Welcome to my homepage. Hope you've enjoyed your stay here. I look forward to seeing you again.

Phật Học Phổ Thông

Khóa 3
Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa


 
 
 

Mục Lục Khóa Thứ Ba 
Thinh Văn Thừa Phật Giáo

 

01 Khái niệm tổng quát về Tứ diệu đế
02 Khổ đế
03 Tập đế
04 Tập đế (tiếp theo)
05 Diệt đế
06 Diệt đế (tiếp theo)
07 Đạo đế (Tứ niệm xứ)
08 Đạo đế (Tứ chánh cần)
08-2 Đạo đế (Tứ như ư túc)
09 Đạo đế (Ngũ căn Ngũ lực)
09-2 Đạo đế (Thất bồ đề phần)
10 Đạo đế (Bát chánh đạo)

 

Bài Thứ 1 
Khái Niệm Tổng Quát Về Tứ Diệu Đế (Ariya Saccani)

 

A.Mở Đề 

Nguyên Nhân Và Hoàn cảnh Đức Phật Thích Ca Giảng Về Pháp Tứ Diệu Đế Lần Đầu Tiên  

Đức Phật Thích Ca, sau khi thành đạo dưới cội cây bồ đề, liền nghĩ đến việc đem giáo lư của Ngài vừa chứng được, ra truyền bá cho chúng sanh. Nhưng giáo lư của Ngài là giáo lư cao siêu, thâm diệu, c̣n chúng sanh phần đông căn cơ c̣n thấp kém, khó có thể giác ngộ nhanh chóng như Ngài được. Nhưng không lẽ v́ giáo pháp của Ngài thậm thâm vi diệu mà không giáo hóa chúng sanh? Để làm tṛn nhiệm vụ hóa độ của Ngài, Phật phương tiện nói pháp Tứ Diệu Đế là Tiệm giáo để cho chúng sanh dễ bề tu hành. 

Quan sát căn cơ năm người bạn đồng tu với Ngài trước kia là nhóm ông Kiều Trần Như, có thể khai ngộ được với pháp Tứ Diệu Đế, đức Phật đi đến Lộc Uyển là nơi họ đang tu hành để nói pháp Tứ Diệu Đế. 

Sau khi nghe Phật thuyết pháp Tứ Diệu Đế, thành kiến mê lầm tan vỡ, trí huệ siêu thoát xuất hiện, năm vị này được ngộ đạo, chứng nhập quả vị A La Hán. Đó là năm vị đệ tử đầu tiên của đức Phật Thích Ca. 

từ đây về sau, Tứ Diệu Đế là giáo lư căn bản về Tiệm giáo (phương pháp tu chứng từ từ) và đă giác ngộ cho không biết bao nhiêu đệ tử của Phật. 

Ngày nay, chúng tôi đem giáo pháp Tứ Diệu Đế ra tŕnh bày với quí vị độc giải trong tập sách này, cũng không ngoài mục đích ấy.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Về Tứ Diệu Đế 

Tứ là bốn; Diệu là hay đẹp, quư báu, hoàn toàn; Đế là sự chắc chắn, rơ ràng đúng đắn nhất. Chữ Phạn là Ariya Saccani. 

Tứ diệu đế là bốn sự thật chắc chắn, quí báu, hoàn toàn nhất, không có một giáo lư ngoại đạo nào có thể sánh kịp. Với bốn sự thật mà Đức Phật đă phát huy đây, người tu hành có thể từ địa vị tối tăm, mê mờ, đi dần đến quả vị giác ngộ một cách chắc thật, không sai chạy, như một ngọn đuốc thiêng có thể soi đường cho người bộ hành đi trong đêm tối đến đích. V́ cái công dụng quí báu, mầu nhiệm, vô cùng lợi ích như thế nên mới gọi là Diệu. 

Chữ Đế c̣n có nghĩa là một Sự Thật lớn nhất, cao nhất, bao trùm tất cả các Sự Thật khác, và muôn đời bất di bất dịch, chứ không phải là sự thật hạn cuộc trong không gian và thời gian. 

Trong giáo lư Tiểu thừa th́ Tứ Diệu Đế là giáo lư căn bản.

 

II. TỨ Diệu Đế Gồm Những Ǵ?

 

Tứ diệu đế là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. 

 

1. Khổ đế ( Dukkha). Khổ đế là chân lư chắc thật, tŕnh bày rơ ràng cho chúng ta thấy tất cả những nỗi đau trên thế gian này mà mỗi chúng sinh đều phải chịu, như Sống là khổ, Đau là khổ, Già là khổ, Chết là khổ V.V..những nỗi khổ dẫy đầy trên thế gian, bao vây chúng ta, ch́m đắm chúng ta như nước biển. Do đó, Đức Phật thường ví cơi đời là một bể khổ mênh mông.

 

2. Tập đế (Sameda Dukkha). Tập đế là chân lư chắc thật, tŕnh bày nguyên nhân của bể khổ trần gian, là lư do v́ đâu có những nỗi khổi ấy. Khổ đế như là bản kê hiện trạng của chứng bệnh; c̣n Tập đế như là bản nói rơ nguyên nhân của chứng bệnh, lư do v́ sao có bệnh.

 

3. Diệt dế (Nirodha Dukkha). Diệt đế là chân lư chắc thật, tŕnh bày rơ ràng hoàn cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sanh sẽ đạt đến khi đă diệt trừ được những nỗi khổ và những nguyên nhân của đau khổ. Diệt đế như là một bản cam đoan của lương y nói rơ sau khi người bệnh lành th́ sẽ ăn ngon, ngủ yên như thế nào, thân thể sẽ tráng kiện, tâm hồn khoan khoái như thế nào.

 

4. Đạo đế (Nirodha Gamadukkha). Đạo đế là những phương pháp đúng đắn, chắc thật để diệt trừ đau khổ. Đó là chân lư chỉ rơ con đường quyết định đi đến cảnh giới Niết Bàn. Nói một cách giản dị, đó là những phương pháp tu hành để diệt khổ và được vui. 

Đạo đế cũng như cái toa thuốc mà vị lương y đă kê ra để người bịnh mua và những lời chỉ dẫn mà bịnh nhân cần phải y theo để lành bệnh.

 

III. Bố Cục Kỳ Diệu Của Tứ Diệu Đế 

Tứ diệu đế đă được Đức Phật sắp đặt theo một thứ tự rất khôn khéo, hợp lư, hợp t́nh. Ngày nay các nhà nghiên cứu Phật học Âu Tây, mỗi khi nói đến Tứ Diệu Đế, ngoài cái nghĩa lư sâu xa, nhận xét xác đáng, c̣n tóm tắt tán thán cái kiến trúc, cái bố cục, cái thứ lớp của toàn bộ pháp môn ấy. 

Trước tiên, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại cỉa cơi đời. Cái thảm cảnh bi đát nầy có nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta; những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ được, chứ không phải những sự thật xa lạ ở đâu đâu. Đă là một chúng sanh, ai không có sanh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết v.v...? Và những trạng thái ấy đều mang theo tánh chất khổ cả. Đă có thân, tất phải khổ. Đó là một chân lư rơ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét. 

Khi chỉ cho mọi người thấy cái khổ ở trước mắt, ở chung quanh và chính trong mỗi chúng ta rồi, đức Phật mới đi qua giai đoạn thứ hai, là chỉ cho chúng sanh thấy nguồn gốc, lư do của những nỗi khổ ấy. Ngài đă từ hiện tại đi dần về quá khứ, đă từ bề mặt đi dần xuống bề sâu, đă từ cái dễ thấy đến cái khó thấy. Như thế là lư luận của Ngài đă đặt căn bản lên thực tại, lên những điều có thể chứng nghiệm được, chứ không phải xa lạ, viễn vong, mơ hồ. 

Đến giai đoạn thứ ba, đức Phật nêu lên tŕnh bày cho chúng ta thấy cái vui thú của sự hết khổ. Giai đoạn nầy tương phản với giai đoạn thứ nhứt: giai đoạn trên khổ sở như thế nào, th́ giai đoạn nầy lại vui thú như thế ấy. Cảnh giới vui thú mà Ngài tŕnh bày cho chúng ta thấy ở đây, cũng không có ǵ là mơ hồ, viễn vong, v́ nếu đă có cái khổ là có cái vui. và khi đă thấy rơ được cái khổ như thế nào, th́ mới hăng hái t́m cách thoát khổ và khao khát hướng đến cai vui mà đức Phật đă giới thiệu. 

Đến giai đoạn thứ tư là giai đoạn Phật dạy những phương pháp để thực hiện cái vui ấy. Ở đây chúng ta nên chú ư là đức Phật tŕnh bày cảnh giới giải thoát trước, rồi mới chỉ bày phương pháp tu hành sau. Đó là một lối tŕnh bày rất khôn khéo, đúng tâm lư: trước khi bảo người ta đi, th́ phải nêu mục đích sẽ đến như thế nào, rồi để người ta suy xét, lựa chọn có nên đi hay không. nếu người ta nhận thấy mục đích ấy cao quư, đẹp đẽ, khi ấy người ta mới hăng hái, nỗ lực không quản khó nhọc, để thực hiện cho được mục đích ấy. 

Như thế, chúng ta có thể phác họa lại cái bố cục của bức họa Tứ Diệu Đế như sau: 

Chúng ta đang đứng trước một bức họa vĩ đại gồm có hai phần chính: Phần dưới là một bể thẳm mênh mông, sóng gió tơi bời, trong ấy thuyền bè đang bị đắm ch́m, với vô số nạn nhân đang lặn hụp, kêu la, khóc lóc, chới với...(Khổ đế). 

Trong cái phần nầy của bức tranh, ta cũng thấy được những nguyên nhân gây ra những thảm họa ấy: đó là những luồng gió dục vọng, tham, sân, si.. những đám mây vô minh đen nghịt, che khuất cả mặt trời (Tập đế). 

Nh́n đến phần trên của bức họa, ta thấy quang cảnh dần dần sáng sủa, yên tĩnh; ở đây, giông tố không đến được, không có những vực sâu, hố hiểm, không có những nạn nhân đang rên siết, khóc than...đây là một miền cao nguyên, cang lên cao, cảnh trí càng đẹp đẽ, yên vui. Người ở đây trông có vẻ b́nh tĩnh, thảnh thơi, vui vẻ lắm; và cũng như cảnh trí, những người càng ở tầng bậc cao th́ lại càng có dung mạo đẹp đẽ, cốt cách phương phi, giải thoát...(Diệt đế). 

Trong phần nầy, nếu chúng ta chú ư nh́n rơ, th́ thấy từ một cảnh ở dưới lên một cảnh trên, có những con đường đi với những cái bản đề tên đường đi, rất hay như: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ư túc,. Bát chánh đạo v.v...Trên những con đường ấy, có rất nhiều người đang đi lên, và rất ít người đi xuống. và càng lên cao th́ con đường lại càng rộng răi mát mẻ, tốt đẹp và những khách bộ hành lại càng mang rất ít hành lư...(Đạo đế). 

