham sống này vô cùng mănh liệt, v́ nó được di truyền, tiếp nối từ muôn vạn thế kỷ cho đến nay. V́ tham sống nên chúng sinh t́m hết mọi cách để được sống, để trau dồi thân mạng, và để di truyền sự sống. V́ tham sống nên người bất chấp cả sự bất công, phi lư và tàn nhẫn, xấu xa mà ḿnh có thể phạm đến đối với những người và vật khác ở chung quanh. V́ tham sống, người ta đă không từ chối hiếp đáp, giành giựt, cướp bóc, chém giết đồng loại, và có khi cả đến đồng bào thân thích nữa. Tóm lại, sự tham sống là một nguyên nhân chính của khổ đau, tán phá và chết chóc. 

Vả lại, càng tham sống bao nhiêu lại càng sợ chết bấy nhiêu. Mà đă sợ th́ không bao giờ có thể vui được. 

Hơn nữa, có ai sợ chết mà thoát được chết đâu? Đă có sống th́ tất phải có cái trái lại là chết. Chúng ta thấy đó, ḷng tham sống đem lại cho ta biết bao hậu quả tai hại, buồn thảm, xấu xa. 

Nhưng cuộc đời, thân mạng, thật có quư báu, thật có xứng đáng cho chúng ta tham lam, mến chuộng đến thế không. 

Để xét đoán đúng đắn giá trị của thân mạng, đức Phật dạy chúng ta thực hành một pháp quán. Pháp quán đó mệnh danh là "quán Bất tịnh".

 

B. Chánh Đề 

"Bất tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán Bất tịnh tức là quán sát một cách tỷ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy rơ rằng nó là không trong sạch, như hầu hết con người đời đều lầm tưởng.

 

II. Quán Bất Tịnh Như Thế Nào  

Trong bài thứ bảy của tập Phật học Phổ thông khóa III, chúng ta đă được biết sơ qua về pháp quán Bất tịnh như thế nào rồi. Nhưng trong bài đó, chúng ta chỉ mới biết một phần của pháp quán Bất tịnh mà thôi, nghĩa là hành giả, muốn thấy thân xác là Bất tịnh như thế nào, th́ vào "thi lâm" (rừng bỏ xác người chết) để quán sát. Nhưng cái quán sát như thế, cũng chỉ mới biết một phần của cái thân Bất tịnh này mà thôi. Hơn nữa, cái phần ấy cũng không phải là phần quan trọng, v́ nó thuộc về giai đoạn sau khi chết. Nhất là đối với hạng người có quan niệm: "chết là hết", th́ "quán thây ma" như thế chưa phải là phương thuốc mầu nhiệm để họ nhàm chán cái thể xác của ḿnh và của người khác. Muốn cho họ nhàm chán, ghê tởm cái thể xác th́ phải chỉ cho họ thấy tận mắt cái "Bất tịnh" của nó, từ khi nó bắt đầu thành h́nh cho đến khi nó bị hủy hoại, từ trong cho đến ngoài, từ thể cho đến tướng. Để sự quán sát được rốt ráo, hành giả phải ra làm năm phần, tuận tự như sau:

 

Quán chủng tử bất tịnh 
Quán trụ xứ bất tịnh 
Quán tự tướng bất tịnh 
Quán tự thể bất tịnh 
Quán chung cánh bất tịnh

 

Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt giải rơ năm phần quán trên 

1. Quán chủng tử bất tịnh. Chủng tử là một hột giống, là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh. Sự vật nào cũng có nguyên nhân của nó. Thân ta vật hữu vi dĩ nhiên cũng phải có chủng tử của nó. 

Chủng tử của thân mạng gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất. Phần tinh thần này cũng gọi là phần thức. Thức này là nơi dung chứa tất cả nghiệp nhân lành, dữ của thân, khẩu, ư trong quá khứ; v́ thế nên cũng gọi là tạng thức (tạng hay tàng nghĩa là nơi chứa nhóm). Khi con người chết cái tạng thức ấy vẫn c̣n, và theo nghiệp lực thiện, ác của nó mà dẫn sanh ở các loài, hoặc trầm luân, hoặc giải thoát. Nó là chủ nhân ông của kiếp sống, là sanh lực của loài hữu t́nh 

Cái tạng thức hay thần thức này lẽ dĩ nhiên là không bào giờ trong sạch cả, v́ nó là kết tinh của những nghiệp nhân phiền năo: tham, sân, si. Hễ tham, sân, si..là nhiễm ô, là Bất tịnh. 

Đă Bất tịnh th́ tất phải t́m bạn Bất tịnh mà kết giao (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu). Thần thức nầy, để thể hiện một đời sống khác, đă gá vào, ḥa ḿnh vào một chất Bất tịnh. Chất ấy tức là cái điểm ḥa hiệp của tinh cha, huyết mẹ. Nói cách khác rơ ràng hơn, tức là cái thai mới kết tụ vậy. Mà tinh huyết là ǵ? Chính là hai chất hôi tanh ở trong con người. Sự Bất tịnh của nó, tưởng không cần nói, ai ai cũng đă rơ. 

Xem thế th́ đủ biết cái chủng tử, cái điểm khởi đầu của một thân mạng con người, từ tinh thần cho đến vật chất, đều là nhiễm ô Bất tịnh cả, không có ǵ đáng để tự hào và quí chuộng. 

Trong khi quán , hành giả phải vận dụng, tập trung ư lực để tưởng tượng một cách rỏ ràng, như thấy trước tất cả sự Bất tịnh của chủng tử, để mà nhàm chán thân người, dẹp ḷng tham luyến. 

2. Quán trụ xứ bất tịnh. Trụ xứ là chỗ ở. Như chúng ta đă thấy ở đoạn trên, chủng tử, cái thai hay con người mới cấu thành là một khối hôi tanh, th́ nơi ở của nó cũng không sạch. Kẻ xấu xa, dơ bẩn th́ t́m hoàn cảnh xấu xa, dơ bẩn mà sống, đó là một lẽ thường, không có ǵ là khó hiểu. Nói một cách rơ ràng hơn, chỗ ở của cái thai mà chúng tôi muốn nói đây, tức là cái bào thai. Cái bào thai, không nói, ai cũng biết là một cái bọc chứa đầy máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn. Cái bào thai nằm lẫn lộn và lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ bẩn ấy, như trong một cái ngục tối. Nhưng trong ngục, dù sao cũng c̣n có khoảng trống để xê dịch, c̣n có cửa thông hơi để ánh sáng và không khí lọt vào. Chứ trong bào thai th́ cái thai phải nằm co rút lại, đẫm ḿnh trong những chất nước, máu và nhớt vô cùng tanh hôi, và không có được một chút không khí hay ánh sáng mặt trời lọt vào. Cái thai phải sống trong hoàn cảnh ấy không phải chỉ một ngày, một tuần hay một tháng mà phải đến chín tháng mười ngày mới thoát ra được. Không trách ǵ, khi mới ra chào đời, nó đă khóc thét lên...Cụ Ôn Như Hầu Nguyễn gia Thiều th́ bảo nó... 

"Khóc v́ nỗi thiết tha sự thế", 

"Ai bày tṛ băi bể nương dâu". 

Nhưng theo chỗ chúng tôi nghĩ, nó khóc v́ thiết tha cho sự thế vô thường th́ chỉ một phần, mà khóc v́ tủi cực, khóc để phản đối sự giam cầm quá lâu lắc quá tàn nhẫn, quá thiếu vệ sinh, quá mất "nhân phẩm" th́ đến mười ! 

Vậy quán trụ xứ Bất tịnh có nghĩa là vận dụng toàn lực ư niệm để nhận chân một cách rơ ràng như thấy trước mắt cái dơ bẩn, cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở chủng tử, hầu dẹp ḷng rạo rực ham muốn tham đắm sắc thân người. 

3. Quán tự tướng bất tịnh. Sau khi đă thoát bào thai mà ra chào đời bằng những tiếng khóc, đứa bé bắt đầu sống một đời sống riêng biệt, có đầy đủ giác quan để tiếp xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ phận cần thiết để điều ḥa cuộc sống thể xác của ḿnh. Những giác quan bên ngoài và bộ phận bên trong ấy, thường bài tiết những chất dơ bẩn, hôi hám; do đó, ta biết rằng cái thân này không trong sạch. Vậy quán tự tướng không sạch sẽ, mà mỗi người đều có thể nhận thấy được , khi nh́n qua cái h́nh tướng bên ngoài của xác thân... 

Trong mỗi thân xác, ngoài những lỗ chân lông thường bài tiết những mồ hôi là những thứ nước gần giống như nước tiểu, c̣n có chín lỗ nữa, mỗi ngày cũng tiết ra nhiều chất nhơ nhớp, hôi hám, gớm ghiếc. Chín lỗ ấy là: đường đại, đường tiểu, miệng, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và hai con mắt. Chín lỗ này chẳng khác ǵ chín "cái cống", lớn có, nhỏ có để tải những thứ nhơ nhớp trong ngoài ra. Nói một cách không quá đáng, th́ chín lỗ cống này c̣n dơ hơn cả những lỗ cống ta thường thấy ở các đô thị nữa. Thật thế, một lỗ cống dơ nhất cũng chỉ chứa đựng những thứ như nước tiểu, phần đờm, mũi, dăi, ghèn, nhưng ít ra những thứ ấy cũng c̣n pha trộn và chảy theo với nước lă; chứ chín lỗ trong người chúng ta, chỉ bài tiết rặt những thứ nguyên chất nói trên, mà không pha trộn với nước lă như ở các lỗ cống. 

Đấy là mới nói khi thân xác đang c̣n mạnh khỏe, cường tráng; chứ khi đau ốm, già nua thân xác không tự làm chủ được nữa, th́ những lỗ ấy tự động xuất phát, hay tự do để cho các thứ dơ bẩn trong người chảy ra, th́ lại càng ghê ghớm hơn nữa. Những lúc ấy th́ những "nguyên chất" nói trên lại càng hôi hám, ung độc không khí một cách gay gắt, khó thở hơn nữa. 

Những điều chúng tôi nói trên đây không phải là quá đáng. Nếu b́nh tâm mà xét, chúng ta sẽ thấy thân của mỗi chúng ta thật đáng ghê tởm. Nhưng ít khi chúng ta thừa nhận như thế, v́ từ lâu đời lâu kiếp, với tánh mê chấp, với tâm tham đắm, nhăn quang của chúng ta như có một bức màn nhung lụa phủ ngang, nên chúng ta trông cái ǵ cũng thấy đẹp. Và cho đến khi bức màn ấy đă bị xé toang rồi, sự thật xấu xa, dù có bày ra lộ liễu trước mắt, chúng ta cũng bàng hoàng, không cho là thật. V́ thế cho nên hành giả muốn thành công và nhàm chán cái thân này, phải quán tưởng nhiều lần, từ ngày này sang ngày khác, cho đến khi nào nhận thấy một cách rơ ràng thân này quả thật là bất tịnh mới thôi. 

4. Quán tự thể bất tịnh. Như chúng ta đă thấy chín lỗ cống trong người, mỗi ngày bài tiết không biết bao là thứ nhơ nhớp. Vậy chắc chắn bên trong thân xác, những chất liệu cấu kết nên thể xác chúng ta, cũng không trong sạch được. Vậy quán tự thể bất tịnh là quán sát cái thể chất của thân người, để nhận thấy nó bất tịnh như thế nào. 

Thể chất của con người đại khái gồm có ba chất: 

Chất cứng: như xương, tóc, lông, móng tay v.v... 

Chất lỏng: như máu, nước miếng, nước mắt v.v... 

Chất sệt: (không cứng mà cũng không lỏng) như mỡ, óc, tủy v.v... 

Trong các chất ấy, dù cứng, hay lỏng cũng chẳng có thứ nào là trong sạch. 

Về chất cứng, như tóc chẳng hạn, là một vật mỹ quan để chưng diện trên đầu. Thế thường ai cũng quư nó. Nhưng nếu không săn sóc nó một cách chu đáo, không sửa soạn nó một cách công phu, nghĩa là không trâm cài, lượt giắt, không chải chuốt, gội rửa, xức ướp nước hoa, mà để bê tha cho nó tự do quét bụi, tự do dầm sương dăi nắng, tự do rối nùi lại để làm ổ chứng cho trứng chí simh nở, th́ dù cho không xua đuổi, người ta cũng chạy dài, không dám lại gần. Đó là chưa nói khi nó bị đốt cháy hay rời da đầu, rơi vào thức ăn hay vào trong miệng, th́ thật là nguy hiểm vô cùng. Tóc là thứ ở nơi cao quư của người mà c̣n bất tịnh như vậy, th́ những thứ khác như ruột, gan v.v...lại c̣n bất tịnh biết chừng nào? 

Về chất lỏng, th́ nước miếng là sạch nhất, v́ nó được ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi súc rửa nhiều nhất. Thế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay của chính ḿnh, rủi bị dính vào mặt, vào áo, th́ ta liền có những cử chỉ tỏ rơ sự nhờm gớm ngay. 

Về chất sệt, th́ năo là phần quan trọng và được ở trong đầu óc là nơi cao quư nhất. Nhưng thử tưởng tượng, khi chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người ngồi bên cạnh ta bị bể đầu, năo trắng như đậu hủ tung tóe vào mặt mày chúng ta, th́ chắc chắn những người thiếu b́nh tĩnh sẽ chết giấc v́ ghê tởm. 

Chỉ đơn cử một vài ví dụ trên, cũng đủ thấy rơ được cái bất tịnh nhiều nữa, và chắc chắn một số quư vị độc giả sẽ nhờm gớm mà không đọc tiếp nữa. 

5. Quán chung cánh bất tịnh. Chung cánh ở đây là muốn nói cái giai đoạn hư hoại của thân người sau khi trút hơi thở cuối cùng. Vậy quán chung cánh bất tịnh nghĩa là cái bất tịnh của thân người sau khi chết.  

Đây là thời kỳ chung kết của mấy mươi năm sinh trưởng của thân thể. Trong kinh đức Phật đă bảo: Thân người do tứ đại giả hiệp mà thành, như thế dĩ nhiên khi chết, xác con người phải trả về cho tứ đại. Trước hết, là hơi thở về với phong đại. Kế là hơi ấm trở về với hỏa đại. Tiếp theo là chất lỏng trong người trở về với thủy đại, và cuối cùng chất cứng và sệt như thịt xương...hóa dẫn theo địa đại. Nhất là hai thứ sau này, trong thời kỳ mềm hư, tan ră th́ thế gian này không c̣n thứ ǵ nhơ nhớp, hôi hám, ghê tởm hơn nữa. Dù cho xác chết trước kia là người thân mến nhất đời, nhưng để năm bảy ngày chưa kịp tẩn liệm, chôn cất th́ ta vẫn ghê tởm, không thể đến gần bên cạnh mà không bịt mũi. Sự thật tàn nhẫn này được phơi bày nhan nhản khắp nơi trong những giai đoạn chiến tranh. Nói một cách tổng quát từ kẻ sang đến người hèn, từ kẻ giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ, từ kẻ đẹp đến người xấu, ai ai đến giai đoạn chung cánh này, cũng chỉ có một mùi giống nhau: mùi hôi; một chất như nhau: chất thúi. Cái bất tịnh của con người trong giai đoạn kết thúc này đă rơ rành rành, tưởng không cần giải bày thêm nữa. Vả lại, trong bài thứ bảy của tập Phật học Phổ thông khóa thứ ba, cũng đă nói một cách tường tận đến cái bất tịnh của thân người trong giai đoạn này rồi. Nếu quư độc giả nào không nhớ, xin hăy đọc lại đoạn ấy. 

Tóm lại, qua năm giai đoạn quán bất tịnh này: chủng tử, trụ xứ, tự thể và chung cánh, chúng ta đă có một quan niệm rơ ràng, chân xác về cái bất tịnh của thân người. Cả một thời gian đằng đẵng, từ lúc đầu thai đến khi bị vùi xuống đất, quả thật thân người không t́m thấy một tí ǵ thơm sạch. Dầu có tài hùng biện đến đâu, cũng không ai có thể ngụy biện cho cái thân bất tịnh trở thành thanh tịnh được.

 

III. Mục Đích Và Lợi Ích Của Quán Bất Tịnh  

Có người hỏi: Tại sao trong khi cuộc đời đă xấu xa, đau khổ, đức Phật lại c̣n vạch thêm cho người ta thấy cái dơ bẩn nhớp nhúa của thân người làm ǵ? Tại sao không cho người đời có cái ảo ảnh rằng thân người là đẹp đẽ, trong sạch để họ có thể được an ủi và quên lăng một phần nào cái xấu xa của kiếp người, mà lại làm cho đời thêm chán chường, tuyệt vọng khi nhận rơ cái thân bất tịnh của ḿnh? 

Trước tiên, chúng ta phải nhận định dứt khoát rằng: Đạo Phật là "Đạo như thật", đạo của chân lư. Đức Phật không muốn lừa phĩnh chúng sinh, lấy xấu xa làm tốt, lấy dở làm hay, hoặc trái lại. 

Thứ đến, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: chính cái vọng tưởng rằng thân người là thơm sạch, đẹp đẽ đă gây tai họa lớn cho người đời. V́ lầm tưởng thân người có giá trị quư báu, nên đối với chính thân ḿnh th́ người ta nâng niu, cưng dưỡng, t́m hiểu mọi cách, không từ một hành vi xấu xa nào để nuôi dưỡng phụng sự nó; đối với thân người khác giống th́ say mê, đắm đuối, t́m mọi cách để chinh phục, làm của riêng của ḿnh. V́ sự đánh lầm giá trị, tham đắm sắc thân giả dối ấy mà cuộc đời chung cũng như cuộc đời riêng, đă xấu xa lại càng thêm xấu xa, đă đen tối lại càng thêm đen tối. 

Lại nữa, khi đă đánh lầm giá trị lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy thúi làm thơm, th́ tất nhiên cái đẹp cái hay, cái thơm chân thật sẽ bị bỏ rơi, không c̣n được biết và dùng đến. Loài người đă v́ tham đắm cai xác thân nhỏ hẹp, xấu xa, ngắn ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng lớn đẹp đẽ trường tồn. 

Vậy đức Phật khi đă xé tan cái màn ảo ảnh bao bọc xác thân và làm lộ nguyên h́nh cái xác thân bất tịnh là nhắm mục đích hướng tầm mắt và sự hoạt động của kẻ tu hành vào cái giá trị chân thật đẹp đẽ, rộng lớn và trường tồn hơn. 

Nhưng chúng ta cũng đừng nên kết luận một cách sai lầm rằng: cái thân này đă là bất tịnh, thối tha, th́ hăy diệt ngay nó đi, như năm chục vị Tỳ kheo đă làm, sau khi nghe Phật thuyết pháp về cái thân bất tịnh. Làm như vậy là đă xét đoán một cách nông nổi, máy móc ! Đừng khinh trong túi đất dơ không có ngọc, chớ cho trong bể nước mặn không có vàng. Chớ nên tưởng rằng trong thân bất tịnh này không có Phật tánh ở đâu xa. Đức Phật thường dạy: Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Trong kinh Lăng nghiêm, Ngài lại phát minh Phật tánh "bất sinh diệt" trong cái sinh diệt. Phật tánh hay tánh bất sinh diệt là căn bản tinh thần của ta đó. Nó th́ vô h́nh những không mất, lẫn lộn trong "bất tịnh" mà thường vẫn thanh tịnh. 

Biết lợi dụng cái thân bất tịnh, vô thường này, mà t́m ra cái "tịnh" cái "thường", ấy chính là bổn ư của đức Phật khi dạy pháp quán tưởng này.

 

C. Kết Luận 

Chơn tâm con người vẫn là tâm thanh tịnh; nó nằm sẵn trong xác thân bất tịnh của mỗi chúng sinh. Nhưng v́ con người đời bị phiền năo tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt nên say mê quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không thấy được bản tâm thanh tịnh. 

Muốn chận đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, đức Phật dạy phải quán bất tịnh. 

Vậy quán bất tịnh có mục đích: 

Đối trị ḷng tham sắc dục, chứ không phải để chán đời, tự hủy diệt ḿnh. 

Dứt trừ vọng niệm và giác ngộ Phật tánh, để tiến mạnh trên đường giải thoát cho ḿnh và cho người. 

Nhưng, vàng không tự nhiên nằm sẵn trong tủ, ngọc chẳng phải nằm khơi trên đất. Phật tánh cũng vậy: Nó không tự hiến cho ta khi ta an nhiên ngồi đợi. Vậy kẻ tu hành muốn thành tựu phép quán này để giác ngộ Phật tánh, cần phải gia công tu luyện, và nhất là phải trau giồi ba đức tánh sau đây: 

Sáng suốt (trí huệ): Đừng để cho dục vọng làm mờ mắt, lấy giả làn chơn, lấy xấu là đẹp. Đừng hời hợt nh́n bên ngoài, mà phải sâu sắc nh́n hẳn vào bên trong. 

Thành thật: Thấy thơm th́ nói thơm, thấy thối th́ nói thối, đừng tự ái, đừng thiên vị, chỉ một mực tôn thờ sự thật, dù sự ấy làm cho ta đau ḷng, buồn tủi. 

Kiên nhẫn: Phải bền tâm, tŕ chí, đừng thấy khó mà ngả ḷng; đừng thấy đường dài mà lùi bước. Ở đời không có công việc ǵ tốt đẹp mà chẳng gặp khó khăn. Một nửa sự thành công là do ở kiên nhẫn. Nếu chúng ta có đủ ba đức tánh nói trên, nhất định ta sẽ thành tựu tốt đẹp, trong pháp quán bất tịnh này.