Bức họa ấy có ghi mấy chữ ở phần dưới là: "Thế gian" và phần trên là "Xuất thế gian". 

Đây, bức họa Tứ Diệu Đế rơ ràng tŕnh bày ra trước mắt chúng ta hai cảnh giới: Thế gian và Xuất thế gian, tương phản như thế đó. Những ai đă nh́n được bức họa ấy, tất đều có một thái độ là muốn xa lành cảnh ở phần dưới và mong ước được sống trong cảnh giới tŕnh bày ở phần trên bức họa.

 

VI. Địa Vị Quan Trọng Của Tứ Diệu Đế Trong Toàn Bộ Giáo Lư Của đức Phật Thích Ca  

Tứ Diệu Đế là giáo lư căn bản của đạo Phật, không phải riêng đối với Tiểu Thừa mà chung cho cả Đại Thừa nữa. Người tu hành muốn có một kết quả chắc chắn, không thể bỏ qua Tứ Diệu Đế được. Pháp môn nầy, tuy tiến chậm, nhưng khi tiến được bước nào là chắc bước nấy. Pháp môn nầy tuy không đưa thẳng người tu hành đến quả vị Phật, nhưng với một sự tinh tấn và quyết tâm nó có thể dễ dàng đưa người tu hành đến quả vị A La Hán. Rồi từ quả vị A La Hán, hành giả sẽ tu thêm một pháp môn khác của Đại Thừa, để tiến đến quả vị Phật. Căn cơ nào, tŕnh độ nào cũng có thể tu theo pháp môn nầy được, chứ không phải như một số pháp môn khác, phải cần có một tŕnh độ học thức cao và một trí tuệ trên mức trung b́nh mới có thể theo được. V́ thế, nó là một pháp môn phổ thông cho cả hai phái Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, Nam tông và Bắc tông. Ngày nay pháp môn này là pháp môn được phổ biến nhất trên thế giới. Các Phật tử Âu Mỹ hầu hết đều tu theo pháp môn nầy là những tập sách nghiên cứu về đạo Phật, của những nhà Phật học tây phương đều nói nhiều nhất về Tứ Diệu Đế.

 

C. Kết Luận 

Phật Tử Phải Học và Thực Hành Pháp Tứ Diệu Đế  

Một giáo lư căn bản, quan trọng như Tứ Diệu Đế, người Phật tử không thể không hiểu được. Không hiểu biết về Tứ Diệu Đế là không hiểu biết ǵ về giáo lư đạo Phật cả. Người Phật tử, hơn ai cả, phải thấu triệt cơi đời là khổ. Muón thế, không ǵ hơn là hăy lắng nghe đức Phật dạy về Khổ đế, v́ chỉ có Khổ đế mới nói lên một cách tường tận đầy đủ, chính xác về mọi nỗi khổ đau của cơi đời. 

Thấy rơ được mọi nỗi khổ đau rồi, ta cần t́m hiểu v́ đâu có khổ, nguyên nhân của khổ là đâu. V́ chỉ khi nhận thấy được nguồn gốc của nó, mới có thể diệt trừ tận gốc nó được. Điều này, cũng không chỗ nào nói rơ ràng, phân tích ràng mạch bằng Tập đế. Nhưng thấy được mọi nỗi đau khổ của cơi đời và nguồn gốc của nó, không phải để mà chán ngán, khóc lóc, rên siết. Nếu thế th́ không có ǵ tiêu cực bi quan bằng. Một sô dư luận tưởng lầm đạo Phật là yểm thế bi quan là v́ họ đă dừng lại ở hai phần đầu của Tứ Diệu Đế. 

Nhưng người Phật tử không dừng lại đó. Đă thấy đau khổ làm cho cuộc đời xấu xa, đen tối, khổ đau, th́ phải diệt trừ đau khổ. Hạnh phúc không đâu xa, hạnh phúc hiện ra sau khi đă diệt trừ được đau khổ. Đau khổ lùi chứng nào th́ hạnh phúc đến chứng ấy, như bóng tối tan đi đến đau th́ ánh sáng thay vào đến đó. Muốn thấy ánh sáng của Niết Bàn th́ phải thực hiện những lời dạy của Phật trong Diệt đế. 

Muốn thực hiện Niết Bàn th́ phải có đủ phương tiện. Những phương tiện nầy, đức Phật đă cung cấp một cách đầy đủ trong trong Đạo đế. 

Như thế, đức Phật Thích Ca đă làm đầy đủ nhiệm vụ của kẻ dẫn đường cho chúng ta đi từ cơi đời đen tối đến quả vị A La Hán. Ngài đă đặt vào tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn rơ ràng về cuộc hành tŕnh và ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện cần thiết trong chuyến đi vĩ đại ấy. 

Chúng ta chỉ c̣n lên đường và bước đi. 

Bài Thứ 2 
Khổ Đế (Dukkha)

A. Mở Đề 

Đời Là Một Biển Khổ Đầy Mồ Hôi Và Nước Mắt  

Có một số người cho rằng đời là một bữa tiệc dài, không hưởng thụ cũng uổng. Do đó, họ không để lỡ một dịp nào có thể đem lại cho họ những khoái lạc vật chất. 

Nhưng họ không ngờ rằng những khoái lạc ấy điều là giả dối, lừa phỉnh, chẳng khác ǵ cái khoái lạc mong manh của người khát mà uống nước mặn, càng uống lại càng khát; và cổ họng, sau cái phút uống vào, lại thêm đắng chát. 

Khế kinh có câu: "Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển". Thật thế ! Cơi đời không vui, cơi đời toàn là khổ. Những nỗi vui, nếu có, cũng chỉ là tạm bợ, hào nhoáng như một lớp sương bên ngoài mà thôi; chứ bản chất của cơi đời là đau khổ. Cơi đời là một biển đầy mồ hôi và nước mắt, trong ấy chúng sinh đang bơi lội, hụt lặn, ch́m nổi, trôi lăn. Đó là sự thật. Nhưng sự thật ấy, không ai nh́n thấy một cách tường tận và nói lên một cách rơ ràng như đức Phật đă nói trong khổ đế, phần thứ nhứt của Tứ Diệu Đế. 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Chữ Khổ Đế (DUKKHA) 

Khổ đế do chữ Dukkha mà ra. "DU", nghĩa là khó; "KKHA" là chịu đựng, khó kham nhẫn. Dukkha nghĩa là đắng; nghĩa rộng là những cái ǵ làm cho ḿnh khó chịu, ḿnh đau đớn như: ốm đau, đói khát, buồn rầu, sợ hăi v.v.. 

"ĐẾ" là một sự thật vững chắc, đúng đắn, hoàn toàn, cao hơn cả. 

Khổ đế, là sự thật đúng đắn vững chắc cao hơn cả về sự khổ ở thế gian. Sự thật nầy nó rơ ràng, minh bạch không ai có thể chối căi được. 

Dưới đây, chúng ta hăy nghe đức Phật giải bày một cách tường tận, sâu sắc, tỉ mỉ về sự khổ của thế gian. 

II. Luận Về Sự Khổ Của Thế Gian 

Kể cho hết cả sự khổ ở thế gian, th́ không bao giờ cùng. Song căn cứ theo kinh Phật, có thể phân loại ra làm ba thứ khổ (tam khổ) hay tám thứ khổ (bát khổ). 

1. Ba khổ: Ba thứ khổ là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. 

a) Khổ khổ. Cái khổ chồng chất lên cái khổ, bản thân đă là khổ, mà hoàn cảnh chung quanh lại đè lên bao cái khổ khác: đó là "Khổ khổ" 

Thật thế, mỗi một chúng sanh, tự ḿnh đă là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ, cái xấu xa; thân thể là một bầu thịt xương dơ bẩn, nếu một vài ngày, không săn sóc, rửa ráy, th́ thối tha không thể chịu đựng được. Hơn nữa, cái thân ấy cũng không bền chắc, mà trái lại rất mong manh: khát nước độ ba ngày, ngạt thở độ năm phút, đứt một mạch máu, bị nhiễm một số vi trùng độc...thế là mạng vong. 

Lại trên cái khổ sống chết bất ngờ mà con người không làm chủ được, c̣n nhiều cái khổ khác nữa chất chồng, không sao tránh khỏi được như: bệnh tật, đói khát, băo lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, áp bức, sưu cao thuế nặng v.v...V́ thế nên gọi là "khổ khổ". 

b) Hoại khổ. Trong Khế kinh chép: "Phàm vật có h́nh tướng đều phải bị hoại diệt". Thực thế, vạn vật trong vũ trụ đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại măi được. Cứng rắn như sắt đá, lâu năm cũng mục nát; to lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan ră. Yếu ớt, nhỏ nhen như thân người, th́ mạng sống lại càng ngắn ngủi, phù du! Cái búa tàn ác của thời gian đập phá tất cả; mỗi phút mỗi giây ta sống, cũng là mỗi phút mỗi giây ta đang bị hủy hoại. Và dù ta có sức mạnh bao nhiêu, quyền thế bao nhiêu, giàu có bao nhiêu cũng không thể cản ngăn, chống đỡ không cho thời gian hủy diệt đời ta. ta hoàn toàn bất lực trước thời gian. Thật là khổ sở, tủi nhục, đớn đau !. 

c) Hành khổ. Về phương diện vật chất, ta bị ngoại cảnh, thời gian chi phối, phá hoại; c̣n về phương diện tinh thần, ta cũng không hề tự chủ, yên ổn, tự do được. tâm hồn ta thường bị dục vọng dằn vặt, lôi kéo, thúc đẩy từng phút từng giây. tư tưởng ta cũng luôn luôn biến chuyển nhảy vọt lăng xăng từ chuyện này sang chuyện khác, như con ngựa không cương, như con vượn chuyền cây, không bao giờ dừng nghỉ. Thật là đúng như lời Phật dạy: "tâm viên, ư mă". 

Nếu xét sâu xa hơn nữa, ta sẽ thấy tâm hồn ta c̣n bị cái phần bên trong kín sâu, nằm dưới ư thức, là phần tiềm thức chi phối, sai sử một cách vô cùng mănh liệt trong mỗi ư nghĩ, cử chỉ hành động của chúng ta. ta giận, ta thương, ta ghét, ta muốn thứ này, ta thích thứ kia, phần nhiều là do tiềm thức ta sai sử, ra mệnh lệnh. 

Nói tóm lại, ta không được tự do, ta bị chi phối bởi những ư tưởng, dục vọng, tiềm thức, và luôn luôn chịu mệnh lệnh của chúng. Đó là "Hành khổ". 