Trở Lên

Bài Thứ 3
Quán Từ Bi 

 

A. Mở Đề 

Trong các nguyên nhân gây ra đau khổ cho ḿnh và cho người, tánh nóng giận là một nguyên nhân lớn, chẳng kém ǵ ḷng tham lam và tánh ngu si. Từ vô thỉ đến nay sự xây dựng của loài Người lớn lao vô kể; những sự phá hoại v́ ḷng giận dữ của họ, cũng lớn lao vô cùng. Loài người xây rồi phá, phá rồi xây không ngừng, chẳng khác ǵ những đứa trẻ xây nhà trên cát, xây xong rồi đạp đi, để rồi xây lại. Và nguyên nhân của sự phá hoại ấy là ḷng nóng giận. Có những sự nóng giận nho nhỏ trong nhà giữa vợ chồng làm đổ vỡ chén bát; có những sự nóng giận giữa anh em làm u đầu sưng trán; có những sự ṇng giận giữa bạn bè làm đoạn tuyệt đường đi lối về; có những sự nóng giận giữa t́nh địch, hay đồng nghiệp kinh doanh cần phải thanh toán bằng lưỡi dao, mũi súng hay lọ át xít; có những sự nóng giận lớn lao hơn, giữa nước này với nước khác, màu da này với màu da nọ, chủ nghĩa này với chủ nghĩa kia, mà kết liễu là những thấy ma nằm ngổn ngang trên băi chiến trường, những kẻ tật nguyền trong các bệnh viện, và những chiếc khăn tang trên đầu các cô nhi quả phụ... 

Tất cả những tai họa trên đều do sân hận mà ra. Sân hận nằm sẵn trong ḷng mỗi người, như những ngọn lửa âm ỉ cháy, như những ng̣i thuốc súng sẵn sàng bùng nổ bất luận lúc nào. Lửa gặp lửa, thuốc súng gặp thuốc súng, không nói, hẳng ai cũng biết tai hại do chúng gây ra lớn lao như thế nào ! 

 

B. Chánh Đề  

I. Định Nghĩa

 

Thông thường, người ta có quan niệm sai lầm rằng: Từ bi là bi lụy, mềm yếu, than khóc, tiêu cực...Người ta tưởng rằng hễ đă từ bi , th́ ai muốn làm thế nào ḿnh cũng chịu, sống trong hoàn cảnh thế nào ḿnh cũng theo, thiếu tinh thần tiến thủ...Tóm lại, từ bi theo nghĩa thông thường là than khóc và nhu nhược. 

Những thật ra, từ bi theo Đạo Phật có nghĩa khác xa. Phật dạy: "Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh chi lạc; Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ". Nghĩa là Từ cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ cái khổ cho tất cả mọi loài. Diệt khổ và cho vui đó là tất cả nguyện vọng và hành động lợi tha, cứu đời của người có ḷng từ bi. Thế nên, từ bi không phải là thụ động, là trốn đời hay nhu nhược. Cái khổ và cái vui nói ở đây không chỉ là khổ và vui vật chất mà c̣n cả khổ và vui tinh thần. 

Hết khổ và được vui tức là khía cạnh của cuộc đời, nhưng không thể rời bỏ nhau được. Khi được vui một phần nào, tức là đă bớt khổ một phần nào, ấy là trong Từ có Bi; và trái lại, khi bớt khổ một phần nào, tức là đă được vui một phần ấy như thế là trong Bi có Từ. Cũng như một đứa bé đang khổ sở v́ đi lạc đường, bỗng có ai chỉ đường cho nó, nó liền vui mừng và hết khổ. 

Vậy từ bi là một ḷng thương rông lớn vô biên, nó xui khiến người ta vận dụng tất cả khả năng, tâm tư, phương tiện để làm cho mọi người, mọi vật thoát khổ được vui. 

 

II. So Sánh Từ bi Với Bác Ái  

Bác ái là t́nh thương yêu rộng lớn. Như thế th́ bác ái và từ bi đều có một tánh chất giống nhau ở chỗ rộng hẹp, sâu cạn mà thôi. Có người cho rằng bác ái rộng hơn từ bi.Cho như thế là v́ chưa hiểu rơ hai chữ Từ bi. Như trên đă định nghĩa: Từ là cho vui tất cả chúng sinh; Bi là diệt trừ mọi nỗi khổ cho tất cả mọi loài. Chúng ta đă biết Phật dùng hai chữ chúng sinh là để chỉ cho tất cả mọi sinh vật. Vậy Từ là cho vui tất cả mọi sinh vật, chứ không phải riêng cho loài người. Tất cả mọi vật có sự sống đều được chung hưởng t́nh thương ấy. C̣n Bi là diệt trừ mọi nỗi khổ cho chúng sinh. Chúng ta nên để ư là trong câu định nghĩa chữ Hán, các kinh dùng chữ "bạt" nghĩa là nhổ tận gốc rễ. Vâng, nhổ tận gốc rễ của cái khổ chứ không phải chỉ thoa dịu cái quả khổ trong hiện tại, mà để mặc cho cái nhân gây ra khổ măi về sau. Người có ḷng Bi là vừa thoa dịu vết thương đau khổ trong hiện tại và vừa chữa cho khỏi nguyên nhân hay gây ra đau khổ, như người làm vườn, không phải chỉ phác cho sạch cỏ trên mặt đất, mà c̣n đào sâu xuống dưới, nhổ cho hết gốc rễ của cỏ nữa. 

Như thế th́ Từ bi, về phương diện không gian, bao gồm tất cả mọi loài, c̣n về phương diện thời gian, bao gồm tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n bác ái th́ chỉ chú trọng nhiều về loài người mà ít để ư đến sinh vật; và chỉ lo cứu khổ, cho vui trong hiện tại mà ít nghĩ đến cái quả trong tương lai. 

Nói một cách khác, Từ bi là gồm hết nghĩa bác ái ở trong ,c̣n bác ái th́ chẳng trùm được lư Từ bi.

 

III. Từ Bi Cứu khổ Và Cho Vui Như Thế Nào  

Trong khi so sánh Từ bi với Bác ái, chúng tôi đă nói, về phương diện không gian, Từ bi bao gồm tất cả mọi loài. Thật thế, t́nh thường của Đạo Phật vô cùng rộng lớn. Phật dạy không được sát sinh người mà cả muôn loài vật nữa. Người Phật tử chân chính, triệt để tuân theo lời Phật dạy, không những không giết hại sinh vật để ăn, mà cũng không giết hại sinh vật trong các cuộc săn bắn hay câu cá để mua vui. Ngày xưa, các vị Tỳ kheo trước khi uống nước ao hồ, phải dùng một cái lọc để lọc nước, như thế vừa hợp vệ sinh, vừa tránh khỏi sát sinh những sanh vật nhỏ ở trong nước. Mỗi khi vào cầu, những người tu hành phải gơ xuống đất ba tiếng, để cho những sinh vật dưới cầu biết mà tránh trước. Những cử chỉ ấy mặc dù nhỏ nhặt, những đă thể hiện được một cách chân thành ḷng từ bi của người Phật tử chân chính. Chính nhờ ḷng từ bi ấy mà cuộc đời bớt tàn khốc, chiến trường được thu hẹp, người và vật không c̣n sát hại nhau, mà trái lại c̣n xem nhau như anh em. 

Nhưng nếu chỉ cho vui và diệt khổ trong hiện tiền mà không nghĩ đến cho vui và diệt khổ trong tương lai th́ cũng chưa gọi là Từ bi. Bởi thế, cần phải gây nhân vui và diệt nhân khổ. Nhân vui và nhân khổ ở đâu mà có? Trong kinh thường dạy: Khổ do nghiệp, nghiệp do hoặc. Hoặc tức là phiền năo. Phiền năo đều ở trong tâm mỗi chúng ta. Tâm là nguồn gốc của mọi hành động, của mọi kết quả. Vậy th́ quả khổ hay vui chỉ do tâm cả. Tâm chúng sinh đầy dẫy phiền năo tật xấu, dung chứa vô số hạt giống cay chua, đắng độc. Dĩ nhiên, những mầm mống ấy sẽ trổ ra những quả khổ gian lao. Bởi thế, Đạo Phật rất chú trọng vấn đề tu tâm, dưỡng tánh cho chính ḿnh và người. 

Muốn cứu khổ cho thật t́nh, chẳng những lo cứu khổ quả, mà c̣n phải trừ nhơn khổ cho sớm. Thế mới đúng như định nghĩa đă nói ở trên về chữ BI (Bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ). Chẳng hạn, muốn một người nào khỏi bị cái khổ tù đày, lao lư, bắt bớ, hành hạ, ta phải dạy họ đừng tham lam, trộm cướp và cần thiết phải biết bố thí, quư trọng của cải của người. Muốn cho người nào khỏi khổ v́ sự chia rẻ, sát hại, thù hằn, ta phải dạy cho họ đừng sân mà cần phải biết nhu ḥa, nhẫn nhục. Muốn cho người nào khỏi khổ v́ sự ngu si cám dỗ, bóc lột, khinh hèn, ta phải dạy cho họ được sáng suốt, giác ngộ cảnh đời. Khi họ hiểu rồi, tất nhiên không bảo họ tránh khỏi, họ vẫn tránh. 

Muốn cho sự nghiệp lợi tha này được hoàn toàn, người tu hạnh Từ bi,c̣n có bổn phận phải chỉ bảo cho người chung quanh những phương pháp tu hành cho có hiệu quả, như niệm Phật, tham thiền chẳng hạn, để cho tâm địa của họ được tăng trưởng công đức lành.

 

IV. Phương Pháp Quán Từ Bi  

Trong các đoạn trên, chúng ta đă phân tách ư nghĩa và tác dụng của từ bi.Chúng ta đă thấy được giá trị tốt đẹp và lớn lao của từ bi. Đến đây chúng ta hăy đề cập đến vấn đề: "làm thế nào để huân tập được ḷng từ bi". 

Một trong những phương pháp hiệu nghiệm để huân tập được ḷng từ bi là "quán từ bi". Quán Từ bi có ba từng bậc thấp cao, tùy theo căn cơ của ba hạng tu hành: 

1. Chúng sinh duyên từ. Pháp quán này thường dành cho hạng tu Tiểu Thừa thực hành. 

Chúng sinh duyên từ, nghĩa là ḷng từ bi do quán sát cảnh khổ của chúng sinh mà phát khởi. 

Chúng sinh tức là muốn nói đến những hạn c̣n đang say mê, ch́m đắm trong bể khổ sanh tử, c̣n đang trói ḿnh trong ṿng phiền năo nhiễm ô. Chẳng hạn như loài địa ngục bị hành phạt đủ điều, ngạ quỷ bị đói rách bứt bách, súc sanh bị cảnh dao thớt hành h́nh, A tu la đấu tranh, chém giết. Đến như chúng sinh ở cơi trời tuy vui thú, nhưng vẫn c̣n bị ngũ suy tướng hiện, luân hồi, đọa lạc như thường. Mà vẫn hơn hết là loài người, cũng chịu không biết bao nhiêu là cảnh khổ, từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến đoàn thể. Nhất là đối luật vô thường: sanh, già, bịnh, chết, chưa ai thoát khỏi được. Đă không thoát được mà lại c̣n vô t́nh đi gây chuốc thêm lấy khổ, lắm khi cứ quên mất cái tuổi già, mối ngày mỗi chồng chất, thật đáng thương hại ! 

Vậy, đứng trước những cảnh khổ của chúng sinh, người Phật tử phải làm như thế nào? Phải phát ḷng từ bi !Nhưng làm sao cho ḷng từ bi ấy được phát? 

Đức Phật có dạy chúng ta phải quán sát tất cả chúng sinh trong lục đạo, mười phương đều như bà con thân thuộc. 

Đây là phương pháp đầu tiên để ḥa hợp với mọi chúng sinh. Dùng cảm t́nh mà tập quán Từ bi. Trước kia, chúng ta có thói quen là cái ǵ ngoài "ta" th́ ít khi quan tâm đến. Giờ đây, quán từ bi tức là chúng ta đă phá bỏ cái vỏ ích kỷ hẹp ḥi ấy mà giác ngộ và nhận định rằng: 

Thế giới của loài người chúng ta đang ở đây, tỷ như một cái nhà lớn, nơi sum họp và đoàn kết của đại ǵa đ́nh. Vẫn biết rằng nhân loại khác nhau về màu da, chủng tộc; những cái khác đó chẳng qua là khác về bề ngoài, chứ đă là người th́ ai ai cũng có một thân h́nh xương thịt như nhau cũng đồng sợ khổ ưa vui, biết xấu biết tốt v.v...V́ thế đối với người lớn tuổi, ta phải kính trọng như ông bà cha mẹ; người ngang hàng hay tuổi xấp xỉ, xem như anh chị em ruột thịt; người nhỏ tuổi hơn nữa xem như con cái cháu chắt... 

Rộng ra một tầng nữa, đối với chúng sinh trong năm loại, chúng ta hăy xem như những thành phần của đại gia đ́nh là chú, bác, cô, d́...Vẫn biết rằng về h́nh thức, loài người khác với loài khác, và nhiều khi ta không gặp mặt nữa, nhưng xét cho cùng, đă là chúng sinh, th́ tất nhiên đồng chung một nguồn sống, và đă có sống th́ tất nhiên đều ham sống sợ chết, đều biết cảm nỗi vui sướng và khổ đau. Gần với chúng ta nhất mà chúng ta có thể thấy, gặp và nhờ cậy được là loài súc sinh. Tuy chúng không biết nói như chúng ta, nhưng nếu chúng ta đối đăi tử tế, chúng cũng biết thương mến và trung thành với ta. Tuy không có học thức, chúng vẫn biết nghe lời ta và giúp đỡ ta trong nhièu công việc nặng nề. Chẳng qua v́ nghiệp nặng, nên đời này chúng làm súc vật, nhưng biết đâu đời trước, chúng không phải là anh em của ta? Và sau này, biết đâu chúng lại không sẽ là bà con quyến thuộc của ta? 

Phương pháp tu tập của Tiểu Thừa này tuy chưa phá được ngă chấp, những cũng đă mở rộng được phạm vi hẹp ḥi của cái ngă nhỏ và thể nhập vào cái ngă to hơn là đại gia đ́nh; rồi từ cái ngă to t́nh cảm ấy, sẽ chuyển dần sang giai đoạn lư trí cao siêu hơn, bằng phép quán "Pháp duyên từ" sau đây. 

2. Pháp duyên từ. Pháp duyên từ là ḷng từ bi do duyên "Pháp tánh" mà phát khởi. Đây là pháp quán dành cho các bậc Trung thừa. 

Hành giả trong khi tu pháp môn này, quán sát thấy tất cả chúng sinh, cùng ḿnh đều đồng một "pháp giới tánh", nên chúng sinh đau khổ là ḿnh đau khổ; v́ vậy hành giả khởi ḷng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Đến địa vị này, các Ngài không c̣n phân biệt là nam hay nữ, không c̣n quan niệm ḿnh khác với người, không nghĩ rằng đó là bà con quyến thuộc, chỉ thấy ḿnh cùng người đồng một "pháp giới tánh" mà thôi. Bồ Tát đă nhận chúng sinh và ḿnh đồng một bản thể, nên khi cứu khổ, không cần biết đó là ai, và khi làm, không chấp ḿnh đă làm. Chúng sinh có khổ th́ Bồ Tát có Bi. Sự thông cảm tự nhiên ấy như t́nh thiêng liêng giữa mẹ và con, hễ có cảm là có ứng, như tánh sốt sắng của vị y sĩ có lương tâm nhà nghề, hễ thấy bịnh th́ liền trị. Với ư nghĩa này, trong kinh Trung A Hàm có tỷ dụ: Trước một nạn nhân bị trúng tên độc, lấy ra lập tức. Ông không cần phải hỏi người ấy tên ǵ, ở đâu, con ai, cũng không cần coi cây tên ấy làm bằng ǵ, ai bắn v.v... 

Sự cứu khổ cho chúng sinh, đối với các vị Bồ Tát đă chứng được "pháp duyên từ" này cũng như thế, chỉ nhằm mục đích làm sao cho kẻ khác hết khổ được vui mà thôi. 

3. Vô duyên từ. Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ nên học qua hai hạng từ bi trên mà thôi, là: Ḷng từ bi do duyên ḿnh với chúng sinh khổ sở mà phát ra, hay do duyên ḿnh và chúng sinh đống một thể tánh mà phát khởi. C̣n loại từ bi thứ ba tức là "Vô duyên từ" là một loại cao siêu đặc biệt của Đại Thừa, chúng ta chưa đủ căn cơ, tŕnh độ tu tập. Tuy nhiên, để có một ư niệm đầy đủ về ḷng từ bi , chúng ta cũng nên biết qua về loại này. 

Vô duyên từ, là ḷng từ bi không có tâm năng duyên và cảnh bị duyên, không c̣n dụng công, không c̣n quan sát, đối đăi giữa ḿnh với người, ḿnh và vật như hai thứ từ bi trước. Ḷng từ bi này xứng theo thể tánh chơn tâm mà tự khởi ra bao la, trùm khắp, không thiên lệch một nơi nào. Cũng như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cả gần xa, không phân biệt thấp cao, không chú ư một nơi nào, chiếu soi tất cả một cách vô tư và không dụng công.

 

V. Lợi Ích Của Pháp Quán Từ Bi  

Có người lo rằng nếu ai cũng từ bi th́ sẽ trở thành nhu nhược, dân tộc sẽ yếu hèn, và sự tham tàn bóc lột sẽ lừng lẫy v.v... 

Lo như thế là quá lo xa mà thành ra không thực tế. Từ xưa đến nay, loài người không phải khổ sở v́ quá từ bi, xă hội không phải yếu hèn, đảo điên v́ t́nh thương quá rộng lớn. Trái lại, sự đau khổ của cá nhân cũng như của đoàn thể, một phần rất lớn là do ḷng người c̣n độc ác. Một nhận xét không ai có thể chối căi được là một xă hội càng văn minh th́ ḷng ác độc càng bớt, t́nh thương càng tăng thêm, hay ngược lại, t́nh thương càng tăng, hay ác độc càng giảm, th́ xă hội càng văn minh, hạnh phúc. Hăy khoan lo sợ từ bi làm cho con người mềm yếu, mà chỉ nên lo sợ, nếu sự thù hằn, độc ác không giảm, th́ loài người chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. 

Khái lược theo kinh Tăng Nhất A Hàm th́ quán Từ bi sẽ được những lợi ích như sau: 

a) Khi thức hay ngủ đều được an vui 

b) Hiện tại được nhiều người thương 

c) Sống trong đời không bị tai nạn trộm cướp 

Nhưng thực hành pháp quán từ bi , không phải chỉ để cho chúng ta cầu những quả báo lợi ích riêng cho ḿnh, và có bấy nhiêu đó. Mục đích chúng ta tu là cốt làm sao chúng ta và mọi chúng sinh trong lục đạo đều khỏi khổ được vui. Lẽ tất nhiên, trong khi tu chúng ta sẽ: 

Trừ được ḷng sân hận độc ác 

Dẹp được ngă chấp hẹp ḥi 

Đoàn kết được với mọi người 

Đời sống cá nhân và đoàn thể nhờ thế được vui vẻ, có ư nghĩa. 

 

C. Kết Luận 

Từ bi là một phương thuốc trị tâm sân hận. Sân hận là đầu mối sát hại ghê gớm, là cái ch́a khóa của tất cả kho tội lỗi. trừ được nó tức là trừ được chết chóc, và dập tắt được cái ng̣i biến loạn. Bao nhiêu súng đạn và nhất là bom nguyên tử sẽ trở thành vô dụng. Trong nhân loại, không c̣n ai là cừu địch không c̣n có giai cấp bóc lột, đấu tranh. Ai cũng là người đáng thương, đáng giúp đỡ. Giữa người và người, giữa người và vật sẽ có một sự liên lạc, đoàn kết mật thiết. Con người sẽ vô cùng sung sướng khi thấy xung quanh ḿnh đều là bà con quyến thuộc, bốn biển đều là anh em và cùng chan ḥa trong Phật tánh.

Trở Lên

Bài Thứ 4
Quán Nhân Duyên

 

A. Mở Đề 

Người đời, v́ không hiểu sự vật trong vũ trụ này từ đâu mà có, cho nên sanh ra nhiều quan niệm sai lầm. Có người nghĩ rằng vũ trụ do tự nhiên sanh. Có người lại nghĩ vũ trụ do một vị thần toàn trí, toàn năng tạo ra v.v... 

Theo Đạo Phật th́ vũ trụ là vô thỉ, nghĩa là không có điểm khởi đầu, và mọi sự mọi vật trong vũ trụ không thể đứng riêng một ḿnh mà có được; trái lại, phải nương nhờ nhau mà thành. Nói một cách khác, từ vật lớn cho đến vật nhỏ, từ vât hữu h́nh cho đến vô h́nh, đều không ngoài nhân duyên mà có. V́ thế, trong kinh Phật thường nói: "Chư pháp tùng duyên". 

Sự hiện hữu của loài hữu h́nh, hay nói riêng của loài người, cũng không ngoài công lệ ấy được. Muốn hiểu rơ một cách tường tận cái guồng máy của sự sanh tử luân hồi của kiếp người trong bể khổ trần gian, chúng ta cần phải học lư "Thập nhị nhân duyên". Sau khi hiểu rơ lư thập nhị nhân duyên, chúng ta lại c̣n phải t́m hiểu phương pháp để dứt trừ cái ṿng lẩn quẩn sanh tử luân hồi nữa. 

Muốn hiểu và dứt trừ cái ṿng sanh tử luân hồi, chúng ta phải học và thực hành pháp quán nhân duyên, mà chúng tôi xin tŕnh bày trong bài giảng này.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Sao gọi là "Nhân duyên"? Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác, như hạt lúa làm nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật ǵ có tánh cách trợ gíup trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó. 

Chữ "Nhân duyên" lại có nghĩa thứ hai: Các vật đều là "nhân", các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau (nương giúp) mà thành ra cái nhà. V́ các pháp trùng điệp nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".

 

II. Thành Phần Của Nhân Duyên  

Đoạn trên đă nói: "Các pháp do nhân duyên ḥa hợp sanh". Vậy những nhân duyên ǵ sanh ra loài hữu t́nh", là những nhân duyên sau đây: 

1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lăo tử. 

1. Vô minh có nhiều nghĩa và nhiều loại: 

a) Theo Đại Thừa giải thích: "Không tỏ ngộ chân tâm gọi là vô minh" (Bất giác đệ nhất nghĩa đế, vị chi vô minh). 

b) Thông cả Đại Thừa và Tiểu Thừa giải thích: "Hiểu biết các pháp không đúng như thật (hiểu sai lầm), nên gọi là vô minh" (Bất như thật tri chư đế lư, vị chi vô minh); như vô ngă mà chấp thật ngă, vô pháp mà chấp thật pháp v.v... 

c) Ngoài ra, c̣n những nghĩa thông thường như: vô minh là không sáng, tối tăm, mờ ám, si mê v.v... 

Vô minh, lại có khi để chỉ các phiền năo như tham, sân, si. Xưa có người đến chùa hỏi: 

Thế nào là vô minh? 

Tổ sư trả lời: 

Quê mùa dốt nát đến thế, cũng đến chùa hỏi đạo lư ! 

Ông khách nổi giận, mặt mày đỏ bừng...Tổ sư nói tiếp: 

Vô minh là đó (chỉ cái sân), đó là vô minh. 

Vô minh có khi chỉ riêng cho Si tâm sở. Như nói "độc hành vô minh" hay "tương ưng vô minh" là đều chỉ riêng cho "si tâm sở": Khi nó khởi riêng một ḿnh, hoặc chung cùng với phiền năo, tham, sân v.v... 

Vô minh lại phân ra hai loại: căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Như trong mười hai nhân duyên, cái "vô minh" đầu là căn bản, v́ nó là gốc sanh ra các vô minh sau; c̣n "ái, thủ, hữu" là chi mạt vô minh. Trong tứ hoặc, th́ kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc là chi mạt vô minh; c̣n vô minh hoặc là căn bản vô minh. Trong ngũ trụ địa, th́ kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa , sắc ái trụ địa và hữu ái trụ địa là chi mạt vô minh, c̣n vô minh trụ địa là căn bản vô minh. 

Nói chung lạu, tất cả phiền năo, hoặc thô, hoặc tế của Đại Thừa hay Tiểu Thừa, có tánh cách làm cho chân tâm bị ẩn, gương trí tuệ lu mờ th́ gọi là vô minh. 

2. Hành là hành động , tạo tác. Do vô minh phiền năo nổi lên, làm cho thân, khẩu, ư, tạo tác ra các nghiệp lành hay dữ nên gọi là "hành". 

3. Thức là thần thức, chỉ cho phần tinh thần. Do thân, khẩu, ư, ba nghiệp tạo tác những nghiệp lành hay dữ nên khi chết rồi, các nghiệp dẫn dắt thần thức đi lănh thọ quả báo (thân) khổ hay vui ở đời sau. 

4. Danh sắc là thân thể. Trong thân thể người có hai phần: 

a) Phần tinh thần (tâm) chỉ có tên kêu gọi, chứ không có h́nh sắc nên gọi là "danh". 

b) Phần thể chất có h́nh sắc, nên gọi là "sắc". 

5. Lúc nhập, gọi nôm na là sáu chỗ vào. Khi đă có thân thể rồi, cố nhiên phải có sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư) là chỗ của sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp) phản ảnh vào, nên gọi là "lục nhập". 

6. Xúc là tiếp xúc. Trong sáu căn, ngoài sáu trần thường gặp gỡ tiếp xúc với nhau, như mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với ấm lạnh, trơn nhám, ư tiếp xúc với pháp trần. 

7. Thọ là lănh thọ. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, rồi lănh thọ những cảnh vui hay buồn, sướng hay khổ, hay cảnh b́nh thường. 

8. Ái là ưa muốn. Khi lănh thọ cảnh vui th́ sinh ḷng tham, muốn làm sao cho được, khi gặp cảnh khổ th́ sanh tâm sân hận, buồn rầu, muốn xa ĺa, gặp cảnh binh thường thời si mê. Đây là cái động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ư, tạo tác các nghiệp. 

9. Thủ là giữ lấy, t́m cầu; nói rộng ra là các hành động tạo tác. Do gặp cảnh thuận th́ tham cầu, gặp cảnh nghịch lại sân, si muốn xa ĺa; mục đích là muốn t́m phương này kế nọ để bảo thủ cho được bản ngă của ḿnh. Do đó mà tạo ra các nghiệp sanh tử. 

10. Hữu là có. V́ đời này đă có nhân lành hay dữ do ḿnh tạo ra, th́ đời sau quyết định phải "có" quả khổ hay vui mà ḿnh phải thọ nhận. 

11. Sanh. Là sanh ra. Do "ái, thủ, hữu" làm nhân hiện tại tạo ra các nghiệp, cho nên qia đời sau, phải sanh ra đời để thọ quả báo. 

12. Lăo, tử. Là già, chết. Đă có sanh ra, tất nhiên phải chịu các khổ già và chết v.v... 

Mười hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau, vừa làm quả cho nhân trước, vừa làm nhân cho quả sau, nối tiếp không dứt trong thời gian và làm cho chúng sinh phải măi măi xoay tṛn trong ṿng sanh tử.

 

III. Phương Pháp Quán  

Phương pháp quán mười hai nhân duyên có thể chia làm hai phần là: quán Lưu chuyển và quán Hoàn diệt. 

1. Quán lưu chuyển. Là quán sát trạng thái sanh khởi và luân lưu của mười hai nhân duyên. Sự quán sát này có ba loại: 

a) Quán sát, trạng thái sanh khởi của mười hai nhân duyên trong quá khứ xa xôi, từ vô thỉ. Từ vô thỉ, v́ vô minh vọng động, làm cho bản tâm thanh tịnh phản uẩn khuất, như mây áng nên trăng mờ (vô minh), do đó, các vọng động từ từ sanh khởi (hành), thành ra có tâm (thức) và cảnh, đủ cả thế giới và chúng sinh (danh sắc); trong thân chúng sinh có sáu căn là chỗ của sáu trần thường pảhn ảnh vào (lục nhập), rồi căn, trần thường tiếp xúc (xúc) nhau sanh ra cảm thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa (ái), v́ ưa mới giữ (thủ); do đó mà có (hữu) sanh (sanh) và già, chêt (lăo, tử). 

Đây là nói về trạng thái của mười hai nhân duyên từ vô thỉ, do vô minh vọng động, tạo tác mà có thế giới và chúng sinh, rồi cứ như thế, tiếp tục sanh khởi cho đến ngày nay, và măi măi về sau v.v... 

b) Quán sát trạng thái lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Đây là quán sát sự xoay vần của mười hai nhân duyên trong thời gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. Mười hai nhân duyên cũng như sợi dây chuyền có mười hai ṿng, ṿng này móc vào ṿng kia, ṿng kia móc vào ṿng nọ, nối tiếp nhau không có mối manh, và liên quan cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng trong quá khứ vô minh và hành (căn bản vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại (thân đời này) là "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"; quả hiện tại (thân đời này) trở lại tạo nhân (trong hiện tại) là "ái, thủ, hữu" (chi mạt vô minh); nhân hiện tại lại sẽ thành quả vị lai (thân đời sau) là "sanh, lăo, tử). Nói tóm lại, do mê hoặc (vô minh) nên tạo nghiệp (hành), v́ tạo nghiệp nên chịu quả khổ, nhân chịu quả khổ, rồi lại mê hoặc tạo nghiệp v.v...nhân sanh quả, quả lại sanh nhân, nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi, như cái bánh xe lăn tṛn trên sợi dây. Chỉ có khác là bánh xe thật th́ chỉ có một cái và biến đổi rất chậm chạp; c̣n bánh xe mười hai nhân duyên th́ vừa chạy tới mà vừa biến đổi, luôn luôn hoại và thành, thành và hoại...liên tiếp trong ba đời; quá khứ, hiện tại và tương lai. 

c) Quán sát sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong một niệm của hiện tại. Nếu lấy một khoảng thời gian ngắn trong hiện tại để quán sát, hành giả cũng có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên, chứ không cần phải quán sát ba đời. Nhưng khi đối cảnh, không rơ các pháp đều là lưu chuyển (vô minh) mà khởi vọng niệm (hành) phân biệt (thức) các cảnh vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lănh thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tím cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (hữu) rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh, lăo, tử). 

Phân tách ba pháp quán trên, hành giả sẽ rút ra những nhận xét sau đây: 

Trong mười hai nhân duyên, có hai nhóm làm nhơn và hai nhóm làm quả: Một nhóm nhân quá khứ (gồm có vô minh và hành) và một nhóm nhân hiện tại (gồm có sanh, lăo, hữu). 

Về phía quả, th́ có một nhóm quả hiện tại (gồm có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) và một nhóm quả vị lai (gồm có sanh, lăo tử). 

"Vô minh, hành" là căn bản vô minh, "ái, thủ, hữu" là chi mạt vô minh. Có thể nói "vô minh, hành" là cái biệt hiệu của "ái, thủ, hữu", c̣n "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ" là cái dị danh của "sanh, lăo, tử". Nói như thế là v́, nếu ta đổi qua tráo lại, sẽ thấy rơ: trong "ái, thủ, hữu", có "vô minh và hành", c̣n trong "sanh, lăo, tử" có "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ". 

Vô minh thuộc về "hoặc"; hành thuộc về "nghiệp"; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, thuộc về "khổ"; ái thuộc về "hoặc"; thủ, hữu thuộc về "nghiệp"; sanh, lăo, tử thuộc về "khổ".

 

HOẶC 
   Khổ Nghiệp 

Xem bản đồ: 

12 nhơn duyên liên quan 3 đời nhơn quả 

1. NHƠN (quá khứ) 
1. Vô minh (hoặc) 
2. Hành (nghiệp 

Căn bản vô minh (có ái thủ, hữu) 

2. QUẢ (hiện tại) 

1. Thức 
2. Danh sắc 
3. Lục nhập 
4. Xúc 
5. Thọ 

(khổ) Thân hiện tại 

3. NHƠN (quá khứ) 

1. Ái (hoặc) 
2. Thủ (nghiệp) 
3. Hữu 

Chi mạt vô minh (có vô minh, hành) 

2. QUẢ (vị lai) 

1. Sanh 
2. Lăo, tử (khổ) 

Thân vị lai 

2. Quán hoàn diệt. Là quán sát sự tiêu diệt của mười hai nhân duyên. Có hai cách quán: 

a) Diệt vô minh gốc rễ (căn bản vô minh). Trong phần quán sát trên, hành giả đă thấy rơ: do vô minh mà có hành, do hành mà có thức v.v...Vậy th́ bây giờ, nếu ta diệt vô minh, th́ hành sẽ bị diệt, hành bị diệt th́ thức cũng không có v.v...Hay nói một cách khác: do "mê hoặc" nên tạo "nghiệp", do tạo nghiệp nên mới chịu quả "khổ". Vậy muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp trước phải trừ vô minh. 

Trừ căn bản vô minh có hai cách: 

Đối với các bậc Đại Thừa Bồ Tát, v́ thấy rơ thể tánh chân tâm do vô minh vọng động mà có thế giới chúng sinh, ngă và pháp, nên các Ngài dùng trí Bát nhă phá trừ "sinh tướng vô minh", để trở lại với bản thể chân tâm. Khi đă ngộ được chân tâm rồi, th́ tất cả sanh tử luân hồi đều hết. Như trong Bát nhă Tâm kinh có chép: "Ngài Quán tự tại Bồ Tát khi đi sâu vào trí Bát nhă Ba la mật đa rồi, th́ thấy tất cả năm uẩn đều không, nên khỏi các điều khổ ách...". Hay như trong kinh Lăng Nghiêm có chép: "Đối với người tỏ ngộ được chơn tâm, th́ mười phương thế giới đều tiêu hết". 

Đối với người không thể phá trừ ngay được căn bản vô minh để trực ngộ chân tâm, th́ phải lần hồi trải qua vô số kiếp tu hành, khi đến địa vị Đẳng giác, dùng trí Kim cang phá trừ được "sanh tướng vô minh", mới chứng quả Diệu giác (Phật ). 

b) Diệt vô minh ngành ngọn (chi mạt vô minh). Đối với hàng phàm phu và Tiểu Thừa, căn cơ thấp hẹp, th́ không thể trực tiếp phá trừ vô minh gốc rễ như hai bậc trên, mà chỉ có thể phá trừ vô minh ngành ngọn là "ái, thủ, hữu". Khi ngành ngọn đă bị chặt rồi, th́ gốc rễ dần dần bị tiêu diệt, như bụi tre mà bị xắn hết cả măng, th́ sẽ phải tàn rụi. 

Diệt trừ vô minh ngành ngọn cũng gồm hai phương diện. 

Quán lư: Là dùng lư lẽ để nhận thấy rằng các pháp chỉ do nhân duyên ḥa hợp mà sanh ra, chứ không có thật (không hữu); bởi không có thật, nên không nên t́m cầu chấp thủ (không thủ). Đă không chấp thủ, th́ cũng không tham muốn (không ái). Nghĩa là bắt đầu quán "hữu", rồi đến "thủ", rồi cuối cùng là "ái". Nếu ba cái nhân này không có, th́ cái quả "sanh, lăo, tử" cũng chẳng có. 

Quán sự: Là y theo sự tướng mà quán sát rồi thực hành. Hành giả bắt đầu quán "ái" trước, rồi đến "thủ" và "hữu". Kinh chép: "Hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái nhạo hà ưu hà úy?". nghăi là: Bởi có tham muốn th́ có lo sợ. V́ khi đối cảnh, sanh tâm tham muốn (ái), nên mới tạo tác ra các nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu). Bấy giờ, nếu đối cảnh không tham ưa (không ái), th́ chẳng t́m cầu chấp thủ ( không thủ), v́ không chấp thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng như trong kinh Lăng nghiêm Phật dạy: "..Chỉ khi các ông đối cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt, th́ tham, sân, si chẳng khởi; tham, sân, si không khởi th́ sát, đạo, dâm, vọng không sanh...". 

Tóm lại, mê hoặc hết (ái) th́ nghiệp chẳng có (thủ), nghiệp không th́ khổ chẳng c̣n (hữu). 

Trong bốn cách trừ vô minh, chỉ có pháp "quán sự" này dễ dàng và thiết thật nhất, lại hợp với căn cơ của người tu hành hiện tại.

 

IV. Hiệu Quả Của Pháp 12 Nhân Duyên  

Hành giả sau khi thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên này, th́ sẽ trừ được tâm si mê là nguyên nhân chính của khổ đau và luân hồi của chúng sinh. Đức Phật thường bảo: "Sự khổ ở tam đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí huệ mới là khổ thôi". Xem thế th́ đủ biết trừ được tâm si mê và làm cho trí huệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của kẻ tu hành. 

Hơn nữa, hành giả c̣n nhờ pháp quán mười hai nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi Phật chưa giáng sinh, cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh hóa của vũ trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy người ta thường gọi là Độc giả, nghĩa là tự nghiên cứu một ḿnh mà được giác ngộ. Đến khi Phật giáng sinh, chỉ dạy pháp quán nhân duyên nhiều người y theo pháp quán này tu hành mà được giác ngộ, nên gọi là "Duyên giác" (nghĩa là những vị giác ngộ nhờ quán mười hai nhân duyên). 

Chỗ giải thoát của quả vị Duyên gíac và A La Hán đều giống nhau, nhưng về trí huệ và thần thông th́ quả Duyên giác cao hơn quả A La Hán. 

Sau đây là một thí dụ về sự thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên của hai vị đại Đệ tử của đức Phật Thích Ca , là Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên, lượt thuật theo kinh Nhân quả: 

Ở thành Vương xá, có hai người Bà la môn rấy thông minh trí huệ, một người tên là Xá Lợi Phất và một người tên là Mục Kiền Liên. Hai người đều tu theo ngoại đạo, có trên một trăm Đệ tử , và có hứa hẹn với nhau rằng, nếu ai nghe được pháp mầu trước, th́ phải chỉ dạy lại cho người kia. 

Một hôm, ông Xá Lợi Phất đi đường, được nghe một vị Đệ tử của Phật là Tỳ kheo A Xá Bà Kỳ, giảng giải về đạo lư nhân duyên và tóm tắt lại trong một bài kệ như sau: "Cội gốc của tất cả pháp là nhân duyên sinh, không ai làm chủ, nếu ai hiểu được pháp này, th́ chứng được đạo chân thật" 1. 

Khi nghe xong, ông Xá Lợi Phất liền xa lià trần cấu, chứng được đạo quả thanh tịnh. 

Lức trở về, ông Xá Lợi Phất giảng nói lại cho ông Mục Kiền Liên nghe. Ông này nghe xong, cũng chứng được đạo quả. Hai ông này liền đem 200 Đệ tử của ḿnh, đến xin Phật cho xuất gia làm Đệ tử.

 

C. Kết Luận 

Để độc giả có một ư niệm chung về bài giảng này và dễ nhớ, chúng tôi xin tóm tắt những yếu điểm sau đây: 

A. Tất cả sự vật không một vật nào riêng biệt mà tồn tại được. Chúng phải nương tựa vào nhau mới thành vật này hay vật khác. Đó là lư nhân duyên sanh, hay trùng trùng duyên khởi. Riêng về loài hữu t́nh như kiếp người chẳng hạn, th́ do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sanh tử dài vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Tùy theo cái tác dụng của nó mà mười hai nhân duyên ấy có thể chia làm ba nhóm là: hoặc (mê mờ), nghiệp (tạo tác) và khổ (kết qủa). 

B. Muốn dứt trừ chuỗi sanh tử dài trong biển khổ đau của cơi tục, phải quán mười hai nhân duyên. Pháp quán này có hai phần là quán lưu chuyểnquán hoàn diệt

1. Quán lưu chuyển. là quán hiện tượng sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên từ vô minh, hành, thức..đến lăo, tử. trong khi quán lưu chuyển hành giả có thể chỉ quán sát sự sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên trong quá khứ, trong hiện tại hay cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. 

2. Quán hoàn diệt. Là quán theo phương pháp làm cho mười hai nhân duyên phải tiêu diệt. Có hai pháp quán hoàn diệt: 

a) Một pháp dành cho những bậc đại căn trí, như hạng Đại Thừa Bồ Tát, đó là pháp "diệt căn bản vô minh". 

b) Một pháp dành cho những người căn cơ thấp thỏi như chúng ta, đó là pháp "diệt chi mạt vô minh". 

Pháp quán sau đây lại chia ra làm hai là quán lư và quán sự: 

Quán lư: là quán các pháp không thật có (hữu) nên không chấp thủ (thủ); bởi không chấp thủ nên không tham ái (ái). 

Quán sự: là áp dụng cái lư đă quán ở trên trong hoàn cảnh thực tại: Hành giả phải cố gắng thực hiện sao cho khi đối cảnh không khởi tâm tham ái (ái), nhờ không tham ái mới không tạo ác t́m cầu (thủ); do không t́m cầu nên không có (hữu) thọ quả sanh tử về sau. 

Hành giả thành tựu được pháp quán mười hai nhân duyên này th́ sẽ dứt trừ được vô minh, thoát khỏi sanh tử và chứng được quả vị Duyên giác. 

Cầu mong cho quí vị độc gỉa thấu hiêu được chân giá trị của pháp quán này và tinh tấn tu hành để đạt được quả vị qúy báu nói trên. 

Ghi Chú: Có chỗ nói bài kệ như vầy: 

"Chư pháp tùng duyên sanh, diệc tùng nhân-duyên diệt, 
Ngă- Phật Đại Sa-Môn, thường tác như thị thuyết". 

Dịch nghĩa: 

Các pháp do nhân-duyên, cũng do nhân-duyên diệt, 
Đức Phật của chúng ta, thường dạy nói như vậy. 

Theo Đại Thừa th́ bài kệ về nhân-duyên như vậy 

Trở Lên

Bài Thứ 5
Quán Giới Phân Biệt

 

A. Mở Đề 

Hầu hết người đời đều tin rằng, mỗi người từ khi mới lọt ḷng mẹ cho đến chết và cả sau khi chết nữa, đều có một linh hồn duy nhứt, bất biến làm chủ tất cả ư nghĩa, hành động của ḿnh. Nói theo thuật ngữ Phật giáo th́ tin như thế gọi là "ngă chấp", nghĩa là tin có một ngă riêng biệt, tồn tại bất biến...Từ cái ngă chấp ấy, mà sinh ra "ngă ái", nghĩa là thương yêu, chăm sóc, ǵn giữ cái ngă, bất chấp phải trái, hay dỡ; ngă mạn, nghĩa là ngạo mạn, cho "cái ta" của ḿnh là cao quư, tốt đẹp hơn bao nhiêu "cái" khác, đối lập với tất cả những ǵ không phải là ta hay trái ư với ta. 

Do sự chấp ngă ấy mà cuộc sống đáng lẽ phải rộng răi vô biên, trường tồn bất diệt, lại bị ngăn cách chia xẻ, giam hăm trong những cái vỏ cứng là "cái ta" riêng biệt; và người đời, hay nói rộng hơn, tất cả chúng sinh đều phải sống, chết, quay cuồng, điêu cứng, khổ đau v́ cái ta riêng biệt mà họ tưởng là thuần nhất, bất biến ấy. 