2. Tám khổ: nếu chúng ta phân tích tỉ mỉ hơn, th́ cái khổ của thế gian có thể chia ra làm tám loại. tám loại này tựu trung cũngk ngoài ba khổ kia. 

Tám loại khổ: sanh khổ, lăo khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Dưới đây chúng ta hăy nói rơ về tám nỗi khổ ấy. 

a) Sanh khổ: Sự sanh sống của con người có hai phần khổ: Khổ trong lúc sanh, khổ trong đời sống. 

Khổ trong lúc sanh. Người sanh và kẻ bị sanh đều khổ cả. Khi người mẹ mới có thai là đă bắt đầu biếng ăn, mất ngủ, nôn ọe, dả dượi, bất thần...Thai mỗi ngày mỗi lớn, th́ người mẹ mỗi ngày mỗi mệt mỏi, nặng nề, đi đứng khó khăn, làm lụng chậm chạp. Đến khi gần sanh, sự đau đớn của người mẹ không sao nói xiết. Dầu được thuận thai đi nữa, mẹ cũng phải chịu dơ uế nhiều ngày, yếu đuối nhiều tháng, v́ tinh huyết hao ṃn, ngũ tạng suy kém. C̣n rủi bị nghịc thai, th́ mẹ phải bị mổ xẻ, đau đớn nhiều nữa. Có khi sau một lần sinh bị giải phẩu, mẹ phải chịu tật suốt đời. 

C̣n con, từ khi mới đầu thai cho đến lúc chào đời, cũng phải chịu nhiều điều khổ sở. Trải qua chín tháng mười ngày, con bị giam hăm trong khoảng tối tăm, chật hẹp, c̣n hơn cả lao tù ! Mẹ đói cơm, khát nước, th́ con ở trong thai bào lỏng bỏng như bong bóng phập phều. mẹ ăn no th́ con bị ép như bồng bột bị đè dưới thớt cối, khó bề cựa quậy. Đến kỳ sanh sản, thân con phải chen qua chỗ chật hẹp như bị đá ép bốn bể, nên khi vừa thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc vang: "Khổ a ! Khổ a !". Thật đúng như hai câu thơ của Ôn Như Hầu: 

"Thảo nào lúc mới chôn nhau 

Đă mang tiếng khóc ban đầu mà ra !"

 

Khổ trong đời sống. Về phương diện vật chất, hay tinh thần, đời sống đều có nhiều điều khổ sở. 

Về vật chất, con người đ̣i hỏi những nhu cầu thiết yếu như món ăn, thức uống, đồ mặc, nhà ở, thuốc men. Muốn có những nhu cầu ấy, con người phải cần lao kham khổ, đổ mồi hôi, sôi nước mắt, mới mua được chén gạo, bát cơm, manh quần, tấm áo. Về nhà ở, th́ có khi suốt đời vất vả làm lụng, vẫn không đủ sức tạo được một ngôi nhà nho nhỏ. 

Nhưng chẳng phải đợi đến cảnh đói khát mới gọi khổ; ăn uống thất thường, thiếu thốn cũng đă là khổ rồi. Chẳng đợi phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, hay ăn lông ở lỗ mới gọi là khổ; áo quần không đủ ấm, nhà cửa không che được nắng mưa, cũng đă là khổ rồi. Nhưng nào phải chỉ có những người nghèo hèn mới khổ đâu? Người giàu có cũng cứ khổ như thường: muốn có tiền, tất phải thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, đầu tắt mặt tối trong công việc, đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được, chứ đâu phải tiền bạc ở trên hư không rơi xuống cho đâu ! Đó là c̣n chưa nói dến những nỗi khổ vật chất bất thường khác nữa mà không ai có thể tránh khỏi được. 

Về phương diện tinh thần, đời người cũng có nhiều điều khổ nhục, có nhiều khi c̣n đau khổ hơn cả những thiếu thốn vật chất. Không nói ǵ nhiều, chỉ xin đơn cử ở đây một thí dụ về nỗi khổ trong sự học hỏi. 

Muốn t́m lẽ phải, chơn lư, đạo đức, tất phải gia công học hỏi nhiều năm cả về phương diện lư thuyết lẫn thực nghiệm. Về lư thuyết ta học trong sách vở với thầy với bạn hay tự học. Về thực nghiệm ta cũng gặp lắm điều khổ sở, khó khăn. Như học lư thuyết với thầy ở trường, lắm khi gặp bài khó, lại thêm thầy giảng dạy quá cao, học tṛ không thu nhận được ǵ hết, thế là người giận kẻ buồn khổ tâm quá ! C̣n tự học ở nhà với quyển sách trơn, có lúc gặp đoạn văn mắc mỏ, lại không đủ tài liệu tra cứu thêm, bị bít lối ra, rồi khởi tâm tức giận buồn phiền, cũng là khổ. Về sự học thực nghiệm ở đời, lắm khi cũng phải trả một giá rất đắc. ta sẽ bị người này phỉnh gạt, người kia áp bức, kẻ nọ oán thù, kẻ kia khinh bỉ...bao nhiêu hạng người là bấy nhiêu tâm tánh. Và hiểu đời được một phần nào là ta đă phải chịu đựng biết bao nhục nhă, khổ đau. 

Tóm lại, về vật chất hay tinh thầnh, sự sống mang theo nhiều cái khổ. Sanh khổ là thế. 

b) Lăo khổ. Ca dao có câu: 

"Già nua là cảnh cảnh điêu tàn 

Cây già cây cỗi, người già người si".

 

Con người đến lúc già, thân thể hao ṃn, tinh thần suy kém, nên khổ thể xác lẫn tinh thần. 

Khổ thể xác. Càng già, khí huyết càng hao ṃn. Bên trong, ngũ tạng, lục phủ càng ngày càng mỏi mệt, hoạt động một cách yếu ớt; bên ngoài các giác quan dần dần hư hoại, như mắt mờ, tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, tay chân run rẩy, đi đứng khó khăn, việc ǵ cũng nhờ vả kẻ khác. 

Đă vậy, mỗi khi thời tiết xoay trở th́ cảm nhiễm theo khí hậu mà đau, như trời mới nắng th́ đă sốt, trời mới mưa th́ đă rét v.v.. không chút ǵ gọi là vui thú cả ! 

Khổ tinh thần. Người xưa có nói: "Đa thọ, đa nhục". Thật thế, tuổi nhiều, nhục lắm ! Càng già thân thể càng suy kém th́ trí tuệ cũng càng lu mờ. Do đó, sanh ra lẫn lộn, quên trước, nhớ sau, hành động như kẻ ngây dại: ăn dơ, uống bẩn; nói năng giống người mất trí; ăn rồi bảo chưa ăn, chưa ăn bảo ăn rồi; có khi lại c̣n chửi bới, nói nhảm nhí làm tṛ cười cho lũ trẻ. Thật đúng là "Lăo khổ". 

c) Bệnh khổ. Hành hạ xác thân con người, làm cho nó khổ sở không ǵ hơn là cái đau ! Đă đau, bất luận là đau ǵ, từ cái đau lăt vặt như đau răng, nhức đầu, đến cái đau trầm trọng như phung, lao v.v...đều làm cho con người phải rên xiết, khổ sở, khó chịu. Nhất là những bệnh trầm kha (lâu ngày khó chữa), th́ lại càng hành hạ xác thân, đắng cơm, nghẹn nước, cầu sống không được, cầu chết cũng không, oan oan ương ương, thật là khổ năo. 

Thân đă đau, mà tiền lại hết. Có nhiều người sau một lần đau, chỉ c̣n hai bàn tay trắng ! Cho nên ngạn ngữ có câu: "Không đau làm giàu biết mấy". 

Ngoài ra, bệnh tật lại c̣n làm cho lục thân quyến thuộc buồn rầu, lo sợ. Mỗi lần trong nhà có người đau, th́ cả gia quyến đều rộn rịp, băn khoăn ngồi đứng không yên, quên ăn quên ngủ, biếng nói, biếng cười, bỏ công ăn việc làm. thật đúng là "Bệnh khổ". 

d) Tử khổ. Trong bốn hiện tượng của vô thường; sanh, già, bệnh, chết th́ "chết" là cái làm cho chúng sanh kinh hăi nhất. Con người sợ chết đến đổi ở trong hoàn cảnh sống thừa, đáng lẽ không nên sống làm ǵ nữa, thế mà nghe nói đến cái chết, cũng sợ không dám nghĩ đến. Những người xấu số bị bịnh nan y như ung thư, bịnh hũi, sống thêm một ngày là khổ thêm một ngày, thế mà những người bạc phước ấy cũng vẫn muốn sống mà thôi. 

Cái chết làm khổ con người như thế nào mà ai cũng sợ hăi thế? 

Về thân xác. Có mục kích một người bệnh khi hấp hối bị hành xác rồi mới biết cái chết là đáng sợ. người sắp chết, mệt ngột không ngằn, trợ mắt, méo miệng, giựt gân chuyển cốt, uốn ḿnh, giăng tay, bẻ chân...Trong lúc ấy tai hết nghe, mắt hết thấy, mũi hết thở, miệng hết nói. Rờ thử vào người chết, th́ thấy lạnh ngắt như đồng, thân cứng đơ như gỗ. xác chết dần dần śnh lên, trong rất ghê tởm; nếu để lâu ngày lại nứt ra, chảy nước tanh hôi khó chịu vô cùng. 

Về tinh thần. Khi sắp chết, tâm thần rối loạn, sợ hăi vô cùng: phần xót thương cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái từ đây đoạn tuyệt, phần lo ḿnh một thân cô quạnh, bước sang thế giới mịt mù xa lạ. Thật không c̣n ǵ đau khổ bằng phút chia ly vĩnh viễn này ! 

Tóm lại, cái chết làm cho thân thể tan ră, thần thức theo nghiệp dẫn đi thọ sanh ở một cơi nào chưa rơ. Thật là "tử khổ". 

e) Ái biệt ly khổ. Trong cái t́nh yêu thương giữa vợ chồng, con cái, anh em đang mặn nồng, thắm thiết mà bị chia ly, th́ thật không có ǵ đau đớn hơn. Sự chia ly có hai loại: sanh ly và tử biệt. 

Sanh ly khổ. Một gia đ́nh đang sống trong cảnh đàm ấm vui vầy, bỗng b́ hoàn cảnh bắt buộc, hay v́ một tai họa th́nh ĺnh xảy đến, như giặc giă, băo lụt...làm cho mỗi người bơ vơ thất lạc mỗi nơi: kẻ đầu này trông đợi, người gốc kia nhớ chờ. thật đau ḷng xót dạ ! Người đời thường nói: "Thà ĺa tử, chứ ai nỡ ĺa sanh?". Đó là cái khổ của "Sanh ly". 

Tử biệt khổ. Nhưng mặc dù xă cách nhau người sống c̣n có ngày gặp gỡ; chứ chết rồi bao thuở được vum vầy? V́ vậy, đứng trước cảnh chết, là một sự biệt ly vĩnh viễn, con người không ai là chằng khổ đau. Do đó, lâm phải cảnh tử biệt này, có người đă xót thương rầu rĩ đến quên ăn, bỏ ngủ, có người đau đớn, tuyệt vọng đến nỗi toan chết theo người quá cố. Đó là cái khổ của "tử biệt". 

g) Cầu bất đắc khổ (thất vọng). Người ta ở đời, hễ hy vọng càng nhiều th́ thất vọng càng lắm. Bất luận trong một vấn đề ǵ, số người được toại nguyện th́ quá hiếm hoi, mà kẻ thất bại bất như ư, th́ không sao kể xiết. Muốn được kết quả tốt đẹp, người ta phải vận dụng không biết bao nhiêu năng lực, lao tâm, tổn trí, mất ăn, bỏ ngủ, chỉ mong sao cho chóng đến ngày thành công. Thế rồi, chẳng may những điều mong ước ấy không thành, sự đau khổ không biết đâu là bờ bến. Dưới đay, xin nêu lên vài thí dụ về những thất vọng mà người đời thường gặp nhiều nhất. 

Thất vọng v́ công danh. Trong đời, danh vọng thường là một miếng mồi ngon mà phần đông người đời ưa thích. Nhưng miếng mồi ấy, phải đâu dễ giành giật được? Không nói ǵ đến những kẻ nhảy dù, muốn làm quan tắt, nên phần nhiều hay thất bại, chỉ nói đến trường hợp những kẻ mong cầu danh vọng một cách chánh đáng, bằng năng lực, tài trí, học hỏi của ḿnh. Đối với những hạng người này, cũng phải nếm bao mùi thất bại, cuối cùng may ra mới được thành công. Thật đúng như lời Ôn Như Hầu Nguyễn gia Thiều đă nói: 

"Gót danh lợi, bùn pha sắc xám 

Mặt phong trần nắng nám mùi dâu !" 

 

Thất vọng v́ phú quư. Số người thất vọng v́ công anh đă nhiều. Nhưng sô người thất vọng v́ phú quư cũng không phải ít. Muốn cho mau giàu, nhiều người t́m mưu này chước nọ để lừa phỉnh người ta; nhưng rồi mưu gian chước lận đỗ bể ra, tài sản bị tịch thu, bản thân bị tù tội, gia quyến bị nhục nhă theo, thực là khổ ! 

Thất vọng v́ t́nh duyên. T́nh duyên cũng là một điều làm cho bao người phải điêu đứng, khổ sở. Trong trường t́nh ái, thử hỏi đă mấy ai được toại nguyện? Nhan nhăn trên báo chí hằng ngày, những câu chuyện t́nh duyên trắc trở đưa đến sự quyên sinh, thật không sao kể xiết. Đấy là "Cầu bất đắc khổ". 

h) Oán tắng hội khổ. Con người ở trong cảnh thương yêu, chẳng ai muốn chia ly; cũng như ở trong cảnh hờn ghét, chẳng ai mong gặp gỡ. Nhưng oái oăm thay ! Ở đời khi mong muốn được hội ngộ, lại phải chia ly; cũng như khi mong ước được xa ĺa, lại phải sống chung đụng nhau hằng ngày ! Cái khổ phải biệt ly đối với hai người thương yêu nhau như thế nào, th́ cái khổi phải hội ngộ đối với hai người ghét nhau cũng như thế ấy. 

Người ta thường nói: "Thấy mặt kẻ thù, như kim đâm vào mắt; ở chung với người nghịch, như nếm mật, nằm gai". 

Chưa nói đến trường hợp những người xa lạ, ngay trong gia đ́nh bà con quyến thuộc, giữa vợ chồng, anh em, khi v́ một lư do ǵ đó, sanh ra bất ḥa với nhau, cũng đủ khó chịu rồi. Muốn lánh mặt nhau, mà mỗi khi đi ra đi vào lại phải gặp nhau măi ! Quyết không nói chuyện với nhau, mà nhiều khi bắt buộc nín không được, phải nói ra với sự ngượng ngùng. Định tuyệt giao hẳn, ngặt v́ c̣n phải ăn chung ở lộn một nhà, dầu cố sức trốn tránh, song lắm lúc cũng phải giao thiệp lấy lệ. Thật là khổ. Đấy là bà con cật ruột, có t́nh cốt nhục, có nghĩa đồng bào, mà sự hờn ghét c̣n thúc đẩy con người hết muốn thân mến, không mong gặp gỡ nhau thay ! Huống chi đối với người dưng, nước lă, khác giống, khác ṇi, một khi đă thù ghét nhau rồi mà phải sống bên cạnh nhau th́ thế nào cũng có một ngày xảy ra đại họa. Đó là ư nghĩa của "Oán tắng hội khổ". 

i) Ngũ ấm xí thạnh khổ. Cái thân tứ đại của con người cũng gọi là thân ngũ ấm (năm món che đậy): sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Với cái thân ngũ ấm ấy, con người phải chịu không biết bao nhiêu là điều khổ. Giữa ngũ ấm ấy luôn luôn có sự xung đột, mâu thuẫn, chi phối lẫn nhau. V́ sự xung đột, mâu thuẫn ấy, nên cái thân con người mới chịu những cái khổi sau đây: 

Bị luật vô thường chi phối không ngừng, từ trẻ đến già, từ mạnh đến ốm, từ đau đến chết, luôn luôn làm cho con người phải lo sợ, buồn phiền. 

Bị thất t́nh, lục dục lôi cuốn, làm cho con người phải đắm nhiểm sáu trần, phải khổ lụy thân tâm. 

Bị vọng thức điên đảo chấp trước, nên con người nhận thức một cách sai lầm: có ta, có người, c̣n, mất, khôn dại, có không, và sanh ra rầu lo, khổ năo. 

y là "Ngũ ấm xí thạnh khổ." 

III. Đức Phật Nêu Rơ Những Nỗi Khổ Ấy Để Làm Ǵ?  

Có người sẽ băn khoăn, thắc mắc tự hỏi: Đức Phật nêu lên một cách rốt ráo những nỗi khổ của thế gian để làm ǵ? Cuộc đời đă đau khổ như thế, th́ nên che giấu bớt đi chừng nào hay chừng ấy, chứ sao lại lột trần nó ra làm ǵ cho người ta càng thêm đau khổ? Ta cố gắng tạo nên một ảo tưởng tốt đẹp về cuộc đời để sống an ổn trong ấy, có hơn không? Đứa trẻ nít sống một cách hồn nhiên, yên ổn trong hạnh phúc, v́ nó không biết đến những nỗi đau khổ, xấu xa của cuộc đời. Tại sao ta lại không cố bắt chước như chúng, đừng t́m biết ǵ cả về những sự xấu xa, khổ sở của cơi đời, để sống một cuộc sống có hạnh phúc hơn? Đức Phật là một đấng thường được gọi là đấng từ bi, sao lại làm một vịệc nhẫn tâm như thế? 

Những câu hỏi thắc mắc trên, mới nghe th́ h́nh như có lư, nhưng nếu suy xét một cách rốt ráo, sẽ thấy chúng là nông cạn. Đức Phật không nhẫn tâm khi nêu lên những nỗi khổ căn bản của cơi đời; chính là v́ ḷng từ bi mà Ngài làm như thế. Đức Phật muốn cho người đời biết rơ những nỗi khổ của trần gian, v́ những lợi ích lớn sau đây: 

1. Gặp cảnh không khủng khiếp: Những nỗi khổ mà Đức Phật nói ra ở trên là những nổi khổ căn bản, không ai tránh khỏi được. Đă sống, tất phải gặp chúng. Có ai không ốm, không già, không chết? Có ai suốt đời không gặp chia ly với người thân thuộc, không bị chung sống với những kẻ thù nghịch? Có ai đạt được tất cả những điều ḿnh mong ước? Cho nên dù có muốn tạo ra một ảo tưởng đẹp đẽ về cuộc đời để sống cho yên ổn, th́ ảo tưởng ấy, sớm hay muộn ǵ cũng sẽ bị thực tế phủ phàng xé tan đi mất ! Và khi ấy, cuộc thế tràn truồng, xấu xí, ghê tởm sẽ hiện ra một cách vô cùng đột ngột, trước mắt những kẻ thường quen sống trong ảo tưởng đẹp đẽ. Bấy giờ những kẻ thiếu chuẩn bị để sống một cuộc sống đau khổ, sẽ hoảng lên, vô cùng tuyệt vọng và có nhiều khi không đủ can đảm để sống nữa. 

Trái lại, khi chúng ta biết rơ cảnh Ta Bà này có nhiều điều khổ, th́ gặp cảnh khổ, chúng ta không đến nỗi khủng khiếp, tán loạn tinh thần, mà trái lại, chúng ta sẽ điềm tĩnh nhẫn nại để t́m phương giải thoát. Tỷ như nhà nông, biết bổn phận ḿnh là phải vất vả với nghề cày sâu cuốc bẫm, tay lấm chân bùn, mới có lúa gạo để sống, nên gặp cảnh mưa tuôn, nắng táp cũng không nao núng chút nào. Trái lại, một kẻ quyền quí, quen sống trong nhung lụa, trong cảnh đền đài nguy nga, rủi gặp thời cuộc hổn loạn, đôi thay bất ngờ, đâm ra kinh hăi và liều ḿnh tự tử. 

2. Không tham cầu nên khỏi bị hoàn cảnh chi phối: Khi chúng ta rơ biết cuộc đời vui ít buồn nhiều, và hễ càng ham muốn nhiều th́ lại càng đau khổ lắm, khi biết rơ như thế, chúng ta sẽ tiết chế dục vọng của chúng ta và sẽ "biết đủ". Do đó, chúng ta không bị hoàn cảnh chi phối, không bị sóng đời lôi kéo, vùi dập chúng ta xuống vực thẳm mênh mông của cơi Ta Bà đen tối. Tỷ như người trí, rủi bị giam cầm, biết lo nghĩ phương kế để thoát ly lao ngục, chứ không như kẻ dại, trong khi ngồi tù, chỉ lo tranh giành những món cơm thừa, canh cặn mà quên rằng ḿnh sẽ bị đem xử tử, nếu ḿnh không sớm t́m kế thoát thân. 

3. Gắng sức tu hành để thoát khổ: Khi đă biết thân người nhiều khổ và cảnh Ta Bà ít vui, con người mới mong ước được thoát ly ra khỏi cảnh giới đen tối của ḿnh và sống ở một cảnh giới tốt đẹp hơn. Cũng như lũ trẻ đang chơi mê mẩn trong cảnh nhà đang cháy, may nhờ đấng cha lành báo động, chúng mới biết và gấp rút t́m đường thoát ra. 