Nhưng thật ra, có một cái "Ta" như thế không? Nếu có, th́ cái Ta ấy ở đâu? Trong sáu căn hay trong sáu trần, hay trong sáu thức? Muốn hiểu rơ vấn đề này một cách tường tận, chúng ta phải quán Giới phân biệt là một trong Ngũ đ́nh tâm quán.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Quán Giới phân biệt: Giới có ư nghĩa là giới hạn, là phạm vi phân chia phần này với phần khác, bộ phận này với bộ phận khác. Chẳng hạn như trong vật chất người ta phân chia ra nhiều loại: loại màu sắc, loại âm thanh, loại mùi vị v.v...Hay trong con người, các bộ phận tiếp xúc với ngoại cảnh, như mắt, tai, mũi, lưỡi...là những Giới riêng biệt. 

Trong thế giới Ta Bà gồm những vật hữu h́nh và vô h́nh này, mặc dù có thiên h́nh vạn trạng, nhưng theo triết lư của đạo Phật, th́ có thể chia ra làm mười tám giới (loại, phạm vi). Vận dụng trí tuệ để quan sát, nhận định từng phạm vi, từng giới một trong mười tám giới ấy, để xét xem thử có một cái ngă trường tồn bất biến, duy nhất hay không, đó tức là quán Giới phân biệt.

 

II Phân Giải 18 Giới: 

Mười tám giới có thể phân ra ba loại lớn: Sáu căn, sáu trần và sáu thức.

 

1. Sáu căn: Căn tức là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nẩy nở, phát sinh. Sáu căn ở đây tức là: nhăn căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn và ư căn. 

a) Nhăn căn: tức là hai con mắt, bộ phận để làm chỗ nương tựa cho sự nhận thấy của người được rơ ràng, khi tiếp xúc với cảnh vật chung quanh. 

b) Nhĩ căn: tức là hai lỗ tai, bộ phận làm chỗ phát sinh cho sự nghe biết của người được rơ ràng, khi tiếp xúc với tiếng động ở chung quanh. 

c) Tỹ căn: tức là lỗ mũi, bộ phận làm chỗ nương tựa cho sự ngửi biết được xác thực, khi tiếp xúc với các mùi như thơm, thúi...ở chung quanh. 

d) Thiệt căn: tức là cái lưỡi, bộ phận làm chỗ nương tựa của sự nếm biết của người được rơ ràng khi tiếp xúc với các chất như chua, mặn v.v...ở ngoại cảnh. 

đ) Thân căn: tức là da bao bọc thân người, bộ phận làm cho nhận biết được cảm giác, nóng, lạnh, cứng, mềm của các vật chung quanh. 

Năm căn nay là năm bộ phận thuộc về thể chất nằm ở bên ngoài, dễ tiếp xúc với ngoại vật. Chúng có h́nh tướng do tứ đại hợp thành, có thể thấy được, chỉ được, rờ mó được. Duy thức học liệt chúng về nội căn sắc pháp. Nội căn sắc pháp này có thể phân tách ra làm hai phần: phù trần căn và tịnh sắc căn. Phù trần căn là chỉ cho h́nh tướng thô phù hiện ra bên ng̣ai, như tṛng mắt, vành tai, lưỡi đỏ v.v...C̣n tịnh sắc căn là chỉ cho phần ẩn phục của năm căn, tức là phần ứng dụng, phần hoạt động, phần sống của năm căn. Nói một cách rơ ràng đơn giản hơn, tức là những dây thần kinh hệ của con người vậy. Phù trần th́ thô thiển, tinh sắc lại tế ẩn. Nếu hai phần này rời nhau, năm căn sẽ vô dụng. 

e) Ư căn: tức là bộ phận để cho sự phân biệt phát sinh, tức là thức thứ Bảy. Phần này rất tinh tế thuộc về phần tinh thần. Cho nên không có h́nh sắc như năm căn trước.

 

2. Sáu trần. Trần, nghĩa đen là bụi. Bụi th́ nhơ nhớp luôn luôn dời đổi lăng xăng, tụ tán không chừng. Nghĩa bóng, trần tức là chỉ cho phần vật chất, cảnh vật chung quanh con người. Sáu trần là: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. 

a) Sắc trần: là sáu sắc, đường nét h́nh dáng, những ǵ mà mắt có thể thấy được. 

b) Thanh trần: là tiếng do vật hữu h́nh hay vô h́nh phát ra, nghĩa là những tiếng mà tai nghe được. 

c) Hương trần: là mùi do vật hữu h́nh hay vô h́nh bốc lên, tỏa ra, vật mà mùi ngửi được. 

d) Vị trần: là chất trong vật hữu t́nh hay vô t́nh, vậy mà lưỡi nếm được. 

đ) Xúc trần: là những thứ mềm, cứng, trơn, nhám...của vật hữu t́nh hay vô t́nh, những vật mà thân tiếp xúc được. 

e) Pháp trần: là những h́nh ảnh, màu sắc, hương vị.. trừu tượng của năm trần lưu lại sau khi đă năm căn duyên, chính là cảnh bị duyên của ư căn. Màu sắc tiếng tăm, hương vị ở đây không phải là vật thật của ngoại cảnh mà chỉ là những h́nh bóng, âm vang...của ngoại cảnh sau khi đă lọt qua năm giác quan, và đang bị ư căn duyên. 

Chúng ta có thể làm một thí dụ tho thiển sau đây cho dễ hiểu: 

Sắc trần dụ như cảnh vật bên ngoài. 

Nhăn trần dụ như cái máy quay phim. 

Pháp trần dụ như những h́nh ảnh đă giữ được trong cuốn phim. 

Ư căn dụ như người xem h́nh trong cuốn phim chiếu lên. Có thể làm một thí dụ thứ hai sau đây: 

Thanh trần dụ như các tiếng hát của một ca sĩ. 

Nhĩ căn dụ như cái máy ghi âm. 

Pháp trần dụ như cuốn băng nhựa đă ghi âm. 

Ư căn dụ như người nghe tiếng do cái máy phát ra.

 

3. Sáu thức. thức là sự phân biệt, hiểu biết, phán đoán do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sinh. Nó thuộc về tâm pháp (vô h́nh). Sáu thức là: nhăn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. 

a) Nhăn thức: là sự phân biệt, hiểu biết do nhăn căn tiếp xúc với sắc trần mà phát sinh. 

b) Nhĩ thức là sự phân biệt hiểu biết do nhĩ căn tiếp xúc với thanh trần phát sinh. 

c) Tỹ thức là sự phân biệt hiểu biết do tỹ căn tiếp xúc với hương trần mà phát sinh. 

d) Thiệt thức là sự phân biệt do thiệt căn tiếp xúc với vị trần mà pháp sinh. 

đ) Thân thức là sự phân biệt, hiểu biết do thân căn tiếp xúc với xúc trần mà phát sinh. 

e) Ư thức là sự phân biệt, hiểu biết, phê phán do ư căn tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh. 

Chúng ta có thể làm một thí dụ cụ thể sau đây cho dễ nhận: 

Sáu thức như một hội đồng giám khảo của cuộc thi th́ về văn nghệ, nữ công và gia chánh. Hội đồng này gồm có sáu người: Một ông chủ tịch và năm hội viên chuyên môn về năm ngành: 

Một người chuyên về màu sắc và h́nh ảnh 

Một người chuyên về âm thanh 

Một người chuyên về mùi hương 

Một người chuyên về chất vị 

Một người chuyên về xúc giác 

Năm hội hiên này sau khi lấy khả năng chuyên môn của ḿnh ra phân tách, phê phán rồi, liền tŕnh sự nhận xét của ḿnh lên ông chủ tịch, ông này thu góp tất cả những nhận xét của năm hội viên, làm tông kết và tuyên bố kết quả của cuộn thi ấy. Ông chủ tịch này chính là ư thức hay là thức thứ sáu.

 

III. Phương Pháp Quán  

Sau khi chúng ta đă biết được rơ ràng phạm vi và công năng của mỗi giới trong mười tám giới rồi, đến đây, chúng ta có thể bắt đầu tập phương pháp quán. Pháp quán này gồm có hai phần: Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức; và quán sát sự giả dối của căn, trần và thức. 

1. Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức. Vẫn biết căn là một nội sắc, nhưng chúng ta rất quan hệ mật thiết. Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần, c̣n trần là phần bị động "được duyên" với căn. Nhờ có căn phù trần và tịnh sắc, nên con người mới có thể nhận biết các cảnh vật chung quanh trong sự sống hằng ngày. 

Nếu không có căn, dĩ nhiên không có thức, th́ con người không phải là con người. Họ không sáng tác, xây dựng, cải cách, tiến hóa, và thế giới này phải là thế giới "chết", mờ mịt không có ư nghĩa. 

Nếu không có trần, con người cũng không sống nổi. Ngoại cảnh là trường hoạt động của con người. Nó dạy khôn dạy khéo cho con người trong cuộc sinh hoạt và làm cho con người có ư thức về cuộc sống của ḿnh. 

Thức lại tác động vào căn và trần làm cho cuộc sống càng thêm tiến bộ, sung túc thịnh vượng. 

Ba thứ này ảnh hưởng lẫn nhau như cây quẹt, chất diệm và đốm lửa. Sự liên quan này chứng minh một cách hùng hồn sự không độc lập của sắc pháp và tâm pháp, cả về phương diện cá thể lần phương diện tổng thể. 

Mười tám giới này, như đoạn đầu đă nói, gồm cả thế giới và nhân sinh, cả vật vô t́nh và vật hưũ t́nh. Một khi chúng đă không tự lập, th́ trong vũ trụ này, không có một vật ǵ, kể cả con người, cả cái ngă, do chúng cấu tạo ra lại có thể biệt lập, thuần nhất được.

 

2. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức. Phần trên, chúng ta thấy cái ngă không thể do tổng hợp của căn, trần và thức mà có được một cách thuần nhứt. Đến đây, chúng ta sẽ đi sâu vào một tầng nữa, quán sát xem cái ngă có thể có trong một phần nào của căn, trần và thức chăng? 

a) Sáu căn là ngă chăng? Trước tiên, chúng ta hăy xét bản chất của sáu căn là ǵ? Chính là một khối xương da máu thịt, hợp lại có trật tự, có tổ chức, chứ không ǵ khác. Mà đă là thịt da, xương máu th́ không có ǵ là bền bỉ, thuần nhất. Từ "khi trắng răng đến thuở bạc đầu", thử xem con người đă mấy lần thay đổi. Và sau một trăm năm, thử hỏi thể xác ấy sẽ c̣n lại ǵ, ngoài "nắm cỏ khâu xanh ŕ"? 

Giả sử có một cái ngă ở sáu căn, th́ thử hỏi: 

Nếu cái ngă ở nơi mắt, th́ năm căn kia không phải là ngă. Nếu cái ngă ở nơi tai, th́ năm căn kia không phải là ngă. Lần lượt xét cả sáu căn, chúng ta không thể nói được cái ngă ở một phần nào trong sáu căn. 

Nếu cho rằng sáu căn đều là ngă, th́ thành ra con người có đến sáu cái ngă. Nói thế chắc không ai công nhận được. 

C̣n nếu bảo rằng: Do sáu căn ḥa hợp mà có cái ngă, th́ với trái với định nghĩa về cái ngă, là thuận nhất, bất biến. vả lại khi đă cho rằng cái ngă do nhiều thứ hợp lại, th́ cũng phải công nhận luôn là cái ngă ấy là không thật, là giả hợp. 

Do đó, Duy thức học bảo "nhân vô ngă". 

b) Sáu trần là ngă chăng? Trần với căn không khác ǵ mấy. Căn đă không tự tại trong cuộc sinh tồn, th́ trần làm sao đứng vững, c̣n hoài. 

Giả sử, "ngă" nằm trong sắc, th́ trên thế giới này phải không có sự đổi trắng, thay đen. Như hoa nở rồi tàn, hết ngày rồi đêm, băi bể biến thành vườn dâu, cuộc đổi thay đă bày rành rành ra trước mắt. 

Vậy "ngă" nằm trong thanh chăng? Cũng không có lư. Thanh không bao giờ tự nhiên mà có. Nếu có không do vật hữu t́nh phát ra, th́ cũng do sự va chạm của những vật vô t́nh mà có. Như thế, thanh rơ ràng là một pháp hữu vi, có tạo tác. Mà đă là hữu vi, th́ thế nào cũng vô thường. Vả lại, vật sinh ra nó là sắc kia đă là vô ngă, vô thường, th́ nó không thể nào thường, là ngă được. 

Cho đến hương, vị, xúc, pháp cũng đều là vô thường, vô ngă như sắc, thanh cả. Chúng chỉ như làn gió thoảng qua, như màn sương phảng phất, đă vô h́nh lại bất định, nên sự vô ngă của chúng lại càng rơ rệt hơn sắc, thanh nhiều. 

c) Sáu thức là ngă chăng? Như đoạn trên đă nói, thức là sự nhận biết do căn và trần đối nhau mà có. Điều ấy đă chứng minh rằng thức không thật có. Nói một cách đơn giản th́ thức là do căn và trần đối nhau mà thành, nhưng nếu chia chẽ một cách rốt ráo theo duy thức học, th́ thức sỡ dĩ có được c̣n là nhờ nhiều nhân duyên khác nữa. Chẳng hạn như nhăn thức, sanh khởi được là nhờ chín duyên sau đây: 

Không: là khoảng trống không, cách biệt giữa căn và cảnh vật. 

Minh: là ánh sáng soi chiếu bởi mặt trời, trăng, sao, hay đèn đóm. 

Căn: là chỗ nương tựa của thức. 

Cảnh: là các sự vật mà căn duyên được. 

Tác ư: là sự mong muốn được thấy. 

Phân biệt y: là chỗ nương để phân biệt, tức là ư thức, hay thức thứ sáu. 

Nhiễm tịnh y: là thức thứ bảy hay là tiềm thức. 

Căn bản y: là thức thứ tám. 

Chủng tử: bản năng sẽ được phát sinh. 

Để có một ư niệm rơ ràng hơn về nhăn thức, chúng tôi xin giảng giải chín duyên trên ra như sau: 

Khi mắt ta thấy một vật ǵ, nó phải ở cách vật ấy gần hay xa (không ), khi thấy là ban ngày, hay ban đêm có trăng, sao, hoặc pha đèn (minh). Sự thấy ây dĩ nhiên là phải từ con mắt mà có (căn) và đồng thời, lúc đó phải có vật ǵ mới thành sự thấy (cảnh). trước lúc thấy, ta đă có ư muốn ngó rồi (tác ư). Tác ư đây lại do ư thức đă khởi động trước (phân biệt y). ư thức lại phải nương thức thứ bảy, v́ là căn của nó (nhiễm tịnh y). Thức thứ bảy lại luôn luôn và chấp thức thứ tám là ngă (căn bản y). Thức này lại là nơi dung chứa các thức chủng tử. Chủng tử là cái nhơn chánh để có ra sự vật. 

Xét từ trong đến ngoài, từ duyên đầu đến duyên chót, nhăn thức đă không có mảy may ǵ là chơn thật cả. Các thứ kia như nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức cũng như vậy cả; nhưng ít duyên hơn, như nhĩ thức th́ chỉ có tám duyên (v́ không có Minh: nghe không cần có ánh sáng). C̣n tỹ, thiệt và thân thức, th́ chỉ bảy duyên (v́ không cần có Minh và Không). Ư thức th́ chỉ có năm duyên, là: căn, cảnh, tác ư, căn bản y, chủng tử. 

Xem thế th́ đủ rơ sáu thức đều là không thật, nghĩa là cũng vô ngă như sáu căn và sáu trần. 

Tóm lại, từ căn thân cho đến thế giới, gồm trong mười tám giới, đều không thật có, không thật ngă. Hành tướng do nhân duyên ḥa hợp th́ có, những thật thể th́ hoàn toàn không.

 

IV. Hiệu Quả của Pháp Quán Giới Phân Biệt  

Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan cái ngă không c̣n manh giáp. Cái ngă đă bị tấn công đủ mọi mặt, từ ngoài vào cho đến tận sào huyệt, và cuối cùng, bị phân tán, chia xẻ, phanh phui cho đến mảy mún. Từ trước đến nay, cái ngă chấp sỡ dĩ hoành hành được là nhờ núp vào bóng tối của si mê. Từ nay phán quán giới phân biệt như là một ngọn đèn pha chiếu sáng cả ṿm trời u tối làm cho cái h́nh bóng giả dối là cái ngă cũng tan biến như mây khói. Ngă chấp đă không c̣n, th́ ngă ái, ngă mạn cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Nói một cách khác, phiền năo, ác nghiệp, khổ đau, do ngă chấp mà sanh. Nay ngă chấp đă bị diệt, th́ phiền năo khổ đau cũng sẽ hết. Phiền năo, khổ hết th́ an vui, tự tại tức thời hiện ra. Đó là cái kết quả chắc chắn thật đầu tiên của pháp quán giới phân biệt. 

Rồi từ sự an vui, tự tại tương đối ấy, hành giả sẽ cố gắng tiến dần trên đường đạo. Càng tiến, hành giả càng sáng suốt thêm, càng nhận rơ thêm chân lư. Hành giả sẽ dần dần chứng được các quả vị Tu đà hoàn, Tu đà hàm, A na hàm, A La Hán. Nhưng hành giả cũng không dừng lại ở các quả vị ấy. Hành giả không cố chấp ở quả vị đă chứng được của ḿnh, do đó sẽ giải thoát được tam giới, làm bực Thanh văn, Duyên giác. 

Nếu hành giả cố gắng tu thêm, đến khi không c̣n chấp trước các pháp ḿnh tu, mà chỉ coi đó như là ngón tay chỉ mặt trăng, như liều thuốc trị bệnh, chỉ cần trong lúc đau, nếu cố gắng tu được như thế, th́ hành giả sẽ đến bực "Vô trí, vô đắc", tức là chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề. 

 

C. Kết Luận 

Chúng ta đă thấy rơ công năng, diệu dụng và hiệu quả tốt đẹp của pháp giới phân biệt. Những thấy được ,mặc dù dă là quư, mà làm được mới thật là quư hơn. Trong trên, chúng tôi đă hai ba lần nhấn mạnh ở những chữ "nếu cố gắng..."Thật thế, nếu không cố gắng th́ đâu sẽ hoàn đó, và cái ngă, mặc dù giả dối, vẫn c̣n tồn tại mănh liệt và tác oai, tác quái như thường. Cái chấp ngă được tạo dựng và củng cố từ muôn ngàn kiếp, mối khi một ít, những lâu ngày trở thành rắn chắc, như những vỏ nghêu, vỏ ốc bám vào mơm đá. Ngày nay chúng ta được may mắn đức Bổn sư chỉ bày pháp quán giới phân biệt, để cho chúng ta thấy được cái giả tướng của nó. Những đâu phải chỉ quán năm bảy lần, hay vài ba chục lần là thành tựu? Cái ngă được bồi đắp lâu đời lâu kiếp, th́ công phu tu luyện để phá trừ nó cũng cần phải nhiều thời gian. Lư trí có thể chấp nhận dễ dàng không có thật ngă, nhưng t́nh cảm đâu có chấp nhận dễ dàng như thế? Từ trước đến nay ta đang tin tưởng quí chuộng, cưng dưỡng cái ngă, bỗng hôm nay có người bảo rằng nó không có, nó không thật, th́ thế nào t́nh cảm cũng nổi dậy phản dối, bịt tai không muốn nghe, bịt mắt không muốn thấy. Ta phải cần nhiều kiên nhẫn lắm, may ra mới thuyết phục được t́nh cảm. Những trận giặc chiến đấu với cái ngă, đến giai đoạn này, đâu phải đă chấm dứt ! Cái ngă chưa đầu hàng mà lui vào sào huyệt sâu kín nhất, vào "mật khu" nguy hiểm nhất là tiềm thức hay nói theo danh từ Duy thức học là thức thứ bảy. Sự chấp ngă ở đây có một h́nh thức toàn diện, vô cùng bén nhậy, như trong mật khu của mỗi người dân, từ trẻ đến già, từ đàn ông, đàn bà đến con nít, là một chiến sĩ; và khoảng đất, mỗi lùm cây mỗi cành lá là một cạm bẫy làm trở ngại rất lớn cho sự chiến đấu chống cái ngă. Sự chấp ngă của tiền thức hay vô thức diễn ra trong mỗi cử chỉ mỗi hành động, trong thức cũng như trong khi ngủ, trong khi lành mạnh cũng như trong khi mê sảng, trong khi sống cũng như trong khi chết (theo thần thức và đi đầu thai). Lực lượng của địch (chấp ngă) mạnh mẽ và hùng hậu như thế đấy. Chúng ta cần phải hiểu rơ trước khi chiến đấu. Biết ḿnh, biết người, trăm trận trăm thắng. 

Chúng ta không bao giờ được phép khinh địch. Phải chuẩn bị đầy đủ trước khi chiến đấu. Và trong khi chiến đấu phải quyết tâm và kiên nhẫn. Với hai điều kiện căn bản ấy, chắc chắn hành giả sẽ thành công trong cuộc chiến đấu, dẹp tan cái ngă tên giặc nguy hiểm nhất trong mỗi chúng ta, và cầm đầu các tên giặc khác là: tham, sân, si. Trừ được tên đầu đảng này là hành giả đă hoàn toàn thành công trong trận giặc chống phiền năo, khổ đau và bắt đầu bước lên đài giải thoát.