C. Kết Luận 

Biết Khổ Phải T́m Nguyên Nhân Sanh Ra Khổ Để Diệt Trừ  

Chúng ta đă được đức Phật từ bi chỉ rơ cho thấy rằng cơi Ta Bà này, cũng như tam giới đều là biển khổ. Kinh Pháp Hoa cũng nói: "Ba cơi không an, ví như nhà lửa", tiếc v́ chúng sinh mê muội, lấy khổ làm vui mà không tự biết, nên phải bị trầm luân. 

Nay chúng ta đă biết rơ mặt thật xấu xí của đời rồi, đă biết nó là một biển khổ mênh mông luôn luôn dậy sóng, th́ ta phải nhàm chán nó, xă lánh nó. Biết khổ để rồi chán đời, nản chí, buông xuôi tay ngồi khóc than. Nhưng làm thế nào để thoát ly nó, nếu chúng ta chưa rơ biết ngành ngọn, đường đi nước bước, chưa biết rơ v́ đâu phát sinh đau khổ? Nhà lương y giỏi muốn trừ bênh, phải t́m căn nguyên của bệnh. Một viên tướng giỏi muôn trừ diệt tận gốc bọn phiến loạn, phải cho điều tra kỹ lưỡng sào huyệt, tổng hành dinh của chúng ở đâu, nhiên hậu mới có thể bao vây, đánh bắt chúng nó đầu hàng một cách dễ dàng. 

Cũng vậy, biết khổ chưa đủ để diệt khổ. Muốn diệt khổ tận gốc phải t́m nguyên nhân phát sanh ra khổ. 

Nguyên nhân phát sanh ra khổ, đức Phật đă thuyết trong đoạn thứ hai của tứ diệu đế là Tập đế, mà quư độc giả sẽ đọc trong bài thứ ba của tập sách này. 

Trở Lên

Bài Thứ 3 
Tập Đế (Sameda Dukkha)

A. Mở Đề  

V́ Sao Phật Nói Khổ Đế Trước và Tập Đế Sau 

Trong Khổ đế, chúng ta đă thấy rơ những nỗi thống khổ của trần gian. Trước những nỗi khổ ấy, không ai là không nhàm chán, ghê sợ cho cuộc đời ở cảnh giới Ta Bà nầy, và không ai có thể an tâm, điềm nhiên sống trong cảnh ấy. Nhiều câu hỏi liền nẩy ra trong đầu óc chúng ta: V́ đâu sanh ra những nỗi khổ ấy? Ta có thể thoát ra khỏi móng vuốt của chúng để sống ở một cảnh giới đẹp đẽ hơn chăng? Và thoát ra bằng cách nào? 

Đó là những câu hỏi mà đức Phật sẽ lần lượt giải đáp một các tường tận ở ba phần: Tập, Diệt và Đạo đế. 

Ngay trong phần Tập đế nầy, đức Phật giải đáp câu hỏi thứ nhứt của chúng ta là nói rơ nguyên nhân của đau khổ. 

Đức Phật rất rành tâm lư của chúng sanh, nên mới nêu lên cái khổ trước rồi mới nói cái nhân sau. Nếu vào ngay đầu, Ngài nói: "Nầy các ngươi ! hăy nghe ta nói rơ những nguyên nhân sanh ra đau khổ đây !" Nếu Ngài bảo như thế, chắc chúng ta sẽ không chú ư nghe cho lắm, v́ chúng ta, mặc dù là sống trong bể khổ, nhưng v́ mê mờ, chúng ta có thấy một cách tường tận và rùng rợn tất cả những nỗi khổ của cảnh Ta Bà đâu? Có nhiều khi chúng ta c̣n cho cảnh giới nầy là vui nữa là khác. Do đó, chúng ta không thiết tha đi t́m nguyên nhân phát anh đau khổ. Chỉ khi nào chúng ta đă ư thức một cách sâu sắc những nỗi khổ sở của chúng ta, khi ấy chúng ta mới thấy sự băn khoăn khẩn cấp đi t́m đường tự giải cứu cho chúng ta. Và muốn tự giải cứu, tất chúng ta cầm t́m xem v́ đâu mà có đâu khổ; như vị lương y, muốn trị bệnh, trước phải t́m hiểu nguyên nhân sinh bệnh. 

Nguyên nhâ sinh bệnh khổ đau của chúng sanh, đức Phật gọi là Tập đế. 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa 

Tập đế: Tập là chứa nhóm, dồn thêm mỗi ngày mỗi nhiều hơn lên. Đế là sự thật vững chắc, đúng đắn hơn cả. Tập đế là sự thật đúng đắn, vững chắc về nguyên nhân của những nỗi khổ đă chứa nhóm, tích trữ lâu đời, lâu kiếp trong mỗi chúng sanh. Đó là sự thật về cội gốc của sanh tử, luân hồi, của bể khổ trần gian. 

II. Nguyên Nhân Của Đau Khổ Là Những Ǵ?  

Phật dạy: Cội gốc của sanh tử luân hồi do các phiền năo mê lầm là những dục vọng xấu xa, những ư niệm sai quấy, làm năo loạn thân tâm chúng ta. 

Phiền năo rất nhiều, nói rộng th́ đến tám muôn bốn ngàn (84.000), nói hẹp lại th́ có mười phiền năo gốc, gọi là căn bản phiền năo. Do mười phiền năo gốc nầy mà sanh ra vô số phiền năo ngành ngọn (xin xem quyển Tu Tâm). Mười phép phiền năo gốc là: 

1. Tham: Nghĩa là tham lam. Tánh tham có động lực bắt ta phải ḍm ngó, theo dơi những cái ǵ nó ưa thích, như tiền tài, danh vọng, miếng ăn, chỗ ở v.v...rồi nó xúi ta lập mưu nầy, chước nọ để tầm kiếm cho được những thứ ấy. Điều tai hại nhất là ḷng tham không có đáy, thâu góp bao nhiêu cũng không vừa; được một muốn có mười, được mười muốn có trăm. Tham cho ḿnh chưa đủ, c̣n tham cho bà con quyến thuộc và xứ sở của ḿnh. Cũng v́ tham mà cha mẹ vợ con xung đột; cũng v́ tham mà bè bạn ch́a ĺa; cũng v́ tham mà đồng bào trở lại xung đột, xâu xé nhau; cũng v́ tham mà chiến tranh tiếp diễn, giết hại không biết bao sanh linh. Tóm lại, cũng v́ tham mà nhân loại, chúng sanh chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ. 

Tham không những hại cho ḿnh và cho người, trong hiện tại mà cả đến tương lai nữa. 

2. Sân: Nghĩa là nóng giận. Khi gặp những cảnh trái ư nghịch ḷng, như ḷng tham không được toại nguyện, th́ sân nổi lên, như một ngọn lửa dữ đốt cháy ḷng ta. Thế là mặt mày đỏ tía hay tái xanh, bộ dạng thô bỉ, nói năng hung dữ, có khi dùng đến vơ lực hay khí giới để hạ kẻ đă làm trái ư, phật ḷng ta. V́ nóng giận mà cha mẹ, vợ con, anh em xa ĺa, bạn bè ly tán; v́ nóng giận mà đồng bào trở nên thù địch, nhân loại đua nhau ra chiến trường; v́ nóng giận mà kẻ bị tàn tật, người vào khám đường, kẻ mất địa vị, người tan sự nghiệp. Kinh Hoa Nghiêm chép: "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai", nghĩa là một niệm sân hận nổi lên, th́ trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra. Sách Phật chép: "Nhất tinh chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn", nghĩa là một đóm lửa giận, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức. Thật vậy, lửa sân hận đă bừng cháy lên giữa ḷng nhân loại, và đă đốt thiêu không biết bao nhiêu là công lao, sự nghiệp mà nhân loại đă tốn bao nhiêu mồ hôi và nước mắt để tạo nên. 

3. Si: Nghĩa là si mê, mờ ám. Si như là một tấm màn dày đặc, đen tối trùm lên trí huệ của ta, làm cho ta không thể nh́n thấy được sự thật, phán đoán được cái hay, cái dỡ, cái tốt, cái xấu. Do đó, ta gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi, làm hại ḿnh, hại người mà không hay. V́ si mà ḷng tham trở thành không đáy, bởi v́ nếu người sáng suốt thấy cái tai hại của tham, th́ người ta đă kềm hăm được một phần nào tánh tham. V́ si mà lửa sân tự do bùng cháy; nếu người sáng suốt biết cái tai hại của lửa sân th́ không để cho nó hoành hành như thế. Tổ sư đă dạy: "Bất úy tham sân khởi, duy khủng tự giác tri". Nghĩa là không sợ tham và sân nổi lên, mà chỉ sợ ḿnh giác ngộ chậm. Nói một cách dễ hiểu hơn: Không sợ tham và sân, mà chỉ sợ si mê. Thật đúng như thế: Nếu tham, sân nổi lên, mà có trí sáng suốt ngăn chận lại, th́ tham, sân không thể tồn tại được; như khi đă có ánh sáng mặt rời lên, th́ bóng tối tất nhiên phải tự tan biến. 

Ba tánh tham, sân, si này, Phật gọi là ba món độc; v́ do chúng nó mà chúng sanh phải chịu nhiều kiếp sanh tử luân hồi, đọa vào địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. 

4. Mạn: Nghĩa là tự nâng cao ḿnh lên và hạ người khác xuống; tự thấy ḿnh là quan trọng mà khinh rẻ mọi người; ỷ ḿnh có tiền của, tài trí hay quyền thế mà dương dương tự đức, mục hạ vô nhân, khinh người già cả, hỗn láo với người đức hạnh, chà đạp người dưới, lấn lướt người trên. 

V́ ḷng ngă mạn cho ḿnh là hơn hết, nên chẳng chịu học hỏi thêm, không nghe lời nói phải. Do đó, làm nhiều điều lầm lẫn sai quấy, phước lành tổn giảm, tội lỗi càng tăng, phải chịu sanh tử luân hồi không bao giờ cùng. 

Mạn có bảy thứ: 

a) Mạn: hơn người ít, mà nghĩa ḿnh hơn nhiều. 

b) Ngă mạn: ỷ ḿnh hay giỏi mà lấn lướt người. 

c) Quá mạn: ḿnh bằng người mà cho là hơn người, người hơn ḿnh mà cho là bằng. 

d) Mạn quá mạn: người hơn ḿnh nhiều mà cho ḿnh hơn người. 

đ) Tăng thượng mạn: chưa chứng thánh quả mà cho ḿnh đă chứng. 

e) Ty liệt mạn: ḿnh thua người nhiều mà nói rằng thua ít. 

g) tà mạn: người tu về tà đạo, được chút ít thần thông, hoặc hiểu biết được đôi chút việc quá khứ, vị lai, rồi khinh lướt người. 

5. Nghi: nghĩa là nghi ngờ, không có ḷng tin. Người nghi ngờ không làm nên được việc ǵ hết. Đối với người thân trong gia đ́nh, họ không tin cậy giao phó công việc; đối với bạn bè, họ nghi ngờ tất cả mọi thiện chí. Ngay đối với ḿnh, họ cũng không tự tin nữa. Đă không tự tin, họ c̣n gây hoang mang cho người chung quanh, làm cho người thế gian ngă ḷng, thối chí. 

Đối với đạo lư chân chánh, họ cũng không hăng hái tin theo. Những pháp tu giải thoát và các điều phước thiện, họ do dự không làm. 

Nghi có ba phương diện: 

a) Tự nghi: Nghĩa là nghi ḿnh. Chẳng hạn như nghe chư Tăng bảo: "Tu hành sẽ được giải thoát", nhưng lại tự nghi rằng: "Chẳng biết ḿnh tu có được không?". V́ ḷng do dự nghi ngờ ấy, nên không tu. 

b) Nghi pháp: Nghĩa là nghi phương pháp ḿnh tu. Chẳng hạn như nghe kinh Di Đà nói: "Người chí tâm niệm Phật, từ một ngày cho đến bảy ngày, được nhất tâm bất loạn, đến khi lâm chung sẽ được Phật Di Đà tiếp dẫn sanh về nước Cực lạc"; nhưng họ lại nghi ngờ "Phương pháp ấy không biết có kết quả đúng như vậy không? " Do sự nghi ngờ đó mà không tu. 

c) Nghi nhơn: Nghĩa là nghi người dạy ḿnh. Như có người dạy rằng: "Làm lành sẽ được phước, làm ác sẽ bị tội"; nhưng lại nghi rằng: "Chẳng biết người này nói có thật không ". Do sự nghi ngờ ấy mà không làm. 

Tóm lại, tánh nghi ngờ làm cản trở sự tiến triển của ḿnh, ngăn ngại mọi công tác hữu ích và làm cho cuộc đời không vượt ra khỏi cảnh tối tăm khổ sở. 

6. Thân kiến: Nghĩa là chấp thân ngũ ấm tứ đại giả hiệp này làm ta. V́ cái chấp sai lầm ấy, nên thấy có một cái Ta riêng biệt, chắc thật không biến đổi, thấy cái Ta ấy là riêng của ta, không dính dấp đến người khác, và là một thứ rất quư báu. V́ tưởng lầm như thế, nên kiếm món ngon, vật lạ cho ta ăn, may sắm quần áo tốt đẹp cho Ta mặc, lo xây dựng nhà cao, cửa lớn cho Ta ở, thâu góp thật nhiều của cải, đất ruộng để dành cho Ta hănh diện với mọi người. Do sự quư chuộng phụng sự cho cái Ta ấy, mà tạo ra lắm điều tội lỗi, chà đạp lên bao nhiêu cái Ta khác, làm cho họ đau khổ v́ Ta. Và thế giới trở thành một băi chiến trường cũng v́ cái Ta. 

7. Biên kiến: nghĩa là chấp một bên, nghiêng về một phía, có một thành kiến cực đoan. Biên kiến có hai lối chấp sai lầm lớn nhất là: 

a) Thường kiến: nghĩa là chấp rằng khi chết rồi, cái Ta vẫn tồn tại măi: người chết sẽ sanh ra người, thú chết sẽ trở lại thú, thánh nhơn chết trở lại làm thánh nhơn. Do sự chấp ấy, họ cho rằng tu cũng vậy, không tu cũng vậy, nên không sợ tội ác, không thích làm thiện. Lối chấp này, đạo Phật gọi là "Thường kiến ngoại đạo". 

b) Đoạn kiến: nghĩa là chấp rằng chết rồi là mất hẳn. Đối với hạng người chấp Đoạn kiến, th́ hễ tắt thở là không c̣n ǵ tồn tại nữa; tội cũng không mà phước cũng chẳng c̣n. Họ không tin nhân quả luân hồi, nên mặc t́nh làm các điều tội lỗi. Họ tự bảo: "Tu nhơn tích đức già đời cũng chết; hung hăng, bạo ngược tắt thở cũng không c̣n". 

Có người đối trước những cảnh buồn ḷng, nghịch ư, những chuyện t́nh duyên trắc trở, tưởng rằng chết là hết đau khổ, là giải thoát tất cả, nên họ đă không ngần ngại mượn chén thuốc độc, hay ḍng sông sâu để kết liễu đời ḿnh. Họ đâu có ngờ rằng chết rỗi văn chưa hết ! Lối chấp này, kinh Phật gọi là "Đoạn kiến ngoại đạo". 

8. Kiến thủ: nghĩa là chấp chặt sự hiểu biết sai lầm của ḿnh. 

Kiến thủ có hai phương diện: 

a) Kiến thủ v́ không ư thức được sai lầm của ḿnh. hành vi của ḿnh sai quấy, ư kiến của ḿnh sai lầm, nhưng v́ không đủ sáng suốt để nhận thấy, nên cứ bảo thủ hành vi, ư kiến của ḿnh, tự cho là giỏi, ai nói cũng chẳng nghe. 

b) Kiến thủ v́ tự ái hay v́ cứng đầu. Biết ḿnh làm như thế là sai, nói như vậy là dở, nhưng v́ tự ái, cứ bảo thủ cái sai cái dở của ḿnh, không chịu thay đổi. Như ông biết trước đă lỡ theo tà đạo, nay con cháu vẫn biết đó là tà, nhưng cứ theo như thế măi không chịu đổi. Họ cứ nói một cách liều lỉnh: "Xưa sao nay vậy", hay "Xưa bày nay làm". Hay như cha mẹ trước đă lỡ làm nghề tội lỗi, đến đời con cháu, vẫn cứ bảo thủ nghề ấy không chịu thay nghề khác. 

Nói rộng ra trong thế giới, có một số đông người, mặc dù thời thế đă cải đổi, tiến bộ mà họ cứ vẫn giữ lại những lề thói, cổ tục hủ bại măi. Chẳg hạn như ở Việt Nam ta, đến bây giờ mà vẫn có những Phật tử, hễ trong nhà có người chết là giết heo ḅ để cúng kiến; khi đưa đám tang, gánh theo những con heo quay to tướng, đi biểu diễn qua các đường phố; mỗi khi tuần tự hay kỵ giỗ, th́ đốt giấy tiền vàng bạc, áo quần kho phướng, mỗi năm phải hội họp để cúng tế tà thần, ác quỷ v.v...Chấp chặt những hủ tục như thế, đều thuộc và "Kiến thủ" cả. 

9. Giới cấm thủ: nghĩa là làm theo lời răn cấm của ngoại đạo tà giáo. Nhưng sự răn cấm nầy nhiều khi thật vô lư, mê muội, dă man, không làm sao đưa người ta đến sự giải thoát được, thế mà vẫn có nhiều người tin và làm theo. Chẳng hạn như ở Ấn Độ, có phái ngoại đạo lấy đá dằn bụng, đứng một chân giữa trời nắng, nằm chỗ bẩn thỉu, leo lên cao nhảy xuống, gieo ḿnh vào lửa, hay nhảy xuống sông trầm ḿnh để được phước. Có đạo, mỗi năm lại bắt tín đồ giết một người để tế thần, hay như đạo của anh chàng Vô Năo, phải giết một trăm người lấy một trăm ngón tay xâu làm chuỗi hạt mới đắc đạo. 

Những thứ cuồn tín như thế, không làm cho cuộc đời sáng sủa, mà c̣n làm đen tối, khổ đau thêm. 

10. Tà kiến: nghĩa là chấp theo lối tà, không chơn chánh, trái với sự thật, trái với luật nhân quả. Nói một cách khác, Tà kiến nghĩa là mê tín dị đoan, như thờ đầu trâu, đầu cọp, b́nh vôi, ông táo, xin xâm, bói quẻ, buộc tôm, đeo niệt, coi sao, cúng hạn v.v... 

Nói rộng ra, cả bốn món chấp trên, đều thuộc và Tà kiến cả. 

Trở Lên

Bài Thứ 4 
Tập Đế (Sameda Dukkha)
(tiếp theo)

III. Tánh Chất Của 10 Món Căn Bản Phiền Năo  

Tánh chất của mười món căn bản phiền năo không giống nhau: có thứ nhanh nhẹn, có thứ chậm chạp; có thứ mănh liệt, có thứ yếu ớt; có thứ đâm sâu gốc rễ trong ḷng người, có thứ nằm khơi khơi ở trên ư thức; có thứ dễ dứt trừ, có thứ khó tiêu diệt. V́ tính chất không đồng ấy mà đức Phật đặt cho chúng những danh từ khác nhau, để dễ phân biệt, như Kiết sử, Kiến hoặc, Tư hoặc. 

1. Kiết sử: Mười thứ phiền năo gốc: thâm, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến cũng gọi là "Thập Kiết sử". 

Kiết là trói buộc; Sử là sai khiến. Mười phiền năo nầy gọi là Kiết Sử, v́ chúng nó có mănh lực trói buộc loài hữu t́nh không cho ra khỏi ba cơi và sai sử chúng sinh phải quay lộn trong ṿng sanh tử luân hồi, từ đời nầy đến kiếp nọ, và phải chịu không biết bao nhiêu điều khổ năo. 

Tuy đều có tánh chất sai sử, trói buộc cả, nhưng mười Kiết sử này có thứ mạnh, thứ yếu, thứ chậm chạp, thứ mau lẹ, nên đức Phật chia chúng ra làm hai thứ với hai tên gọi khác nhau là: Lợi sử và Độn sử. 

a) Lợi sử là những món phiền năo rất lanh lẹ, dễ sanh khởi mà cũng dễ trừ bỏ (lợi là lanh lợi). Lợi sử gồm có năm là: Thân kiến Biên Kiến, Kiến Thủ, Giới Cấm thủ ,Tà Kiến. 

b) Độn sử là những món phiền năo nặng nề, chậm chạm, sanh khởi một cách ngấm ngầm, sâu xa, nhưng mănh liệt, khó dứt trừ (độn là chậm lụt). Thuộc về Độn sử gồm có năm phiền năo là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. 

Người học Phật muốn giải thoát, tất nhiên phải chặt đứt mười thứ dây nhợ, xiềng xích nầy mới được. 

Trước khi muốn chặt đứt chúng một cách có hiệu quả, phải hiểu rơ tánh chất mềm hay cứng, bở hay dai của chúng để liệt chúng vào loại dễ chặt hay khó chặt. Như người bửa củi, chia củi ra làm hai loại: loại dễ bửa và loại khó bửa; loại dễ bửa th́ dùng bú nhỏ, loại khó bửa th́ dùng búa lớn; cũng vậy, hành giả trước khi muốn chặt đứt phiền năo, phải liẹt chúng làm hai loại: loại Kiến hoặc dễ trừ, và loại Tư hoặc khó diệt. 