Trở Lên

Bài Thứ 6
Lục Độ

 
Độ thứ nhất: Bố Thí Ba La Mật

  

A. Mở Đề 

Đạo Phật thường được gọi là Đạo Từ bi, v́ t́nh thương trong Đạo Phật rất bao la, sâu rộng. Đức Phật tổ v́ từ bi mà xuất gia để t́m đạo cứu khổ cho chúng sinh. Vậy người Phật tử, khi noi theo dấu chân Phật, cũng phải lấy từ bi làm động tác chính cho sự tu hành của ḿnh. 

Nhưng làm thế nào để thể hiện được ḷng từ bi và làm cho nó tăng trưởng? Phương pháp mầu nhiệm nhất là thực hành pháp môn Bố thí Ba la mật, một trong sáu pháp môn (lục độ) mà đức Phật đă chế ra cho kẻ tu hành có tâm trí rộng lớn thực hành để độ ḿnh và độ người ra khỏi biển sanh tử luân hồi và đến bờ giác ngộ.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Bố thí là cùng khắp: Thí là cho, là trao tặng. Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả mọi người, mọi vật, mọi nơi. 

Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita. Người Trung hoa dịch nghĩa là "Bỉ ngạn đáo", nói theo tiếng Việt là "đến bờ bên kia". 

Bố thí Ba la mật, tức là một môn tu hành bằng phương pháp bố thí, có công năng như một chiếc thuyền, đưa ḿnh và người từ bờ mê lầm của chúng sinh sang bờ giác ngộ của chư Phật.

 

II. Thành Phần Của Bố Thí Ba La Mật  

Bố thí Ba la mật gồm các loại sau đây: Tài thí, Vô úy thí. Dưới đây chúng ta lần lượt t́m hiểu ư nghĩa của các loại bố thí ấy: 

1. Tài thí. Tài thí tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của ḿnh ra cho. Tài thí có hai loại: 

a) Nội tài. Là những vật chí thân quí báu nhất của ḿnh như thân mạng, đời sống của ḿnh. Thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Trong các chuyện tiền thân của đức Phật Thích Ca, chúng ta đă thấy nhiều gương thí nội tài, như cấu chuyện Ngài lái buôn kia, trong khi đi biển bị thuyền ch́m đă tự hy sinh thân mạng bằng cách buông tay khỏi cột buồm mà ḿnh đang bám vào, để nhường chỗ cho những hành khách xấu số khác khỏi chết đuối. 

Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao đẹp nhất mà chỉ những người giàu ḷng từ bi, bác ái mới làm được. Nếu c̣n xem thân mạng ḿnh là quư, là trọng hơn thân mạng kẻ khác th́ chắc chắn không bao giờ thực hiện được loại bố thí này. 

b) Ngoài tài. Ngoại tài là những vật thường dùng của ḿnh như thức ăn đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, nhà cửa v.v...Đem những vật ấy ra cho những người túng thiếu, nghèo khổ th́ gọi là thí ngoại tài. 

2. Pháp thí. Đem lời hay, lẽ phải, những chân lư đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác; hoặc y theo giới luật của Phật tu hành thành thật để làm khuôn mẫu cho người bắt chước, bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh đều là pháp thí. Pháp thí có một giá trị rất lớn lao hơn cả tài thí, và tài thí chỉ giúp người khác đở túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng ǵ đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau. V́ những lẽ đó, nên người Phật tử chân chính, không bao giờ bỏ mất một dịp nào mà không làm pháp thí, cả về phương diện khẩu giáo (dùng lời lẽ đúng Phật pháp để chỉ dạy, lẫn phương diện thân giáo (dùng đời sống chân chính hợp đạo để chỉ dạy). 

3. Vô úy thí. Vô úy nghĩa là không sợ. Vô úy thí là làm cho người khác không sợ, hết sợ. Phép thí này mới nghe th́ tưởng như là không quan trọng ǵ cả. Nhữnh nếu suy nghĩ một cách chín chắn, chúng ta sẽ thấy đức Phật thật vô cùng thâm thúy khi chế ra pháp thí này. 

Chúng ta hăy nghĩ lại mà xem, có phải trong một đời người, cái sợ đă chiếm nữa cuộc đời rồi không? Khi nhỏ chúng ta sợ la rầy, sợ đánh đập, sợ ma quỉ...khi tráng niên sợ thiếu ăn, thiếu mặc, sợ giặc, sợ thiếu công danh, sự nghiệp; khi già sợ đau, sợ ốm, sợ già, sợ chết...Chỉ toàn sợ và sợ. Đó là chưa nói đến gặp thời buổi loạn lạc, c̣n phải sợ sưu cao, thuế nặng, sợ quan tham, lại nhũng, sợ trộm cướp, lưu manh, sợ tù, sợ tội, sợ chém, sợ giết...Bao nhiêu thứ sợ chồng chất lên đầu người, làm cho họ không dám ngửng lên, lưng họ c̣m xuống, đầu gối họ sắp quỵ. Muốn có một h́nh ảnh tượng trưng cho sự sợ hăi, th́ hăy lấy h́nh ảnh của người dân quê Việt nam trong thời Pháp thuộc th́ rơ: Hai tay họ sẵn sàng chắp lạy, mắt không dám nh́n lên, lưng c̣ng xuống và hai đầu gối sẵn sàng để quỳ xuống mỗi khi nghe tiếng nạt của ông quan hay ông thực dân hống hách. 

Đời sống đă khổ, lại càng khổ thêm v́ sợ. Cho nên làm cho người hết sợ, chính là đă cứu cho họ bớt đi quá nửa khổ đau trong kiếp sống. Ḷng từ bi của đức Phật không nở thấy chúng sinh khổ sở v́ sợ, nên đă chế ra phép thí vô úy. 

Muốn thực hành pháp môn này, hành giả trước tiên phải luyện cho ḿnh một đức tính đừng sợ ǵ cả. Mà kẻ tu hành chân chính, hiểu rơ giáo lư của Phật, th́ c̣n sợ nỗi ǵ? Tiền của, họ không tham lam cho nên không sợ mất; danh lợi, họ không màn, nên không sợ thiếu, sanh mạng, họ xem như giả tạm, nên không sợ chết. Do cái tâm lư đó mà cơi ḷng họ luôn luôn không xao động, nét mặt họ luôn luôn b́nh tĩnh trước mọi sự đổi thay, gian nan nguy hiểm. Người tu hạnh thí vô úy sẵn sàng để nhảy xuống nước vớt người sắp chết ch́m, nhảy vào lửa để cứu người sắp chết thiêu, xông vào đám cướp để cứu người lương thiện, đến gơ cửa công, để minh oan cho người vô tội... 

Tóm lại, người tu hạnh thí vô úy, hễ đi đến đâu th́ đem đến đó một nỗi binh tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật. 

 

III. Phải Bố Thí Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp 

Chúng ta đă biết qua các lối Bố thí Ba la mật. Đến đây, chúng ta cũng cần biết rơ thái độ của người tu hạnh bố thí phải như thế nào. 

Sự bố thí như đă nói trên, thật ra không khó và không hiếm. Rất nhiều người có thể làm được. Trong đời, chúng ta thường thấy có nhiều kẻ giàu có đem bạc ngàn bạc vạn ra bố thí, có nhiều người bỏ cả tài sản ra lập nhà thương, kư nhi viện, trường học, có nhiều người dám liều mạng xông vào lửa để cứu kẻ sắp chết thiêu, nhảy xuống nước cứu người sắp chết đuối; có những kẻ anh hùng đem tài năng ra bảo vệ kẻ yếu hèn, hay dám đương đầu với bọn xâm lăng để giữ ǵn đất nước. 

Về phương diện thí pháp, có nhiều người đi đâu cũng đem đạo lư ra giảng nói, đi đâu cũng tỏ ra ta đây hiểu đạo, chứng quả. 

Nếu nh́n bề ngoài, th́ những hành động ấy đều là bố thí cả. Nhưng nếu xét về tâm lư và động lực thúc đẩy bên trong, th́ có thể có hai trường hợp khác xa nhau. 

1. Bố thí chấp tướng. Nghĩa là bố thí với một dụng tâm không trong sạch. Chúng ta đă biết bố thí do từ tâm mà ra. Bố thí là một pháp môn để tự độ và độ tha. Những nếu bố thí với một dụng tâm khác như cầu danh, cầu tài lợi (cho ít mà cầu được trả nhiều), hoặc v́ ganh đua, hoặc v́ muốn làm nhục người chịu ơn, hoặc v́ bị ép buộc, hoặc cho với một tâm lư khinh rẻ, hối tiếc hoặc cho với một tâm lư lừa lọc, bất công, thiên vị; nếu bố thí với một tâm lư, một thái độ như thế, th́ tất là bố thí chấp tướng. 

Chẳng hạn đem tiền của ra lập nhà thương, trường học để được nêu trên báo, để được nhắc nhở đến luôn; hoặc nhảy xuống sông cứu người chết đuối để được "người đẹp" tán thưởng; hoặc giết giặc để mong được tấm huy chương, hoặc giảng đạo lư để tỏ ra ḿnh học rộng biết nhiều. Những hành vi bên ngoài đẹp đẽ ấy, bên trong thật không có giá trị ǵ. 

Bố thí với tâm lư, với động lực như thế, không phải là Bố thí Ba la mật; và phước đức của những hành động ấy thuộc về hữu lậu rất mỏng manh, như mây nổi giữa hư không, gặp gió thổi liền tiêu tan. 

2. Bố thí không chấp tướng. Nghĩa là bố thí với một dụng ư trong sạch, đúng với ư nghĩa của nó. 

Trong khi bố thí, hành giả v́ tâm từ bi b́nh đẳng, xem chúng sinh như con, nên không sinh tâm vị kỷ, không phân biệt bỉ thử, thân sơ. Hành giả v́ biết tài sản cũng như thân mạng ḿnh đều là giả tạm, vô thường, nên không tham lam, tiếc nuối. Hành giả v́ biết cái ngă không có thật, nên khi cho không thấy có kẻ cho và người nhận, không tự cao, tự đại. 

Bố thí với một tâm địa trong sạch như trên sẽ được phước vô lậu thanh tịnh, mới đúng là Bố thí Ba la mật.

 

IV. Công Đức Bố Thí Ba La Mật  

Pháp bố thí là cái nhân lành của quả phúc ở thế gian và xuất thế gian. Trong lục độ vạn hạnh, pháp bố thí đứng đầu, v́ nó tương đối dễ làm hơn tất cả các pháp, mà công đức lại lợi lạc được cả đôi bên người nhận và kẻ cho: 

1. Đối với người nhận. Người đời không ai là đầy đủ. Kẻ được phần này th́ thiếu phần khác: kẻ được vật chất th́ mất tinh thần, kẻ đầy đủ tinh thần th́ thiếu thốn vật chất. 

Kẻ đang thiếu thức ăn mà được ăn, kẻ đang thiếu mặc mà được mặc, kẻ đang đau xót mà được vỗ về, an ủi, kẻ đang lo sợ mà được đùm bọc che chở th́ thật là may mắn sung sướng vô cùng. Trong một xă hội có được nhiều người giàu ḷng từ bi bác ái, luôn luôn t́m cách giúp người, th́ xă hội ấy chắc chắn sẽ được an vui thịnh đạt. 

2. Đối với người cho. Sự bố thí đă đành là lợi lạc cho người nhận, những đối với người cho cũng không kém phần quư báu. Ngoài sự sung sướng được thấy ḿnh làm việc phải, được thấy quần sinh sung sướng, vui mừng, hành giả c̣n nhờ bố thí mà tiến mau, tiến xa trên đường đạo. Mỗi khi đem của cải ra cho, là hành giả có một dịp để chiến thắng ḷng tham lam, bỏn sẻn, ích kỷ và nới rộng ḷng từ bi; mỗi khi hy sinh tánh mạng để cứu giúp người, là hành giả có dịp để thử thách ḷng tham sống, sợ chết, và trau dồi đức tánh lợi tha, b́nh tĩnh. Mỗi khi cho mà không kể kẻ thân người thù, là hành giả có dịp để chiến đấu với ngă chấp ngă ái, ngă mạn. Nếu hành giả thí pháp, th́ đó là những cơ hội để ḿnh tự nhắc nhở, ghi nhớ những lời đức Phật dạy, những công đức mà Ngài đă làm để noi theo.

 

C. Kết Luận 

Chúng ta đă thấy rơ giá trị của pháp Bố thí Ba la mật. Công đức của nó không những chỉ riêng cho người nhận, mà lẫn cả người cho nữa. Nó vừa độ người mà vừa độ ḿnh. Có công năng đưa ḿnh và người từ bờ mê lầm đến bờ giác ngộ, từ địa vị phàm phu đến quả vị Bồ Tát. 

Vậy xin khuyên các Phật tử đều phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bố thí Ba la mật, để trên cầu thành quả Phật, dưới hóa độ chúng sinh, đền ơn Tam Bảo.

Trở Lên 

Bài Thứ 6 (tt)

 
Độ thứ hai: Tŕ Giới Ba La Mật

  

A. Mở Đề 

Bất luận một đoàn thể, một tổ chức nào trong xă hội, muốn có qui củ, có đường lối để tiến triển, đều phải có kỷ luật hay giới điều. Kỷ luật càng chặt chẽ th́ đời sống chung của tổ chức, cũng như của mỗi cá nhân trong tổ chức ấy lại càng mau tiến phát. Trái lại, một đoàn thể không kỷ luật là một toán người ô hợp, dù ban đầu có đông đảo, hùng mạnh bao nhiêu, rồi chẳng bao lâu cũng sẽ tan. 

Kỷ luật bao giờ cũng do những người lănh đạo đặt ra. Một người lănh đạo càng sáng suốt bao nhiêu, có kinh nghiệm bao nhiêu, th́ qui luật, giới điều mà họ chế ra, lại càng có giá trị thực tiễn, có công dụng quí báu bấy nhiêu. 

Đạo Phật là một cái đạo có mục đích đưa người đến chỗ giác ngộ, và sáng lập là đức Thích Ca, một đấng giác ngộ hoàn toàn. Vậy những giới luật, những giáo điều của đạo Phật tất nhiên là phải có một giá trị, một công dụng quí báu, bổ ích vô cùng cho những ai muốn theo dấu chân của đức Phật. 

Chính v́ sự quan trọng và lợi ích lớn lao của giới luật như thế, nên đức Phật đă nhiều lần nhắn nhủ với các hàng Đệ tử của Ngài ,phải nghiêm tŕ giới luật. Ngài thường dạy: "Gặp thời không có Phật ,hăy lấy giới luật làm thầy". Kinh Phạm vơng cũng có chép: "Giới sáng như mặt nhật, quí báu như ngọc châu anh lạc, các vị Bồ Tát đều do tŕ giới thanh tịnh mà thành Chánh giác".

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

"Tŕ" là giữ giới chặt chẽ; "Giới" là những điều răn dạy, ngăn cấm, những qui luật mà đức Phật đă chế ra để hướng dẫn các Đệ tử của Ngài đi vào con đường chánh, và tránh cho họ những hầm sâu hố hiểm mà họ có thể rơi vào, trên con đường đi đến quả vị Phật. 

Vậy tŕ giới ba la mật là một môn tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ ǵn nghiêm chỉnh, trọn vẹn giới luật mà đức Phật đă răn dạy.

 

II. Thành Phần Của Giới Luật  

Căn cơ của chúng sanh không đồng nhau, và sự tu hành của Đệ tử Phật cũng có nhiều cách; v́ thế, đức Phật phải chế ra rất nhiều giới luật và phân ra nhiều loại để áp dụng cho sát vào căn cơ và lối tu của mỗi hạng người. Tuy thế, chúng ta có thể phân chia giới luật của Phật ra làm ba phần và hai cấp bậc: 

Giới tại gia cho hàng Tiểu Thừa. 

Giới xuất gia 

Giới Đạo và Tục thông hành (Bồ Tát giới) cho hàng Đại Thừa. 

1. Giới tại gia. Giới tại gia là những giới dành cho những người chưa xuất gia trong hàng Tiểu Thừa, tức là những cận sự nam và cận sự nữ (cư sĩ tại gia). Những người này có thể thọ tŕ từ một đến năm giới (Ngũ Giới) hay tám trai giới (bát quan trai). 

2. Giới xuất gia. Xuất gia gồm có năm chúng: Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na ni, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Các chúng này tùy theo sự tu hành thấp hay cao, nam hay nữ mà giữ giới nhiều hay ít: 

Sa di và Sa di ni phải giữ 10 giới. 

Thức xoa ma na ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới. 

Tỳ kheo phải giữ 250 giới 

Tỳ kheo ni phải giữ 348 giới. 

3. Giới đạo tục thông hành. Giới đạo tục thông hành chính là giới Bồ Tát. Ấy là giới mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại Thừa phải thọ tŕ, sau khi đă phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh để mở rộng bề làm Phật sự và hóa độ thế chúng sinh. 

Phạm vi bài này chỉ nói về Đại Thừa Bồ Tát giới và đây những giới mà người tu hạnh tŕ giới ba la mật cần phải biết và giữ cho đúng. 

Bồ Tát giới gồm có: 

Nhiếp luật nghi giới. Người thọ tŕ "Nhiếp luật nghi giới" là người quyết giữ đúng mười hai giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, nghiă là quyết không làm một việc ác nào cả. 

Nhiếp thiện pháp giới. Người thọ tŕ "nhiếp thiện pháp giới" là người quyết tâm làm tất cả các việc lành. 

Nhiêu ích hữu t́nh giới. Người thọ tŕ giới này là người quyết tâm tu hạnh từ bi ,hỷ xả, làm tất cả những điều lợi ích cho tất cả chúng sinh, không một loài nào mà chẳng hóa độ.

 

III. Phải Tŕ Giới Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp  

Cũng như pháp tu bố thí nói ở bài trước; tŕ giới ba la mật cũng có hai cách: Tŕ giới sai chánh pháp và tŕ giới đúng chánh pháp, hay nói theo danh từ nhà Phật là: Tŕ giới chấp tướng và tŕ giới không chấp tướng. 

1. Tŕ giới chấp tướng. Tŕ giới chấp tướng là tŕ giới mà chỉ có h́nh thức bên ngoài, chứ bên trong th́ rất nhiễm ô. Chẳng hạn tŕ giới v́ háo thắng để được người đời khen ngợi; tŕ giới với một tâm lư tự cao tự đại, cho ḿnh hơn người, và khinh dễ người phàm giới; tŕ giới v́ bị ép buộc, nên thiếu hoan hỷ mà sanh tâm buồn phiền, miễn cưỡng...Tŕ giới như thế là thiếu thành tâm, là giả dối, đánh lừa ḿnh và người. Tŕ giới như thế chẳng ích lợi ǵ, chỉ thêm mất thời giờ và không phải là tŕ giới Ba la mật. 

2. Tŕ giới không chấp tướng. Tŕ giới không chấp tướng là làm theo đúng vẹn toàn các điều răn cấm mà đức Phật đă chỉ dạy, không v́ danh lợi, không v́ háo thắng, không v́ bị hoàn cảnh ép buộc mà làm. 

Trong khi tŕ giới, hành giả không hề nghĩ ḿnh giỏi hơn người, cũng không chấp nê theo giới luật, khinh dễ người phạm giới. Hành giả chỉ v́ thuận theo đức tánh vốn không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sinh và nh́n nhận "tŕ giới" là bổn phận của ḿnh không thể bỏ qua được. Tŕ giới như thế mới đúng là tŕ giới Ba la mật, công đức sẽ vô lượng vô biên.

 

IV. Công Đức Tŕ Giới Ba La Mật  

Như trên đă nói, tŕ giới Ba la mật có một hiệu lực rất lớn lao cho việc tu hành của người Phật tử. Phật tử thọ tŕ giới luật nghiêm trang thanh tịnh th́ lúc hiện tiền tâm được thơ thới an vui, không có ǵ phải ân hận. Đối với làng nước, hành giả được niềm nở kính nhường, nhất là đối với các tín đồ, lúc nào cũng được hoan hỷ, quư trọng. Trong kiếp vị lai, hành giả chắc chắn được chứng quả Bồ đề, thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi. 

Nếu chúng ta đem so sánh pháp môn bố thí với tŕ giới Ba la mật, th́ sẽ thấy phép tŕ giới hơn hẳn bố thí một bậc. 

Người Phật tử có tài thí, pháp thí mà không có tŕ giới, th́ không thể thành Phật được, v́ người ấy vừa tạo phước và cũng vừa gây tội, do chỗ không tŕ giới, thành thử gây nghiệp thiện ác xen tạp, đâu được trọn lành mà mong chứng đến quả Thánh? 

Trái lại, người Phật tử, nếu chỉ chăm chú nghiêm tŕ giới luật, th́ chắc chắn sẽ thành Phật. V́ sao vậy? V́ trong lúc chuyên tâm tŕ giới là đă có tài thí và pháp thí hàm súc rồi: 

Khi hành giả tŕ giới được thanh tịnh, th́ tâm từ bi ,hỷ xả bủa khắp. Hễ họ thấy kẻ nào làm hạnh tài thí, pháp thí cho ai, th́ liền sanh tâm hoan hỷ tán thành công đức, như thế tức là người ấy được một phần công đức "tùy hỷ bố thí". 

Hơn nữa, khi hành giả thành thật chuyên tŕ giới luật, thực hành theo đúng lời Phật dạy, làm gương mẫu cho quần sinh bắt chước, tức là đă thí pháp bằng thân giáo. C̣n khi hành giả tŕ tụng giới luật cho nhập tâm thuần thục, cũng tức là thí pháp bằng khẩu giáo. 

Xem như thế th́ tŕ giới Ba la mật là một pháp môn rất thần diệu, có thể bao gồm cả bố thí lẫn tŕ giới, chắc chắn sẽ đưa hành giả đến bờ giải thoát.

 

C. Kết Luận 

Giá trị và công năng của tŕ giới Ba la mật đă được chứng minh một cách rơ ràng, chúng ta không c̣n nghi ngờ điều ǵ nữa. Giờ đây chúng ta c̣n một quyết định dứt khoát là phát tâm dơng mănh tŕ giới Ba la mật. 

Sự tu chỉ cốt ở thực hành. Dù thông minh tài trí đến đâu, dù thâm hiểu giáo lư đến đâu, mà không thực hành, th́ cũng vô ích. Chúng ta đừng nên quên rằng chữ "hành" thường đi theo chữ "học" và chữ "tu" (học hành, tu hành). Đạo Nho cũng có câu: "học nhi thời tập chi". Đạo Phật lại dạy một cách mạnh mẽ hơn: "tu mà không học là tu mù; học mà không tu là cái đảy sách". Nhất là khi đă mang danh Phật tử, đă thọ giới mà không giữ giới, th́ chẳng khác ǵ đem giới luật của Phật ra mà phỉ báng và làm tṛ cười cho thế nhân. 

Vậy chúng tôi xin khuyên quí Phật tử, sau khi đă nhận chân giá trị cao quí và lợi ích lớn lao của pháp môn tŕ giới Ba la mật, hăy mau mau phát tâm rộng lớn tu hành tŕ giới này, để chóng thoát ṿng sinh tử khổ đau.

Trở Lên  

Bài Thứ 7
Lục Độ (tiếp theo)

 
Độ thứ ba: Tinh Tấn Ba La Mật 

 

A. Mở Đề 

Ngạn ngữ ta có câu: "Ăn không lo, của kho cũng hết". Thực vậy, dù tiền rừng bạc biển mà ăn rồi ngồi không, th́ cơ nghiệp cũng có ngày tiêu tan. Đối với người giàu, lười biếng c̣n như thế, huống hồ đối với người nghèo túng, th́ lười biếng là một chứng bệnh rất nguy hiểm... 

Người làm ruộng không siêng năng cày cấy, bón phân tát nước, thức khuya dậy sớm, lo lắng mọi việc, th́ đến mùa lúa, chắc chắn sẽ bị thất bại, thiếu trước hụt sau, nợ nần vây kéo, cả năm buồn bả. 

Anh thợ máy hay chị thợ may không siêng năng với nghề nghiệp, lười biếng ăn chơi măn tháng suốt năm, v́ tiền bạc không dư nên phải vất vả, đến khi đau ốm lại càng khổ vô cùng. 

Người đi buôn bán, không siêng năng thức khuya dậy sớm, mua tảo bán tần, th́ phải bị lỗ lă, thâm thủng nhiều ngày, mang công mắc nợ, nên phải sang tiệm thế đồ, gia tài khánh kiệt. 

Trong đạo Phật cũng vậy, lười biếng là một cái tội. Người học đạo không tinh tấn thức khuya dậy sớm tham thiền, quán tưởng, niệm Phật tụng kinh, không lo hoằng dương chánh pháp, cứ biếng nhác qua ngày, tiêu pha của đàn na thí chủ; như thế ḿnh đă không tự độ, th́ làm sao độ tha được ! Hiện tại không có lợi ích ǵ cho đạo, sau khi chết phải trả nợ cho đàn na thí chủ. Nói chung lại, người lười biếng dù ở ngoài đời hay trong đạo, dù làm việc ǵ cũng không thành công. 

Muốn tránh những điều tai hại trên, ta phải tu pháp Tinh tấn Ba la mật.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

"Tinh" là tinh chuyên (ṛng rặt) một việc không có xen tạp. "Tấn" là tiến tới măi măi không dừng, không gián đoạn hay thối lui. 

Hai chữ tinh tấn nói theo nghĩa thông thường là siêng năng chuyên cần; theo Duy thức học, th́ tinh tấn là món trong mười một món thiện tâm sở, không phải thuộc về phần tội ác. Bởi vậy, người siêng năng làm những điều sai quấy như siêng năng đào đường khoét vách, cờ bạc rượu chè th́ không phải là tinh tấn, mà duy thức học gọi là "phóng dật" (buông lung)

 

II. Thành Phần Của Tinh Tấn Ba La Mật 

a) Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh. Nghĩa là các điều ác, từ trước đến giờ ḿnh chưa làm đến, th́ từ nay về sau cũng phải tinh tấn đừng cho nó phát sinh. Thí dụ như từ hồi nào đến giờ, ta không hề sát sinh hại vật, trộm cướp gian giảo, trêu hoa ghẹo nguyệt, nói lời dối trá hung ác và cờ bạc rượu chè v.v...th́ từ đây về sau ta cũng phải tinh tấn thêm lên, cố gắng giữ ǵn cho đừng sanh khởi. 

b) Tinh tấn diệt cho mau các điều ác đă sanh. Nghĩa là các điều ác mà ḿnh đă lỡ làm rồi, th́ phải tinh tấn diệt trừ cho mau, thí dụ như ta lỡ tạo những tội ác tham lam trộm cướp, đa mê sắc dục, giận dữ kiêu căng, th́ nay ta phải tinh tấn đừng cho nó tăng trưởng thêm nữa, mà trái lại phải diệt trừ cho chóng. 

c) Tinh tấn làm cho các điều lành phát sinh. Nghĩa là từ trước đến nay có những điều lành ta chưa thực hiện được, th́ nay ta phải tinh tấn để cho nó phát hiện ra trong hành động. Thí dụ, lâu nay ta chưa làm những việc thiện xă hội, bỏ công bỏ của ra giúp người nghèo đói tật nguyền, hay ta chưa quy y thọ giới, ăn chay niệm Phật, học đạo nghe kinh v.v...th́ từ ngày hôm nay ta phải tinh tấn làm cho các điều làm này được phát sanh. 

d) Tinh tấn làm cho các điều lành tăng trưởng. Nghĩa là các điều lành đă được phát sanh rồi, nay ta phải tinh tấn làm cho nó tăng trưởng hơn nữa, hay ta đă quy y rồi, bây giờ phải tinh tấn phát nguyện tŕ giới. Nếu ta đă thọ Ngũ Giới rồi, bây giờ phải tinh tấn tu Bát quan trai...Tóm lại, tất cả việc lành từ ngoài đời cho đến trong đạo, ḿnh đă làm th́ phải tinh tấn làm sao cho mỗi ngày được phát triểủn. 

 

IV. Phải Tinh Tấn Như Thế Nào Mới Đúng Chánh Pháp? 

Tinh tấn, cũng như bố thí và tŕ giới, đều có hai phương diện: 

a) Tinh tấn có chấp tướng. Có người trước mặt mọi người, th́ rất tinh tấn, lăng xăng làm việc này việc khác, tỏ ra cần mẫn chăm chỉ để được tiếng khen, nhưng khi không ai nḥm ngó, th́ lại rất giăi đăi. Có người v́ sợ người trên la rầy, quở phạt mà tinh tấn; nhưng khi được tự do, không ai kiểm soát th́ lại buông lung. Có người tinh tấn với một tâm lư háo thắng, quyết hơn người để tự cao tự đại. 

Tinh tấn với một dụng tâm không trong sạch, như v́ danh, v́ lợi, v́ sự kiêu căng v.v...đều là tinh tấn chấp tướng, không đúng là tinh tấn Ba la mật. 

b) Tinh tấn không chấp tướng. Tinh tấn không chấp tướng tức là tinh tấn một cách chân thành, không v́ dục vọng mà chính v́ ḿnh nhiều tội lỗi, nên quyết tâm sửa chữa, thấy ḿnh cần giải thoát ra khỏi luân hồi, nên phải gấp rút chuyên cần tu luyện. Người tinh tấn không chấp tướng th́ dù ở giữa đám đông người hay ở một ḿnh, dù có người nhắc nhở kiểm soát hay không ,dù đạt được quả vị cao hay thấp v.v...cũng không bao giờ thay đổi ư chí và thái độ quyết tiến của ḿnh, mà mục đích là giải thoát ḿnh và người ra khỏi cảnh khổ sanh tử luân hồi.

 

IV. Công Đức Của Tinh Tấn Ba La Mật  

Trong tất cả sự nghiệp, vĩ đại ở đời, hay kết quả vẻ vang trong đạo, cái bí quyết duy nhất để thành công là pháp tinh tấn. Tinh tấn như là chất dầu xăng làm cho chiếc xe hơi chạy. Động cơ dù tốt, người lái dù giỏi, con đường dù bằng phẳng, mục đích dù gần, mà không dầu xăng th́ chiếc xe vẫn ở nguyên một chỗ. 

Cho nên câu nói cuối cùng của đức Phật Thích Ca với các Đệ tử trước khi nhập diệt là: "Hỡi các người, hăy tinh tấn lên để giải thoát". Người thọ tŕ Tam quy, tinh tấn giữ năm giới và làm các điều phước thiện, th́ sẽ được sanh lại làm nhân đạo, phúc thọ song toàn. Người tinh tấn tu Thập thiện và tu Tứ thiền, Bát định, th́ sẽ sanh về cơi Trời Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Người thấy các khổ cảnh sanh ḷng nhàm chán cảnh đời, quyết tâm dứt trừ các phiền năo, tinh tấn tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo, kết quả sẽ chứng được bốn quả Thanh Văn. Người quán thấy mười hai nhân duyên là nguồn gốc của nhiều kiếp sanh tử luân hồi, tinh tấn tu hành, quyết đoạn trừ mười hai nhân duyên, sẽ thành quả Duyên giác. Các vị Bồ Tát, xứng theo tự tánh vô tham của ḿnh, tinh tấn tu pháp bố thí ba la mật; xứng theo tự tánh vô sân, tinh tấn tu pháp nhẫn nhục ba la mật; xứng theo tự tánh vô si, tinh tấn tu pháp tŕ giới ba la mật; xứng theo tự tánh tịch tịnh, tinh tấn tu pháp tu pháp thiền định ba la mật...Tóm lại, các vị Bồ Tát trong khi tu, v́ xứng với thể tánh chân tâm của ḿnh mà tu pháp lục độ, không chấp ở nơi ngă tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, không thấy ḿnh có, có người, có năng sở, bỉ thử, th́ khi nhân hạnh Bồ Tát được viên măn, sẽ thành quả Phật. 

Xem thế đủ biết công đức của tinh tấn lớn lao biết chừng nào. Tu pháp môn nào cũng vậy, hễ có tinh tấn mới có hiệu qủa, không tinh tấn th́ ḥan toàn thất bại.

 

C. Kết Luận 

Giá trị và lợi ích của tinh tấn không thể nghĩ bàn, vậy trong khi làm việc đời cũng như việc đạo, chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị sẵn đức tinh tấn, như người tài xế chuẩn bị xăng nhớt, trước khi làm những cuộc hành tŕnh xa xôi. Nếu chúng ta không luyện được đức tinh tấn, không chiến thắng được tánh giải đăi, buông lung th́ chúng ta hăy cân nhắc rằng, công việc mà chúng ta sắp làm sẽ hoàn toàn thất bại. Công việc tu hành, đi từ bờ mê đến bến ngộ, đường dài muôn trùng vạn dặm, trải qua băo táp mưa sa, nếu không có được đức tinh tấn, như các bùa hộ mệnh và bí quyết tiến thủ, th́ chúng ta chỉ quanh quẩn măi trong biển sanh tử luân hồi. 

Một lần nữa, hăy nghe lời đức Bổn sư dạy c̣n văng vẳng bên tai: "Hỡi các người! Hăy tinh tấn lên để giải thoát".

Trở Lên

Bài Thứ 7 (tt)

 
Độ thứ tư: Nhẫn Nhục Ba La mật 

 

A. Mở Đề 

Kinh Hoa Nghiêm có nói: "Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai" (một niệm ḷng sân hận nổi lên, th́ trăm ngàn muôn ức cửa nghiệp chướng đều mở ra). Thật vậy, lắm người v́ một phút không dằn được cơn tức giận, mà đánh đập vợ con đến tàn tật, đốt phá của cải quư báu của ông cha để lại, rồi phải ân hận suốt đời. Lắm lúc, v́ không làm chủ được tánh nóng nẩy mà t́nh cốt nhục phải chia ly, nghĩa vợ chồng phải phân rẽ, bạn chí thân trở thành kẻ oán thù... 

Người học đạo cũng vậy, nếu gặp nghịch cảnh không nhẫn nhịn được, thối chí nản ḷng, đôi khi phải bị đọa đày. Như ông Độc giác tiên nhân, v́ một niệm sân hận không nhẫn được, mà phải bị mất năm pháp thần thông. Ông Uất Đầu Lam Phất, v́ sân hận mà phải đọa làm loài phi ly trùng (chồn bay). Nên sách có nói: "Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn" (Nghĩa là một đóm lửa sân, có thể đốt tan muôn mẫu rừng công đức). 

Vậy muốn trừ sân hận một cách có hiệu quả, phải tu pháp Nhẫn nhục Ba la mật.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

"Nhẫn" là nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch ḷng. "Nhục" là điều sỉ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến ḷng tự ái của ḿnh. 

Nhẫn nhục Ba la mật là nhẫn nhục đến chỗ cùng tột không c̣n ai có thể nhẫn nhụ hơn thế nữa.

 

II. Thành Phần Của Nhẫn Nhục Ba La mật 

1. Thân nhẫn. Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ, làm bức năo nơi thân, ḿnh cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác. 

2. Khấu nhẫn. Thân đă nhẫn chịu không chống lại người và miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rủa độc ác, trước những lời mạ nhục chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay đánh dập tàn nhẫn. 

3. Ư nhẫn. Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không nổi lên ư phản đối, những tư tưởng hắc ám để trả thù. 

Trong ba thứ nhẫn này, "ư nhẫn" là khó nhất và quan trọng nhất. Có nhiều khi thân có thể chịu đựng được các h́nh, nhưng miệng vẫn lẩm bẩm nguyền rủa. Thêm một lần nữa, miệng tuy không thốt ra những lời phản đối, nguyền rủa, nhưng ư vẫn ngấm ngầm phản đối, và tức giận đốt cháy tim gan. 

Đến khi "tâm ư" cũng không ngấm ngầm nổi dậy phản đối, sự tức giận lắng xuống tận đáy ḷng; đứng trước mọi nghịch cảnh, ḷng vẫn phẳng lặng như không, th́ nhẫn nhục mới thật là hoàn toàn. 

Nếu bên trong vẫn chưa nhẫn được, th́ thế nào giận giữ cũng có ngày xuất hiện ra trong lời nói và hành động.

 

III. Phải Nhẫn Nhục Như Thế Nào  Mới Đúng Chánh Pháp? 

1. Nhẫn nhục có chấp tướng. Nhẫn nhục v́ sợ quyền thế; Nhẫn nhục v́ đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể trả thù được; Nhẫn nhục để mong cầu được người khen, hay được chức trọng, quyền cao; Nhẫn nhục v́ khinh bỉ đối thủ, hay tự cho ḿnh cao hơn người, không thèm chấp nê, phản đối. Nhẫn nhục như thế là Nhẫn nhục chấp tướng v́ c̣n do dục vọng tham, sân, si, mạn thúc đẩy, chưa phải là Nhẫn nhục Ba la mật. 

2. Nhẫn nhục không chấp tướng. Người tu hạnh Nhẫn nhục ba la mật, trước hết phải do ư muốn diệt trừ ḷng sân hận, kiêu mạn, tất đố, tự ái, tham lam...Nếu có người chửi mắng, ḿnh phải b́nh tĩnh tự nghĩ rằng: "Ta có làm điều ǵ sái quấy không? Nếu có, th́ ta bị sỉ nhục là phải, ta nên cảm ơn người. Nếu ta trong trắng, th́ những lời sỉ nhục ấy có dính líu ǵ đến ta đâu, mà phải khổ tâm nghĩ đến?" 

Hơn nữa, người tu Nhẫn nhục c̣n nhắm mụt đích trao dồi ḷng từ bi và hỷ xả, ta Nhẫn nhục không oán giận, không trả thù là v́ ta thương người, ta muốn xem mọi người như thân thuộc anh em. ta Nhẫn nhục v́ ta không muốn cuộc đời là một đấu trường, một băi chiến, một ḷ lửa của sân hận, đốt thiêu tất cả. 

Chúng ta hăy tập cho được Nhẫn nhục như ông Purna trong câu chuyện sau đây: "Khi Phật c̣n tại thế, một Đệ tử của Phật, ông Purna xin Phật đi qua truyền đạo tại xứ Chronaparanta, là một xứ có tiếng rất hung ác. Phật hỏi ông Purna: 

Ông đă phát nguyện đem đạo pháp của ta đến truyền bá cho dân xứ ấy, nhưng nếu ho không nghe, lại c̣n dùng lời hung ác mắng chửi ông, th́ ông nghĩ sao? 

Bạch Thế tôn, con nghĩa: Họ là người tốt, v́ họ không dùng cây đánh đập con, hay lấy đá ném con. 

Phật hỏi tiếp: 

Nếu họ lấy cây đánh ông, hay dùng đá ném ông, th́ ông nghĩ sao? 

Bạch Thế tôn, con nghĩ: Họ vẫn c̣n ḷng nhân, v́ họ không chém giết hay đập con đến chết. 

Phật lại hỏi: 

Nếu họ chém giết hoặc đánh chết ông th́ ông nghĩ sao? 

Bạch Thế tôn, con nghĩ: Họ là ân nhân của con, v́ nhờ họ mà con thoát được thân đau khổ, bỏ được bọc thúi tha, từ biệt đời sống khốn nạn này. 

Đức Phật khen: 

Hay lắm ! Ông nhẫn nhục được như vậy th́ mới có thể qua xứ ấy truyền đạo được ! 

Ông Purna qua xứ Chronaparanta truyền đạo không bao lâu, dân chúng xứ ấy đều qui đầu Phật pháp cả. 

Nhẫn nhục như ông Purna mới thật đúng là Nhẫn nhục Ba la mật, nghĩa là nhẫn từ ngoài thân đến trong tâm, nhẫn mà không thấy ḿnh nhẫn và cảnh nhục để nhẫn.

 

IV. Công Đức Của Pháp Nhẫn Nhục Ba La mật 

Như đoạn mở đầu đă nói, lửa sân hận có thể đốt thiêu tất cả những ǵ quí báu, mà loài người đă xây dựng được trên thế giới này. Lửa sân hận chỉ có thể bị dập tắt bằng nước Nhẫn nhục Ba la mật. 

Không Nhẫn nhục th́ gia đ́nh ly tán, bạn hữu chia ĺa, tớ thầy đoạn tuyệt, đồng bào xung đột, thế giới chiến tranh. 

Có Nhẫn nhục th́ gia đ́nh sum họp, bạn hữu tương thân, tớ thầy trung tín, đồng bào đoàn kết, thế giới ḥa b́nh. Riêng đối với bản thân, không Nhẫn nhục th́ lửa giận thiêu đốt ḷng ḿnh và dục vọng hoành hành, sự nghiệp tiêu tan, mọi người xa lánh, đạo quả khó tṛn. 

Có Nhẫn nhục th́ ḷng từ chan chứa, thanh tịnh tràn lan, sự nghiệp dâng cao, người người quí trọng, đạo quả viên thành. 

V́ nhận thấy công đức lớn lao và quí báu của Nhẫn nhục cho nên cổ nhân đă có nhắn nhủ với người đời một cách mạnh mẽ như sau:

 

Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận 

Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu 

Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc 

Hưu hưu hưu, cái thể công danh bất tự do 

Nghĩa là: 

Nhẫn nhẫn nhẫn (thân nhẫn, miệng nhẫn, tâm nhẫn)  

th́ những điều trái chủ oan gia từ đây dứt hết. 

Nhịn nhịn nhịn (thân nín, miệng nín, tâm nín) th́ cảnh giới thần tiên vô hạn cũng do đây mà được. 

Thôi thôi thôi (thân, miệng, tâm đều thôi) th́ những công danh cái thế không c̣n tự do.

 

C. Kết Luận: 

Chúng ta không c̣n nghi ngờ ǵ nữa giá trị và công đức lớn lao, quư báu của nhẫn nhục. Giờ đây chúng ta chỉ c̣n quyết tâm thực hành ngay pháp môn này. Nhất là đối với Phật tử nào đă nhiều lần bị lửa giận tàn phá tâm can, gia đ́nh và sự nghiệp của ḿnh, hăy mau mau tu tập pháp nhẫn nhục này. Đừng để phải ăn năn, hối tiếc và khổ đau thêm một lần nữa v́ lửa nóng giận. 

Kẻ tu hành lại càng gấp rút thực hành pháp môn này. Không có ǵ tai hại cho sự nghiệp tu hành của ḿnh mà làm cho người chung quanh khinh lờn, xa lánh bằng sự nóng giận, cọc cằn nơi một kẻ xuất gia cầu đạo. Dù những người ấy có tinh thông kinh điển bao nhiêu, tu hành bao nhiêu ,mà khi thấy nét mặt họ đỏ gay, giọng nói họ quát tháo, cử chỉ họ mất tự chủ, th́ người chung quanh không c̣n tin tưởng ở sự tu hành của họ nữa, v́ sự nóng giận tố cáo họ một cách hùng hồn. 

Chúng tôi tưởng không cần phải nói nhiều hơn nữa về những tai hại của giận dữ; v́ chắc rằng những ai đă có lần giận dữ cũng đă thấy rơ như thế rồi. 

Để kết luận bài này, chúng tôi chân thành cầu mong cho mọi người cùng chúng tôi, đều thật hành pháp môn nhẫn nhục này một cách có hiệu quả, để cơi đời thêm phần an lạc

Trở Lên

Bài Thứ 8

 
Độ thứ năm: Thiền Định Ba La Mật

 

A. Mở Đề 

Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu cả phước lẫn huệ. Trong bốn độ trước của lục độ mà chúng ta đă học, chỉ nói về tu phước. Trong hai độ cưối cùng là Thiền định và Trí huệ, chúng ta sẽ học về tu huệ. 