2. Kiến hoặc: Chữ Kiến hoặc có hai nghĩa: 

a) Loại mê lầm nầy mong manh cạn cợt, chỉ tu hành đến địa vị Kiến đạo (thấy chân lư) th́ đoạn được. 

b) Loại mê lầm nầy thuộc về phần vọng kiến (vọng chấp), phân biệt của ư thức đối với sự vô thường, vô ngă v.v....mà sinh ra; hay do lầm nghe theo lời khuyên dạy của ta sư ngoại đạo mà sinh ra. 

Nói một cách dễ hiểu hơn, Kiến hoặc là cái lầm thuộc về mê lư, do vọng chấp (chấp sai) phân biệt của ư thức sanh ra. Đến địa vị Kiến đạo là đoạn trừ được cái hoặc này. Bởi chúng nó dễ trừ, cũng như cỏ mọc khơi trên mặt đất, hễ dẫy (phác) th́ hết, nên cũng gọi là "Phân biệt hoặc" (nghĩa là cái lầm về phần phân biệt của ư thức). 

Tóm lại, Kiến hoặc hay Phân biệt hoặc là do mê lư mà sanh, và sẽ bị diệt trừ khi ngộ được chân lư. 

Mười phiền năo nói trên, hay Kiến hoặc, nếu đem phối hợp với bốn Đế trong ba cơi, th́ thành ra tám mươi tám hoặc. 

Để có một ư niệm rơ ràng hơn, chúng ta hăy phân tách như sau: 

Mười món Kiến hoặc là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Thân kiến, Biên kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Tà kiến. 

Trong ba cơi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), mỗi cơi có bốn Đế (khổ, tập, diệt, đạo), mỗi đế có các hoặc (mê lầm) chung hiệp lại thành tám mươi tám Kiến hoặc. 

Như Dục giới có bốn Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Khổ đế có đủ mười hoặc. Tập đế và Diệt đế chỉ có bảy hoặc (v́ trừ Thân kiến, Biên kiến và Giới cấm thủ). Đạo đế có tám hoặc (trừ Thân kiến và Biên kiến). Bốn đé cộng thành ba mươi hai Kiến hoặc. 

Cơi Sắc và Vô sắc cũng y như Dục giới, song ở trong đó mỗi Đế đều trừ ra một món Sân (v́ hai cơi nầy chỉ có vui trong thiền định, nên chẳng có Sân) nên mỗi cơi chỉ có hai mươi tám hợc. Hai cơi hiệp lại thành năm mươi sáu hoặc; cộng với ba mươi hai hoặc ở cơi Dục nữa, tổng cộng thành ra tám mươi tám món Kiến hoặc. 

Đây là biểu đồ 88 món Kiến hoặc 

I. Dục giới (có 32) 

1. Khổ đế: 10 

a) Tham, b) Sân  c) Si, d) mạn, đ) Nghi 

e) Thân kiến  ê) Biên kiến, g) Kiến thủ 

h) Giới cấm thủ 

I) Tà kiến

 

2. Tập đế: 7 

Như Khổ đế, trừ Thân kiến, Biên kiến và Giới cấm thủ 

3. Diệt đế: 7  

Như tập đế 

4. Đạo đế: 8 

Trừ Thân kiến và Biên kiến 

II. Sắc giới (có 28) 

1. Khổ đế: 9 

Như Khổ đế ở Dục giới, trừ Sân. 

2. Tập đế: 6 

Như Tập đế ở Dục giới, trừ Sân. 

3. Diệt đế: 6 

Như Diệt đế ở Dục giới, trừ Sân. 

4. Đạo đế: 7 

Như Đạo đế ở Dục giới, trừ Sân. 

III. Vô sắc giới (có 28) 

Như Khổ, Tập, Diệt, Đạo ở Sắc giới. 

Sắc giới và Vô sắc giới đều trừ Sân, là v́ hai cơi nầy ở trong thiền định, có hỷ có lạc, nên Sân không sanh khởi. 

Khổ đế đủ mười hoặc là v́ thuộc về Quả. Tập đế ít hơn (có 7) là v́ thuộc và Nhân. Diệt đế là quả xuất thế nên chỉ có 7. Đạo đế về phần tu hành nên chỉ có 8. 

3. Tư hoặc: Trong số mười phiền năo căn bản nói trên, có bốn thứ ăn sâu gốc rễ từ vô thỉ rất khó diệt trừ là Tham, Sân, Si, Mạn (bốn Độn sử) th́ gọi là Tư hoặc. Theo tân dịch th́ Tư hoặc có hai nghĩa: 

a) Nó ngấm ngầm khởi lên, do mê muội về sự vật mà sanh; như đối với sự vật ăn, mặt, ở ( sắc, thanh, hương, vị, xúc) sanh tham gia trước. 

b) Sự mê lầm này phải đến địa vị Tu đạo mới trừ dứt được. 

Chúng nó có từ vô thỉ đến giờ, hễ có ta là có nó, nó với ta đông minh một lượt, nên cũng gọi là "câu sanh hoặc ". Chúng nó có tiềm tàng sâu kín, và chi phối sai tử chúng ta một cách mănh liệt, nên hành giả phải hết sức tu tŕ, mới có thể lần hồi trừ được. Cũng như cỏ cú, phải ra công moi đào nhiều lần, mới nhổ sạch tận gốc. 

Tóm lại Tư hoặc cũng có tên Câu sanh hoặc, do sự mê là sanh, và chỉ khi đến địa vị Tu đạo mới đoán ra được. 

Mười món này phối hợp với bốn đế ở ba cơi, sẽ thành 81 món như sau: 

Mười món Dục giới, có 4: Tham, San, Si, Mạn. 

Tư Hoặc Sắc giới, có 3: Tham, Si, Mạn. 

Vô sắc giới, có 3: Tham, Si, Mạn 

(hai cơi sau v́ ở trong thiền định, nên không có sân) 

Bốn thứ tư hoặc này lại chia ra làm ba hạng: hạng nhất là bậc thượng; hạng vừa là hạng bậc trung; hạng kém hơn là hạng bậc hạ. Mỗi hạng như thế lại chia ra làm ba bậc hay ba phẩm nữa (thượng, trung, hạ), cộng tất cả thành chín phẩm. 

(Xem biểu chín phẩm Tư hoặc dưới đây) 

Mười thứ I.

Thượng 1. Thượng thượng 

Tư hoặc 2. Thượng trung 

chia làm 3. Thượng hạ  

Chín phẩm II.

Trung 1. Trung thượng 

2. Trung trung 

3. Trung hạ 

III.

Hạ 1. Hạ thượng 

2. Hạ trung 

3. Hạ hạ 

Chín phẩm Tư hoặc nhân cho ba cơi (gồm chín địa 81 thứ) hoặc. 

(Xem biểu đồ 81 món Tư hoặc đưới đây) 

I. Dục giới 1.Ngũ thứ tạp cư địa, có: 9 phẩm Tư hoặc 

II.Sắc giới 2. Sơ Thiền, ly sanh hỷ lạc địa: __ 

3. Nhị thiền định sanh hỷ lạc địa: __ 

4. Tam thiền ly hỷ lạc địa: __ 

5. Tứ thiền xả niệm thah tịnh địa: __ 

III. Vô sắc giới 6. Không vô biên xứ địa __ 

7. Thức vô biên xứ đia __ 

8. Vô sỡ hữu xứ địa __ 

9. Phi phi tưởng xứ địa __ 

Cộng: 9 địa Thành: 81 phẩm Tư hoặc 

 

VI. Tóm Tắt Về Ư Nghĩa Kiến Hoặc và Tư Hoặc  

Nói tóm lại, nhưng cái mê lầm thuộc về phần phân biệt (do ư thức phân biệt mà sanh) đều thuộc về Kiến hoặc. Những cái mê lầm thuộc về phần Câu sanh (ngấm ngầm cùng với ta đồng sanh) th́ thuộc về phần Tư hoặc. 

Lại một nghĩa nữa, những cái mê lầm thuộc về phần mê lư, đến khi Kiến đạo là đoạn trừ đuợc, nên gọi là Kiến hoặc. những cái mê lầm thuộc về phần mê sự, phải tu hành đến địa vị Tu đạo, mới lần đoạn trừ, th́ gọi là tư hoặc. Đoạn Kiến hoặc chỉ mới là cái lầm trên phương diện kiến thức; đến khi đoạn Tư hoặc thế gian th́ cả cái lầm trên phương diện ư thức, hành vi đều không c̣n nữa. 

Đoạn 88 cái lầm về Kiến hoặc và 81 cái lầm về Tư hoặc th́ sẽ chứng được 4 quả thánh Thanh văn của Tiểu thừa, trong đó quả vị cao nhất là quả vị A la hán (1) 

C. KẾT LUẬN: 

Sỡ dĩ chúng sinh chịu được các đều khổ năo, nguyên nhân là do phiền năo gây tạo ra nghiệp Tập đế. Tập đế gồm có nhiều thứ phiền năo; nhưng có mười thứ căn bản phiền năo là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiếm, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến. 

Trong 10 món này, v́ căn cứ theo nhiều cái dễ phát sinh dễ trừ là năm món sử, th́ gọi là Ngũ lợi sữ; c̣n 5 món trước tánh nó ngấm ngầm phát sanh và khó đoạn trừ th́ gọi là Ngũ độn sử. 

Đứng về phương diên Tu chứng mà xét, th́ hành giả trong khi tu hành, chia 10 món phiền năo trên làm hai loại, để đoạn trừ trong thời kỳ sau đây: 

1. Những cái mê lầm khi thấy đạo (chân lư) mới đoạn được, th́ gọi là Kiến hoặc. 

2. Những cái mê lầm khi đến địa vị tu đạo mới đọan được th́ gọi là Tư hoặc. 

Về Kiến hoặc, ở cơi Dục giới có 32 món mê lầm, ở cơi sắc giới có 28 và Vô sắc giới cũng có 28, cộng lại thành 88 món mê lầm. Cái lầm ở cơi dục rất thô, đến cơi sắc và Vô sắc giới th́ vi tế hơn. Đoạn được 88 thứ Kiến hoặc trong ba cơi, th́ chứng đặng quả thánh thứ nhất trong bốn quả của Tiẻu thừa là Tu đà hoàn (Tàu dịch là Dự lưu). Đến qủa này, 81 phẩm tư hoặc của ba cơi vẫn chưa đoạn trừ. 

Về Tư hoặc th́ cơi Dục giới có 4: tham, sân, si man. Cơi sắc giới và vô sắc, mỗi cơi có ba (v́ trừ sân). Cộng chung lại là mười món Tư hoặc. V́ chúng có thô, vi tế không đồng nên phân ra có thượng, trung, hạ phẩm. Mỗi phẩm lại phân ra ba phẩm nữa là: Thượng, trung, hạ cộng thành 9 phẩm. 