Trước tiên, chúng ta hăy t́m hiểu tánh cách quan trọng và giá trị của Thiền định.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Thiền định là ǵ? Thiền phiên âm theo tiếng Phạn là Thiền na, xưa dịch là tư duy, nay các học giả dịch là Tĩnh lự. Tu Tư duy có nghĩa là tu tập bằng phương pháp suy nghiệm, nghiên tầm và suy cứu về những đối tượng của tâm thức. Tĩnh lự có nghĩa là dùng tâm thể vắng lặng để thẩm sát các vấn đề đạo pháp. 

C̣n chữ Định phiên âm theo tiếng Phạn là Tam muội (Samadhi), có nghĩa là tập trung tâm lư vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ư tán loạn. Hợp hai chữ Thiền và Định lại, ta có một định nghĩa chung: Tập trung tâm ư vào một đối tượng duy nhất không cho tán loạn, để tâm thể được vắng lặng và cho tâm dụng được mạnh mẽ, hầu quan sát và suy nghiệm chân lư.

 

II. Các Loại Thiền định 

Thiền định có thể gọi là một trạng thái của tâm lư, trạng thái ấy gọi là trạng thái Tĩnh lự. Song ở Dục giới, tâm lư không thể có được trạng thái ấy, v́ nó chỉ phát hiện ở Sắc giới, và Vô sắc giới. Rơ hơn nữa là Thiền thuộc về Sắc giới và Đinh thuộc về Vô sắc giới. Ở mỗi giới, Thiền và Định đều phân làm bốn cấp bực từ thấp lên cao, cho nên có danh từ là Tứ thiền và Tứ định. 

Tứ thiền và Tứ định này, tuy là kết qủa của công phu tu tập Thiền định, hay gieo trồng thiện căn, nhưng cũng là chung cho cả Phật pháp, cả Thế gian pháp, cả Thánh cả Phàm. Nói rơ hơn, là dù theo phương pháp Đạo Phật hay phương pháp nào, nếu có đường lối, có công phu đều có thể đạt đến Tứ thiền và Tứ định; nhưng đây cũng chỉ là thế gian pháp mà thôi. 

C̣n nói về pháp Định của chư Phật, Bồ Tát và A La Hán th́ khác. Đó là Thiền định thuộc Xuất thế gian pháp, không thể phát hiện trong phạm vi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới được. Muốn đạt đến trạng thái Tĩnh lự của các bậc ấy, người ta phải đạt đến sự thoát ly tam giới. C̣n lẩn quẩn trong tam giới th́ tâm ư chỉ có thể đạt đến Tứ định là cùng. 

Muốn có được Tứ thiền và Tứ định, chỉ phải thoát ly và đoạn diệt phiền năo ở Dục giới. Nhưng nếu muốn đạt các pháp Định vô lậu, th́ phải diệt trừ tất cả các phiền năo của Vô sắc giới. 

Trước khi mong đến được Định vô lậu, phải vấn đến Thiền, bởi v́ Thiền là căn bản của Định. Có được ngũ nhăn, lục thông cũng nhờ Thiền. Vả lại, Thiền có công dụng thẩm sát, nghiên cứu. Nếu muốn quan niệm chân lư, tất phải nhờ đến Thiền, do đó Thiền là pháp tối yếu cho kẻ học đạo. 

Đứng về phương diện các tŕnh độ của Thiền, kinh sách có dạy như sau: 

1. Thế gian thiền. Thiền này có hai loại: Căn bản vị thiền và Căn bản tịnh thiền. Căn bản vị thiền gồm có mười hai phẩm, phân làm ba: Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ không. 

Người phàm chán cảnh tán loạn của Dục giới th́ tu Tứ thiền. Người muốn phước lớn th́ tu Tứ vô lượng. Kẻ nhàm chán cảnh sắc giới chật hẹp th́ tu Tứ không. V́ mười hai phẩm Thiền này có thể làm căn bản cho thịện pháp xuất thế gian, nên gọi là căn bản Thiền. Với lại, an trú trong mười hai phẩm ấy, người tu Thiền c̣n ưa thích cảm giác lạc thọ của Thiền, nên gọi là căn bản vị Thiền. 

Căn bản vị thiền, phân làm hai: Lục diệu môn và Thập lục đặc thắng. Ai có huệ tánh nhiều th́ tu Lục diệu môn, kẻ nào có định tánh nhiều th́ tu Thập lục đặc thắng. Những ai có huệ tánh và định tánh đều nhau th́ có thẻ tu cả hai loại. V́ người ta có thể căn cứ vào pháp Thiền này để phát sinh vô lậu trí, không phải chỉ thuần hữu lậu, như ở Căn bản vị thiền, nên gọi là căn bản tịnh thiền. 

Tuy nhiên, cả hai loại đều chỉ là thế gian thiền mà thôi, v́ trước thời Phật giáng thế, phép Thiền này đă có. 

2. Xuất thế gian thiền. Pháp thiền này là của bậc xuất thế. Có bốn thứ Thiền quán: Cửu tướng quán, Bát bối xả quán, Bát thắng xứ quán và Thập nhất thiết xứ quán. Tu bốn thiền quán này, tuy là lấy các pháp hữu vi làm đối tượng suy nghiệm, những có thể đi đến kết quả ly dục, phát sinh vô lậu trí, nên gọi là Xuất thế gian thiền. 

3. Xuất thế gian thượng thượng thiền. Đây là pháp Thiền cao tột của các bậc đại nhân. Kinh Địa tŕ có giải về chín môn đại thiền này như sau: 

Một là "Tự tánh thiền", nghĩa là quán sát thật tướng của tự tâm, không cần lấy đối tượng ngoại cảnh. 

Hai là "Nhất thiết thiền", có công năng tự hành và hóa tha. 

Ba là "Nan thiền", môn Thiền gian nan, thâm diệu, khó tu. 

Bốn là "Nhất thiết môn thiền", có nghĩa là tất cả các pháp Thiền định đều do môn (cửa) này mà phát xuất. 

Năm là "Thiện nhân thiền", môn Thiền của những chúng sanh có đại thiện căn cùng tu. 

Sáu là "Nhất thiết hạnh thiền", bao nhiếp tất cả hạnh pháp của Đại Thừa. 

Bảy là "Trừ năo thiền", có năng lực trừ diệt phiền năo, khổ đau cho chúng sinh. 

Tám là "Thử thế tha thế lạc thiền", có năng lực làm cho chúng sinh an lạc trong hiện tại và tương lai. 

Chín là "Thanh tịnh tịnh thiền", có năng lực đoạn trừ hoàn toàn các hoặc nghiệp, và chứng được Tịnh báo đại Bồ đề. Đến môn Thiền này, tâm ư hoàn toàn thanh tịnh và lại cũng không c̣n thấy cái tướng thanh tịnh ấy nữa, nên gọi là Tịnh báo. 

 

III. Công Năng Của Thiền định 

Theo Bồ Tát hạnh, có thể tu tập Thiền định và đạt đến mười kết quả tốt đẹp sau đây: 

Một là được an trụ trong pháp thức uy nghi. Tu Thiền định phải theo pháp thức mà hành tŕ, như vậy trải qua một thời gian khá lâu, th́ ngũ căn được tịch tịnh, chánh định phát khởi, không cần có sự cố gắng mà vẫn được an trụ trong pháp thức oai nghi. 

Hai là được thực hành cảnh giới từ bi. Khi tu Thiền định, th́ giữ được tâm từ bi, thương yêu chúng sinh, muốn cho tất cả được an ổn. 

Ba là không c̣n phiền năo. Nhờ năng lực Thiền định mà các phiền năo tham, sân, si, không c̣n phát sinh nữa. 

Bốn là ǵn giữ được các giác quan. Không cho sắc, thanh, hương, vị, xúc lay động. 

Năm là vui vẻ lạc thú. Xem Thiền định là một món ăn ngon lành hơn tất cả các món ăn khác trong thế gian. 

Sáu là xa ĺa được ái dục. Một khi tâm niệm đă lắng yên, ái dục không c̣n phát sinh và làm nhiễm trước được nữa. 

Bảy là chứng được chân không ,nhưng không bao giờ bị rơi vào chỗ chấp đoạn diệt hư vô. 

Tám là cởi mở được tất cả những dây trói buộc sự giải thoát. 

Chín là khai phát được trí huệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật. 

Mười là đạt đến sự giải thoát thành thục, đến chỗ mà tất cả hoặc nghiệp không c̣n nhiễu lại được nữa.

 

C. Kết Luận: 

Chúng ta có thể tóm tắt thành quả tốt đẹp của Thiền định như sau: 

Ngũ căn được tự tại, phiền năo được dứt trừ ,từ bi được mở rộng, trí huệ được phát chiếu, cảnh giới giải thoát được phô bày ra trước mắt. Một pháp môn có công năng quí báu, có diệu dụng phi thường như thế, làm sao chúng ta có thể bỏ qua được? 

Mong rằng v́ lợi ích thiết thực nói trên, quí vị Phật tử hăy gắng công tu tập pháp môn Thiền định này cho chíng có kết quả.

Trở Lên

Bài Thứ 8 (tt)

 
Độ thứ sáu: Trí Huệ Ba La Mật 

 

A. Mở Đề 

Trong đạo Phật, hai tiếng vô minh được nhắc nhở đến luôn, v́ chính vô minh là nguồn gốc, là đầu dây mối nhợ của đau khổ của sanh tử luân hồi. Phật thường dạy: "Cái khổ của lạc đà, của lừa ngựa chở nặng măn kiếp, cái khổ trôi lăn trong tam giới chưa gọi là khổ. Ngu si không trí huệ tin tưởng sai lạc, không biết hướng đi, cái ấy mới thật là khổ". 

Ngài c̣n dạy một cách mạnh mẽ, dứt khoát hơn: "Si là gốc của tội lỗi, Trí huệ là gốc của muôn hạnh lành". Chúng ta là Phật tử chúng ta không muốn gây tội lỗi để chịu quả khổ đau, chúng ta chỉ mong làm được các hạnh lành để hưởng phước quả và được giải thoát. Vậy tất nhiên chúng ta phải tu huệ, tŕ Trí huệ Ba la mật. 

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Trí huệ là ǵ? "Trí" phiên âm chữ phạn là Phă na; "Huệ" phiên âm chữ Phạn là Bát nhă. "Trí" có nghĩa là quyết đoán; "Huệ" có nghĩa là giản trạch, Tự điển Phật học Trung Hoa định nghĩa như sau: "Trí là biết Tục đế và Huệ là thông hiểu Chân đế".  

Cũng có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch, Huệ là cái Diệu dụng xét soi tự tại. Trí huệ Ba la mật là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo tinh tường đến nơi đến chốn, không thể sai lầm được.

  

II. Các Loại Trí Huệ 

Trí huệ như định nghĩa trên là trí huệ của đạo Phật, chứ không phải trí huệ phổ thông, thường dùng trong các sự học hỏi hiểu biết, suy luận hằng ngày trong đời. 

Theo triết học Phật Giáo, khả năng nhận thức có hai loại: Hiện lượng và tỷ lượng. 

1. Hiện lượng: Là sự nhận biết trực tiếp không cần qua trung gian suy luận. Hiện lượng lại chia làm hai: 

Chân hiện lượng, là nhận thức trực tiếp mà đúng. 

Tợ hiện lượng, Là nhận thức trực tiếp mà sai  

2. Tỷ lượng: Là sự nhận biết qua trung gian suy luận. Tỷ lượng cũng có hai thứ: 

Chân tỷ lượng, là lối hiểu biết bằng suy luận đúng đắn. 

Tợ tỷ lượng, là lối hiểu biết mà suy luận mà sai lầm. 

Hiện lượng của địa vị phàm phu rất kém cỏi và phần nhiều là tợ hiện lượng. Tỷ lượng của địa vị phàm phu lại c̣n kém cỏi hơn nữa và phần nhiều là tợ tỷ lượng. Đứng về phương diện tính chất, Đạo Phật chia trí huệ ra làm hai loại lớn là " Căn bản trí" và " Hậu đắc trí". 

1. Căn bản trí: Căn bản trí, là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sinh vốn đă có sẵn, nhưng v́ bị phiền năo che lấp, nên chưa phát chiếu ra được. Có thể so sánh căn bản trí như là một chất kim khí quí báu (vàng, bạc) đang ở trong trạng thái khoáng chất, nằm lần lộn với đá (phiền năo vô minh) 

2. Hậu đắc trí: Hậu đắc trí, là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như tŕ giới, thiền định v.v...Có thể so sánh Hậu đắc trí như chất kim khí (vàng, bạc) được lọc từ khoáng chất ra và không c̣n lẫn lộn với đất đá, bụi bặm nữa (phiền năo, vô minh). 

Theo Duy thức học, sau khi đạt đến địa vị Giác ngộ, nghĩa là có được "Hậu đắc trí", th́ tám thức chuyển thành bốn trí: 

Thức thứ tám, A lại da có tác dụng là chấp trí sanh mạng và chủng tử, được đạt đến địa vị vô lậu và biến thành "Đại viên cảnh trí" (trí sáng như bức gương lớn và tṛn đầy, tượng trưng cho biển cả chơn như). 

Thức thứ bảy, Mạt na có tác dụng là chấp ngă, biến thành "b́nh đẳng tánh trí" (trí có năng lực nhận thức cách b́nh đẳng, vô ngă của vạn pháp). 

Thức thứ sáu, Ư thức có tác dụng là phân biệt, biến thành "Diệu quan sát trí" (trí có năng lực quan sát thâm diệu). 

Năm thứ cuối (nhăn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức) biến thành "Thành sở tác trí" (trí có năng lực nhận thức cùng khắp và thần diệu)

 

III. Làm Thế Nào Để Có được trí Huệ? 

Muốn có được trí huệ, đức Phật chế ra nhiều pháp tu. Trong số nhiều pháp tu ấy th́ "Văn, Tư, Tu" và "Giới, Định, Huệ" là những pháp thường được nhắc nhở và thực hành nhiều nhất. 

Văn, Tư, Tu: Văn, Tư, Tu là ba pháp tu để có được trí huệ: 

Văn huệ: là huệ do tai nghe âm thanh, mắt thấy âm tự của Phật, hay qua các kinh điển mà hiểu được nghĩa lư. 

Tư huệ: là huệ do trí suy nghĩ, t́m ṭi, rơ được nghĩa lư, hiểu được sự thật. 

Tu huệ: là huệ do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lư, mà gíac ngộ, chứng được sự thật. 

Văn, tư, tu rất tương quan mật thiết với nhau, hành giả cần phải chuyên tu cả ba thứ, không thể bỏ qua một thứ nào mà thành tựu được. Hăy nghe Phật dạy: 

" Văn huệ, tư huệ, tu huệ, ba môn khuyết một không được. Nếu ai nghe mà không suy nghĩ, th́ như làm ruộng mà không gieo mạ; nếu suy nghĩ mà không tu, th́ như làm ruộng mà không tát nước, bừa cỏ, rốt cuộc không có kết quả. Ba huệ được đầy đủ th́ chứng quả Tam thừa?" (Sa Di thập giới). 

Giới: là lời răn dạy của Phật (xem lại bài Tŕ giới Ba la mật). 

Định: là thiền định, giữ cho tâm ư không loạn động, để suy nghiệm đến những vấn đề căn bản của Đạo (xem lại bài Thiền Định Ba la mật). 

Huệ: là sự phát chiếu của Trí, sau khi đă tẩy sạch phiền năo và vô minh. 

Giới, Định, Huệ tương quan mật thiết với nhau: Do tŕ giới mà thân tâm không loạn động. Do thân tâm không loạn động mà tâm trí được Định. Tâm trí khi đă định th́ Trí huệ phát chiếu. 

Ngược lại, Trí huệ phát chiếu th́ tâm dễ Định, Tâm đă Định th́ Tŕ giới không khó khăn. 

Tóm lại: Giới, định, huệ, đều tương duyên tương quan mật thiết với nhau, một cái tăng th́ hai cái kia cũng tăng.

 

IV. Công Năng Của Trí Huệ 

Như chúng ta đă thấy trong phần chia loại, trí huệ khi đă đạt đến địa vị Giác ngộ (tám thức chuyển thành bốn trí) th́ công năng, diệu dụng của nó rộng lớn vô cùng, không thể nói hết. Tuy thế, để có một quan niệm tương đối rơ ràng, chúng ta có thể nêu lên ba công năng chính của trí huệ như sau: 

1. Dứt trừ phiền năo: Phiền năo là do mê lầm phát sinh. Khi trí huệ đă có th́ mê lầm phải mất, như khi ánh sáng phát ra th́ bóng tối tất phải tan biến. Mê lầm đă mất th́ phiền năo tất không c̣n phát sinh nữa. 

2. Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, như màn sương sớm che phủ cảnh vật, nay trí huệ phát chiếu vào sự vật, chẳng khác ǵ khi ánh sáng mặt trời lên, th́ màn sương tất phải tan biến, lúc bấy giờ thực tướng thực tánh của sự vật được lộ bày như thật. 

3. Thể nhập chân lư: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che th́ người ta với vật tưởng như riêng biệt, sai khác. Nay nhờ trí huệ soi sáng, thấy rơ được tâm cảnh đều chơn không, nên thể nhập được chân lư, giác ngộ hoàn toàn. 

 

C. Kết Luận 

Gíá trị và công năng của trí huệ lớn lao không thể nói hết. Nó là cứu cánh của người Phật tử. Cứu cánh ấy, chúng ta phải cố đạt cho được. 

Trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật cũng đă thiết tha khuyên các Đệ tử phải trao dồi trí huệ như sau: 

" Trí huệ là chiếc thuyền kiên cố chở khỏi biển già, đau, chết; là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều thuốc hay chữa hết thảy bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt găy cây phiền năo. Vậy các người phải lấy sự nghe, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tự tăng ích cho trí huệ ḿnh". (Kinh Di Giáo). 

Những lời nhắn nhủ thống thiết của đức Bổn sư, chúng ta không thể không ghi nhớ và thực hành được. Vả chăng, trong sáu độ Ba la mật mà chúng ta đă học trong ba bài kế tiếp này, mục đích cũng chỉ để dẫn đến độ thứ sáu là trí huệ, cái mức độ cuối cùng của đạo Giác ngộ và giải thoát. 

Cầu mong tất cả quư vị Phật tử có được trí huệ để tự độ và độ tha đến bên kia bờ giải thoát.

 

Tổng Kết Về Lục Ba La Mật 

Đạo Phật là đạo từ bi, mà cũng là đạo giác ngộ. Từ bi thuộc về phước, giác ngộ thuộc về huệ. Phước và Huệ là hai cánh làm cho con chim đại bàng là hành giả làm bay thẳng đến bờ giải thoát. Do đó, trong kinh thường nói: "Phước, Huệ song tu mới thành ngôi Chánh giác". Trong sáu pháp Ba la mật, bố thí và nhẫn nhục thuộc về tu phước; thiền định và trí huệ thuộc về tu huệ; c̣n tŕ giới và tinh tấn là hai chất liệu có công dụng kiểm soát và đốc thúc cho việc tu phước và huệ được thành tự hoàn toàn. 

Nếu chúng ta đem so sánh một cách mộc mạc và đơn giản sáu pháp Ba la mật với chiếc thuyền Bát nhă đưa người từ bờ mê đến bến giác, th́: Từ bi là thức ăn, nhẫn nhục là nước uống, tinh tấn là cánh buồm và chèo, tŕ giới là bánh lái, thiền định là la bàn và trí huệ là đèn đuốc. Sáu thứ ấy đều cần thiết cho người thủy thủ sẽ gặp khó khăn trong công cuộc hành tŕnh vạn dặm của ḿnh. 

Đứng về một khía cạnh khác để nhận xét giá trị của lục độ, chúng ta sẽ thấy như thế này: Bố thí và nhẫn nhục thuộc về bi, thiền định và trí huệ thuộc về Trí, c̣n tŕ giới và tinh tấn thuộc về Dũng. Một Phật tử hoàn toàn phải có đủ ba phương tiện Bi, Trí, Dũng mới mong đi đến bờ giác ngộ một cách thông suốt và nhanh chóng. 

Vậy trong quí vị Phật tử tại gia cũng như xuất gia, trong khi học và hành sáu pháp Ba la mật, đừng nên xem thường một pháp nào. Có như thế mới đủ phương tiện và năng lực để tự đọ và độ tha, đến nơi cùng tột và đúng với ư nghĩa Ba la mật.

Trở Lên 

Bài Thứ 9
Bốn Món Tâm Vô Lượng

 

A. Mở Đề 

Đứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, th́ tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, th́ tâm có muôn h́nh vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v...th́ tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác, cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v...Cho nên Tôn cảnh Lục có chép: " Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động th́ ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm b́nh th́ thế giới thản nhiên, tâm phàm th́ ba món độc trói buộc, tâm thánh th́ sáu món thần thông tự tại, tâm không th́ nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu th́ vạn cảnh tung hoành. Tự ḿnh đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho ḿnh. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự ḿnh gây nên, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có ". 

Xem thế th́ cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. 

Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau giồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một "vô lượng tâm".

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Vô lượng là ǵ? Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. 

Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền năo đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp ḥi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và t́m phương cứu cho tất cả. Vô lượng tâm cũng có nghĩa là "Đẳng tâm", cái tâm b́nh đẳng, phổ biến; b́nh đẳng, v́ tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. 

Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành b́nh đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bố tát và Phật đà. 

Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà c̣n lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. 

Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát.

 

II. Thành Phần Và hành Tướng  Của Bốn Món Tâm Vô Lượng  

Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng. 

1. Bi vô lượng. Bi là ḷng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Như chúng ta đă học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hêt. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ. 

Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả". Chúng sinh v́ không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân th́ lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại cho là vui. Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. V́ thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác ǵ làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả. Đă gây nhân quả, th́ tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cơi đời đă đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đă khổ sở lại càng khổ sở thêm. 

Khổ sở bao tùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ trồng thêm lên măi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lai gây nhân, cứ thế tiếp tục măi trong một ṿng lẩn quẩn, như bánh xe lăn tṛn trên đường thiên lư, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh th́ ở đó có khổ! Mà vô minh th́ như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, th́ nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy: 

Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đă đành là khổ vô cùng, loài người v́ say đắm ngũ dục lạc, và tham sân, si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ như c̣n chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ v́ ngũ suy tướng hiện. Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, v́ c̣n mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dị sanh tử. Xem thế đủ biết nơi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một ḷng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chí nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

Các vị Bồ Tát nhờ có ḷng đại bi nên đă phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy ḿnh có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để: 

Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cơi đời, rơ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. 

Làm cho chúng sanh nhận rơ được thân phận của ḿnh mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi. 

Xem như thế đủ biết ḷng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi bỗ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: "Nhơn v́ chúng sanh mà khởi ḷng đại bi. Nhơn ḷng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác". 

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đă rơ ràng, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Phật đă dạy: "Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi". Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng ḷng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngă, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một ḷng Bi vô lượng. 

2. Từ vô lượng. Từ là mến thương và v́ mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là ḷng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. 

Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, v́ cái vui ấy không bền, cái vui ấy c̣n phiền năo chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa măn th́ vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa măn được hoàn toàn và lâu bền đâu? 

C̣n vui xuất thế gian là cái vui chân thật, v́ nó lâu bền, thoát ra ngoài ṿng phiền năo của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, v́ là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. 

Muốn có được cái vui này, th́ trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền năo gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, th́ chỉ có thể có được một cái vui nhất thời giả dối. 

Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, th́ trước tiên phải có ḷng từ bi vô lượng như đă nói trên, để luôn luôn răn nhắc chúng sanh đừng gây tội d́u dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm. 

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rơ ràng hơn là ḷng Từ phải đi theo ḷng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rơ phương pháp diệt khổ và được vui. 

Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, th́ trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, th́ cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, c̣n động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ. 

Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đă là vô lượng, ḷng Bi đă là vô lượng, th́ ḷng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời. 

Tùy cơ: Nghiă là quan sát tŕnh độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính v́ bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Đà, Biển Thước mới làm được. 

Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, c̣n có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngạị gian nguy, một ḷng kiên nhẫn vô biên như ḷng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là ḷng từ bi vô lượng như các vị bồ tát th́ khó tránh khỏi cái nạn thối chuyển v́ trần sa hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn ḷng Từ vô lượng của đức Phổ hiền: 

"...Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cơi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới...tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kính cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực Như Lai đều đồng không khác. Với kẻ bịnh khổ th́ làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của...Bồ Tát làm lợi ích b́nh đẳng với tất cả chúng sanh như thế là v́ Bồ Tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..". 

Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, th́ ḷng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn th́ phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả ǵ tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rơ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ. 

Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa th́ Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh "Tâm Địa Quán" cũng có dạy: 

" Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp". 

Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi th́ hiện thân, khi th́ ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại Từ ḥa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ư duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. 

Nên nhớ "tạo cái vui chân thật" ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của ḿnh vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh, dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, nhờ các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi. 

Đấy, ḷng Từ vô lượng là thế. Như trên đă nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, th́ đại nguyện của Bồ tát chưa thành, v́ mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho ḷng Từ mở rộng, mở rộng măi cho đến vô lượng vô biên. 

3. Hỷ vô lượng. Hỷ là ǵ? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là "vui theo". "Vui theo" có nhiều cách: 

Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp..để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền năo, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của ḷng phàm. 

Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp..đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, c̣n bằng ḷng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy. 

Vui theo những việc nhơn từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, c̣n nếu không v́ ḷng thiện, nhưng v́ thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà ḿnh cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, th́ không khéo chỉ gây thêm ngă ái ngă mạn. 

Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, th́ cũng c̣n hẹp ḥi, thiếu ḷng Từ bi rộng răi và chưa phải đúng nghĩa "hỷ" vô lượng tâm. Đức Phật c̣n quở đó là cái vui "Khôi thân diệt trí" hay "thu tịch Niết Bàn". 

Chỉ có sự "vui theo" sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. 

Trong khi thật hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Đại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: "Sự vui này c̣n nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng". Bồ tát c̣n xác nhận rằng:"Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng". Đó là lời nói của đức Phổ Hiền. 

Nên nhớ cái "Hỷ" của bồ tát có những đặc điểm sau đây: 

Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà c̣n giác ngộ cái mê và được giải thoát. 

Không c̣n bị buộc trong ṿng vui tự đắc làm tăng trưởng ngă mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế. 

Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và b́nh đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ ḷng Từ bi mà phát ra. Ḷng Từ bi rộng lớn bao nhiêu th́ cái "hỷ" này cũng rộng ớn như thế. 

Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp ḥi của phàm phu hay hàng Nhị thừa.

4. Xả vô lượng. Xả là cái ǵ? Xả là bỏ, không chấp không kể. 

Thói thường, khi chúng ta làm điều ǵ, nhất là khi được két quả tốt, th́ hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghể. Sự bất b́nh, căi vả xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước. tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngă, chấp pháp mà ra. 

Phàm phu th́ vừa thấy có ḿnh làm (chấp ngă) vừa thấy có công việc kết quả ḿnh đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngă, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu. 

C̣n hàng Nhị thừa tuy đă xả được chấp ngă, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn c̣n bị biến dịch sanh tử. 

Chỉ có các vị bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đă ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, th́ đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được b́nh đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi. 

Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy ḿnh là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài c̣n thấy chúng sinh là ân nhân của ḿnh trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên măn. Bởi thê, ḷng Từ, ḷng Bi của Bồ Tát thoát khỏi ṿng ái kiến và trụ trước, tức là xả vậy. Đến như ḷng "Hỷ" cũng thế, Bồ Tát vui ḷng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui v́ thành thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui v́ dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần "Xả". 

Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả. Ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đều b́nh đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, ḿnh và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm ǵ cả; nói mà thấy ḿnh không có nói ǵ cả, chứng mà không thấy ḿnh có chứng và quả ǵ được.Cho nên trong kinh Tứ thập nhị chương có chép "Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lư hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rơ là xa đạo". 

Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu c̣n chấp một tướng ǵ, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hăy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Đề. "Này ông Tu Bồ Đề, nếu có vị Bồ Tát c̣n tướng ngă, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát". 

Ư nghĩa chữ Xả đă rơ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ c̣n cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề.

 

III. Sự đối Trị Của Bốn Món Tâm Vô lượng  

Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. 

Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng th́ ác lùi, hễ ác thắng th́ hiện lùi. 

Khi ḷng Giận hừng hẩy, th́ tâm Bi bị lấn. 

Khi ḷng sân bừng dậy, th́ tâm Từ bị che khuất. 

Khi Ưu năo dẫy đầy, th́ tâm Hỷ không phát hiện. 

Khi ḷng Ái dục c̣n nặng nề, th́ tâm xả không sanh. 

Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, th́ ḷng Hận phải yếu ṃn. 

Khi tâm từ lan rộng, th́ ḷng sân phải lùi. 

Khi tâm hỷ bừng lên, th́ ḷng Ưu năo phải dẹp xuống. 

Sự chiến đấu với phiền năo cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục măi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đă vội thỏa măn và dừng nghỉ, th́ giặp cướp sẽ tái phát và hoành hành trở lại. 

Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xă, chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là Bành trướng các đức từ, bi hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang c̣n, là v́ ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, th́ ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đă trở thành vô lượng th́ phiền năo sẽ không c̣n và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Đó là ư nghĩa "phiến năo tức là Bồ đề" mà Ngài Bồ tát Trần Na đă dạy trong Luận Đại Thừa Trang nghiêm.

 

C. Kết Luận 

Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng "từ bi hỷ xả". Những chính v́ "quen" quá mà chúng ta không để ư phân tách ư nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được: 

V́ thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. V́ thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của t́nh thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ được vui, ḿnh mới vui được (Hỷ). Nhưng nếu cái vui này mà c̣n vướng ngă mạn, tự đắc v́ tự cho ḿnh đă thành tựu những công hạnh lớn lao, th́ cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa ĺa các thứ chấp trước như nhân, ngă, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát...(Xả). 

Đó là về phần phẩm, c̣n nói về phần lượng th́ bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền năo và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

Đó là hành tướng và ư nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật. 

Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đă nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc ǵ được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu? 

Yếu tố quan trọng gíúp cho sự thành công là sự quyết tâm và ḷng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Đừng thấy núi cao mà nản chí, sờn ḷng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhăn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải th́ một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao. 

Người tu hành cũng vậy, hăy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuận tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đă chế cho đến khi thành tựu mới thôi. 

Cầu mong quí vị Phật tử đều phát tâm dơng mănh tu bốn món Tâm vô lượng.

Trở Lên

Bài Thứ 10
Ngũ Minh

 

A. Mở Đề 

Người Tây phương thường chê đạo Phật là tiêu cực. Thật ra, giáo lư của đức Phật như chúng ta đă học trong mấy khóa phổ thông và nhất là trong khóa IV này, chứng tỏ một tinh thần vô cùng tích cực, lợi tha, cứu thế. Nhưng trong thực tế, chúng ta phải công nhận rằng, phần đông các nhà hành đạo trong quá khứ; v́ thiếu phương tiện và khả năng chuyên môn nên chỉ hoằng pháp lợi sinh bằng phương tiện nội điển, mà không đi sâu vào các ngành sinh hoạt khác của xă hội. Do đó, Đạo Phật bị thu hẹp phạm vi hoạt động và mất rất nhiều ảnh hưởng trong đời sống đại đa số quần chúng. 

Nhất là trong thế giới phức tạp ngaỳ nay, mà ḷng người bị chi phối rất nhiều v́ những sinh hoạt kinh tế, chính trị văn hóa,...nếu người hành đạo cứ giữ những lề lối cũ, không có những phương thức hoằng pháp thich hợp với xă hội mới, không có những kiến thức và khả năng thích hợp với các ngành hoạt động trong xă hội, th́ đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ được vai tṛ lănh đạo của ḿnh nữa. 

Những ư nghĩ trên đây không phải là những phát minh mới mẻ ǵ của chúng tôi, mà chính hơn 2.500 năm trước, đức Phật đă nghĩ đến trông dạy các Đệ tử của Ngài phải học Ngũ minh, nếu muốn truyền giáo cho có hiệu quả. 

Vậy Ngũ minh là ǵ và có tầm quan trọng thế nào? Đó chính là vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây:

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Ngũ minh là ǵ? Ngũ minh là năm kiến thức người hoằng pháp cần phải có, phải hiểu biết. 

Những kiến thức ấy là những kiến thúc nào? Đó là những kiến thức về nôi minh, nhân minh, thanh minh, công xảo minh và y phương minh.

 

II Giải Rơ Về Ngũ Minh 

1. Nội minh. Trước tiên, người hoằng pháp phải cần có Nội minh, nghĩa là phải có kiến thức về nội điển Phật giáo. 

Muốn hoằng pháp, nghĩa là muốn đem giáo pháp truyền bá trong quần chúng để mọi người đều hưởng sự lợi ích, th́ trước tiên ḿnh phải tự t́m hiểu giáo lư của đạo Phật đă. Chúng ta đă biết rằng không hiểu giáo lư, th́ không ai có thể thực hành đúng theo Phật pháp được. Những t́nh trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của Đạo Phật Việt Nam, sở dĩ có ra cũng v́ người hành đạo thiếu sự am tường giáo lư nội điển. V́ không biết rơ nội điển cho nên không biết chủ trương chân chính của đạo Phật. Do đó, người ta mới đi sâu vào những hành động sai lầm: vàng mă, đồng bóng, cúng sao, cúng hạn, dời mả, giết hại sinh vật để tế Thần tế Thánh, cúng kiến ông bà. 

Muốn cho t́nh trạng ấy chấm dứt, người hoằng pháp phải tự ḿnh thông hiểu giáo điển và truyền bá giáo lư cho tất cả tín đồ. Bao giờ cúng nên nhớ rằng đạo Phật chủ trương hiểu rồi mới làm, mà không hiểu tức là bị lạc đường lầm nẻo. Đứng ra hướng dẫn tín đồ mà chưa hiểu được nôi giáo, là một chuyện nguy hiểm vô chừng. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ "nhứt manh dẫn quần manh" ấy. 

Tăng giới phải là bực thông hiểu giáo lư đă dành. Các bậc cư sĩ đứng ra làm Phật sự, điều khiển những tổ chức Phật học cũng không thể không hiểu giáo lư. Một tệ đoan mà chúng ta thấy cần phải sửa chữa gấp là phải làm thế nào cho những phần tử trong bộ máy của các tổ chức Phật học phải là những người có học đạo. 

Chúng ta không thể nào không lo sợ khi thấy những người thiếu học Phật, đứng giữ địa vị tổ chức và điều khiển trong một Hội Phật học hay một cơ quan giáo dục như gia đ́nh Phật tử chẳng hạn. 

Cho nên người có hoằng pháp có bổn phận phải am tường nội điển. Phải t́m hiểu giáo lư hàm chứa trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Giáo lư cao siêu trong ba tạng phân làm ba hệ thống rơ ràng: 

a) Hệ thống Bát nhă: Giáo lư chân không chủ trương rằng vạn pháp là không thực, để hiển lư tánh chân không. 

b) Hệ thống Pháp tướng: Giáo lư Duy thức chủ trương vạn pháp không thực tánh và có là do thức biến hiện ra ngàn sai muôn khác.  

c) Hệ thống Pháp tánh: Giáo lư pháp tánh là dẫn tướng qui tánh, chủ trương đạt đến chơn như, các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có. 

Về mỗi hệ thống giáo lư, có vô số pháp môn để chúng sinh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lư và các pháp môn phương tiện để có thể đem ra ứng tiếp với xă hội cho hợp thời và hợp cơ. Tóm lại, sự hiểu biết về nội điển là điều quan hệ vào bậc nhất. 

2. Nhân minh. Am tường giáo lư chưa đủ. Muốn tŕnh bày giáo lư ấy một cách rơ ràng, khúc chiết, muốn lập thuyết vững vàng, người hoằng pháp cần phải dựa trên một phương pháp luận lư; phương pháp luận lư ấy gọi là nhân minh. 

Nhân minh là ǵ? Là một môn luận lư học của Phật Giáo, chủ trương chứng minh lập thuyết bằng "Nhân", nghĩa là bằng cách suy cứu đến lư do. 

Bộ sách vĩ đại làm căn bản cho Nhân minh học là Nhân minh đai sớ. Ở đây, chúng ta t́m hiểu qua đại cương để hiểu thế nào là Nhân minh mà thôi. 

Một lập luân đầy đủ theo Nhân minh phải có ba phần: Tôn, Nhân, Dụ, gọi là tam chi tác pháp. Tôn là chủ trương của ḿnh. Nhân là lư do thành lập chủ trương ấy. Dụ là những sự kiện đem ra để chứng minh (có thuận và nghịch). Ví dụ: 

Tôn: Ông Nguyễn Văn A phải chết. 

Nhân: V́ ông Nguyễn Văn A đă có lúc bị sanh ra. 

Dụ: Phàm cái ǵ đó sinh tất phải có chết, như Không Tử, Trần Trọng Kim v.v...(đông dụ). Trái lại, phàm cái ǵ không có sanh tất không có chết, như hư không (dị dụ) v.v.. 

Đồng dụ là những thí dụ đồng loại (có sinh có diệt). Dị dụ là những thí dụ khác loại (không sinh th́ không chết). 

Ta thêm một ví dụ khác: 

Tôn: Tṛ B sẽ bị phạt 

Nhân: V́ tṛ B học bài không thuộc. 

Dụ: Phàm, ai không thuộc bài th́ đều bị phạt cả, như tṛ C, tṛ Đ,C (đồng dụ). Phàm, ai thuộc bài th́ đều không bị phạt như tṛ Mít, tṛ Ổi. 

Ta nhận thấy môn luận lư nhân minh có hơi giống với luận lư học h́nh thức (syllogisme) của phương tây, và lại đầy đủ tinh vi hơn luận lư học này, v́ nó có đủ tính cách diễn dịch và qui nạp. 

Ba phần chính của môn luận thức nhân minh, phải có liên lạc mật thiết với nhau. Nhân bao giờ cũng quan hệ đến Tôn, phải triệt để có tính cách của đồng dụ và tuyệt đối không có tính cách của dị dụ. C̣n dụ bao giờ cũng phải dính líu đến Tôn và Nhân. Mỗi phần Tôn, Nhân, Dụ muốn đứng vững được, cần phải tránh nhiều lỗi. (Xem quyển PHPT khóa IX). 

Học nhân minh có mục đích là biết phán đoán chân ngụy, thuyết phục ngoại đạo và đọc được các bộ luận về pháp tướng học, bởi v́ các Tổ ngày xưa theo lối lập luận này trong khi viết các bộ luận kia. 

3. Thanh minh. Đây là môn học về ngữ môn văn tự, về âm thanh và về văn học. Sự truyền giáo cũng đă rất cần đến môn học này. Xưa các vị Tổ sư muốn đem giáo pháp truyền bá ở các nước, đă phải thông hiểu về các thứ sinh ngữ, đă phải có tài phiên dịch và trước tác. Nhiều bộ sách đạo lư lưu truyền đến tận nay mà cũng phải nhận là có những giọng văn sáng sủa lưu loát, chính là nhờ ở căn bản về thanh minh rất rộng răi vậy. 

Trong Phật giáo, chỉ có Thiền tông chủ trương không chú trọng mấy về văn tự. Các tôn phái khác đều cần đến thanh minh. Người tu học cần phải có kiến thức về văn học mới có thể học hiểu giáo lư tu tập; môn học này. Người truyền giáo phải có kiến thức về văn học để phiên dịch, trước tác với các nước Phật Giáo trên hoàn cầu. 

Hiện nay, người Phật tử Việt Nam rất cần đến thanh minh: Phật Giáo Việt Nam đang đ̣i hỏi một kho kinh điển bằng tiếng Việt làm tài liệu học tập và truyền bá. Như thế các nhà hữu tâm của Phật Giáo phải lưu ư đến việc học tập văn chương và ngoại ngữ để có thể kiến thiết một nền Phật học bằng quốc văn. 

4. Công xảo minh. Đây là môn học về công nghệ và kỹ thuật: 

Trong công cuộc hành đạo, người tín đồ của Phật Giáo nhận thấy cần có đủ điều kiện kinh tế, mới có thể lập ra những cơ quan tu học cho Tăng giới, cho cư sĩ, mới có thể thành được những tổ chức cứu tế, giúp đỡ cho người nghèo đói tật nguyền, thể hiện ḷng từ bi bác ái. Công nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi thêm tiến bộ, người Phật tử cần phải học tập để có những phương tiện hành đạo rộng răi trong phạm vi xă hôi nhân sinh. 

Công nghệ và kỹ thuật, nếu chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi ích kỷ, th́ không đáng cho ta phải bận tâm. Công nghệ và kỹ thuật ấy tiến bộ chừng nào, th́ gây đau khổ cho loài người chừng ấy, bởi v́ chúng sẽ biến ra lợi khí tranh giành, cướp đoạt và bóc lột. Kỹ thuật tiến bộ của máy móc, của bom đạn đă là một sự đe dọa ghê ghớm. 

Người Phật tử học lấy công nghệ và kỹ thuật rồi đem công nghệ và kỹ thuật phụng sự nhân loại, thể theo ḷng vị tha và bác ái muốn cho muốn loài có hạnh phúc chân thực, tránh những tai hại do dục vọng gây nên. 

5. Y phương minh. Đây là môn học về các phương pháp chữa bệnh. Các đức Phật là những nhà lương y, trị cả tâm bệnh và cả thân bệnh cho chúng sinh, đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Thế gian này đầy dẫy những bệnh nhân đau khổ về vật chất lẫn tinh thần. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần đă đành rằng rất cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa bệnh về vật chất cũng không phải là không quan trọng. Người Phật tử nếu có được những thời giờ rảnh rang nên học chuyên môn về thuốc, để có thể thực hành một công tác xă hội rất thích hợp với ḷng từ bi: đó là sự chữa bệnh. Các bác sĩ, các lương y, nếu là Phật tử th́ đă có trong tay một phương tiện hành đạo rất quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, nâng đỡ họ trong cơn ốm đau, cử chỉ đó thực có thể tiêu biểu được một phần nào tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật. 

Chúng ta hy vọng rằng sau này Phật Giáo sẽ có được những bệnh viện do Phật tử chăm sóc ngày đên, và mỗi một ngôi chùa địa phương, có thể có một cơ quan cấp cứu tương trợ cho đồng bào trong những lúc nguy biến ngặt nghèo.

 

C. Kết Luận: 

Trong thời đại hiện tại, xă hội đ̣i hỏi một phương thức hoằng pháp rộng răi hơn. Chúng ta không có thể áp dụng những phương tiện nhỏ hẹp, mà cần phải mở rộng phạm vi của hoằng pháp theo Đại Thừa Phật Giáo; người Phật tử cần phải y lời Phật dạy học Ngũ minh và mỗi người sẽ là một chiến sĩ từ thiện xă hội, lo xây đắp cho nền Phật giáo tương lai hưng thịnh và thực hiện được hoài bảo cứu tế to rộng của đức Bổn sư.

Trở Lên

 
Trở về   Phật Học Phổ Thông Khóa 5