Trong ba cơi có chia ra làm 9 địa mỗi địa có 9 phẩm Tư hoặc từ thô đến tế, công chung 9 địa thành ra 81 Tư hoặc (1)  

Chín phẩm Tư hoặc ở cơi Dục th́ rất thô, c̣n hai cơi trên lần vi tế. Các thứ phiền năo Tư hoặc vi tế dây, chiêu cảm với những khổ quả sanh tử, luân hồi trong ba cơi, Diệt được tất cả th́ chứng quả A la Hán. 
  

Phần Phụ Chú  
Tứ Đế là thuộc về giáo lư tiểu thừa. Trong khi nghiên cứu và trung thành với giáo lư này, chúng tôi chỉ kể chỉ có hai thứ hoặc và kiến hoặc và Tư hoặc. Nhưng theo giáo lư Đạị thừa th́ ngoài hai hoặc trên, có hai thứ hoặc khác nữa là Trần sa hoặc và Vô minh hoặc, nếu chứng quả vị Đại Thừa Bồ tát hay Phật, th́ phải đoạn trừ hai hoặc sau này  

Để có một ư niệm tổng quát về các thứ hoặc, chúng tôi xin được phụ chú dưới đây hai loại hoặc ấy:  

1. Trần sa hoặc: Trần sa hoặc là cái mê lầm như cát bụi. Cái mê lầm không phải của ḿnh, v́ khi chứng đươc quả A la Hán th́ cái mê lầm về phần Kiến Hoặc và Tư hoặc nơi cá nhân ḿnh đă hết. Cái chơn trí ở nơi tâm ḿnh đă sáng suốt rồi. Nhưng so với ḿnh, c̣n thấy cái mê lầm của chúng sinh nhiều như cát bụi, nên sanh tâm chán ngán, thối chí độ sanh, cứ trầm không thu tịch, thủ cảnh thiên không Niết Bàn của Tiểu Thừa, không chịu ra hóa đạo độ sanh (v́ c̣n pháp chấp, mê lầm thấy thật có pháp ḿnh tu, Niết Bàn ḿnh chứng). 

2. Vô minh hoặc: Vô minh là mê lầm, không rơ được bản chất chơn tâm. Thứ mê lầm này là góc của các thứ mê làm khác, nên gọi là bản vô minh. Nó rất vi tế, phá trừ trần sa hoặc rồi mới phá trừ được Vô minh hoặc. 

Cứ theo lối tu chứng của Đại Thừa mà luận, th́ phải trải qua 51 địa vị, mới phá hết dược các vô minh. khi măn địa vị Thập tín rồi bắt đầu lên thập trụ (10 vị) phá một phần vô minh th́ được một phần đức pháp tánh (3 đức: Pháp thân, báo thân, Giải thoát), chứng lên vị sơ trụ. Như thế cứ phá thêm một phần vô minh là chứng lên một địa vị; cho đến phá được 10 phần th́ phá đước Thập trụ. Bước qua Thập hạnh (10 vị), Thập hồi hướng (10 vị) và thập địa (10 vị ) cũng thế, nghĩa là phá một phần vô minh th́ chứng lên một địa vị. Cho đến địa vị thứ 51; là Đẳng giác, dùng trí kim cương phá sạch hết tướng vô minh rất tinh tế rồi, th́ chứng được địa vị thứ 52 là quả Diệu giác (Phật). Lúc bấy giờ vô minh diệt hết trí giác thế gian toàn minh, cũng như trăng rằm Trung thu, bao nhiêu mây mờ vẹt hết, tỏa ánh sáng khắp mười phương. 

Chúng ta nên lưu ư: Kiến hoặc, Tư hoặc là chiêu cảm phần đoạn sanh tử trong ba cơi. Đoạn Kiến hoặc. Tư hoặc th́ không thọ phần sanh tử ra ngoài tam giới, được thiên lư chơn, chúng nhị thừa: Thanh văn, Duyên giác. Đoạn Trần sa hoặc chứng quyền thừ Bồ tát. Đoạn sạch vô minh chứng quả Phật vô thuợng. Xét như thế th́ từ khi phát tâm tu hành cho đến thành Phật, phải trải qua một công tŕnh lớn lao và một thời gian lâu xa mới được. 

(1) Sở dĩ gọi là phẩm mà không gọi là món, loại hay thứ là v́ trong mỗi mê lầm ấy, không khác chất, chỉ khác phẩm lượng mà thôi, nghĩa là nó đậm hay nhạt, mạnh hay yếu mà thôi

Trở Lên

Bài Thứ 5 
Diệt Đế (Nirodha Dukkha)

 

A. Mở Đề 

Sau Khi nói về phương diện khổ đau xong, Đức Phật nói về phương diện an lạc.  

Sau khi giải bày đầy đủ hiện tượng nhân quả về phần nhiễm, về phương diện đau khổ xong, đức Phật liền thuyết minh các hiện tượng nhân quả về phần tịnh, về phương diện An lạc. Nói một cách khác sau khi dạy xong Khổ đế và tập đế, đức Phật liền dạy Diệt đế và đạo đế. Có người chỉ thấy hai phần đầu của Tứ đế là khổ và Tập, nên đă tưỡng Phật là đạo yếm thế, bi quan. Họ cho rằng Phật giáo gieo vào ḷng người sự chán đời là kẻ thấy cuộc đời xấu xa, đau khổ, mà không t́m ra phương pháp để giải thoát ra khói cảnh ấy, mà chỉ buông xuôi tay ngồi nh́n và khóc than, sầu khổ. Đạo Phật không làm như thế. Đạo Phật tŕnh bày cho mọi người nh́n thấy cái hiện tại đen tối của ḿnh, cái hoàn cảnh xấu xa, có nhiề sự khuyết điểm, để cải đổi nó, kiến tạo lại một cuộc sống đẹp đẽ, an vui hơn. Một giáo lư như thế, không thể gọi là yếm thế, bi quan được mà chính là yêu đời, lạc quan, v́ c̣n tin tưởng ở khả năng kiến tạo của ḿnh và chúng sinh. Cảnh giới mà Đức Phật tŕnh bày cho chúng ta thấy ở đầy là một cảnh giới hoàn toàn trái ngược với cảnh giới tối tăm, sầu khổ, đớn đau mà chúng ta đang sống. Cảnh giới ấy là cảnh giới huy hoàng, an lạc, mà chỉ những người diệt tục, hết mê mới đạt được. 

Cảnh giới ấy, chúng ta sẽ nghe đức Phật tŕnh bày trong phần diệt đế sau đây:

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Sao gọi là Diệt đế? 

Diệt là tiêu diệt, trừ diệt. Diệt ở đây tức là diệt dục vọng mê mờ, phiền năo. Đế là lỹ lẽ chắc thật, đúng đắn do trí tuệ sáng suốt soi thấu và thuyết minh. Diệt đế, chữ Pali gọi là "Nirodha Dukkha" tức là sự thật đúng đắn, mà đức Phật đă thuyết minh về hoàn cảnh tốt đẹp mà mọi người có thể đạt được khi đă diệt hết mọi phiền năo, mê mờ. Phiền năo, mê mờ là nguyên nhân của đau khổ, như chúng ta đă nghe Phật thuyết trong Tập đế. 

Khổ là quả, mà tập là nhân. Diệt khổ mà chỉ diệt cái quả th́ không bao giờ hết khổ được. Muốn diệt khổ tận gốc, th́ phải diệt cái nhân của nó, như muốn nhổ cái thân cây, th́ phải cắt cho hết cái rễ ăn sâu trong ḷng đất. 

Trong khi nhân quả, Phật dạy rằng: "Các ông phải biết, ví Tập nhân phiền năo mới có quả khổ sanh tử, vậy các ông phải dứt trừ phiền năo tập nhân. Khi đă dứt trừ rồi, lại thường thương nắm chắc chổ dứt trừ cho chắn chắc, không khi nào nới bỏ. Đến khi chứng được đạo Niết Bàn, th́ phải tất nhiên tập nhân phiền năo phải diệt hết, mà khổ luân hồi cũng không c̣n". 

Thế cho biết, muốn giải thoát tất phải tu hành. Mà tu hành là ǵ? 

Là diệt trừ tập nhân phiền năo vậy. Diệt trừ phần nào tập nhân là đă bước đến hết gần giải thoát chừng ấy, như một cái phao càng bớt dần chừng nào vật nặng d́m nó xuống, th́ nó lại nổi dần lên mặt nước chừng ấy vậy.

 

II. Thứ Lớp Đoạn Hoặc (mê lầm) 

Như chúng ta đă biết trong bài tập đế, tập nhân phiền năo rất phức tạp, có thứ mong manh, cạn cợt, có thứ in sâu vào tâm thức từ lâu đời lâu kiếp rất khó dứt trừ. Do tính chất cạn sâu của các thứ phiền năo ấy, nên đoạn trừ cũng phải tuần tự, theo thứ lớp. 

Có hai lớp đoạn hoặc chính là: 

1. Kiến đạo sở đoạn hoặc: Những mê lầm nầy, khi thấy chánh đạo mới đoạn được. Đây là sự dứt trừ những sai lầm về phần lư trí. Những phiền năo nầy thuộc loại cạn cợt gây ra bởi sự gần gũi tà sư, sự tuyên truyền ta, vạy của sách vở, cùng những người tri kiến không chân chánh. Nếu gặp được Minh sư, thấy được chân lư, th́ liền đoạn hết. V́ thế sự dứt trừ những phiên năo nầy, gọi là "Kiến đạo sở đoạn hoặc". 

2. Tu đạo sở đoạn hoặc: Những mê lầm nầy, khi tu đạo mới đoạn được. Đây là sự đoạn trừ những phiền năo, sâu kín, đă đâm sâu gốc rễ trong tâm thức, biến thành thói quen, như sự chấp ngă, sự say đắm nhục dục, tham, giận, kiêu căng v.v...Đối với những thứ phiền năo nầy, phải cần nhiều công phu tu hành dẻo dai, chắc chắn mới có thể đoạn trừ được. Do đó, mới gọi là "Tu đạo sở đoạn hoặc".

 

III. Các Tầng Bậc Tu Chứng 

Đoạn trên đă nói tổng quát về hai loại đoạn diệt phiền năo cho dễ phân biệt và dễ hiểu. Đến đây, để có một ư niệm rơ ràng về các tầng bậc tu chứng mà một hành giả cần phải trải qua, chúng ta hăy tuần tự điểm qua các quả vị từ thấp đến cao. 

 

1. Tứ gia hạnh: Muốn đoạn trừ kiến hoặc, trước tiên người tu hành phải rời xa các tà thuyết, xoay tâm ư, tư tưởng dần vào chân lư: vô thường, vô ngă, bất tịnh, tứ đế, để nhận chân được các tánh cách vô thường, vô ngă, bất tịnh, không thật v.v...của cuộc đời. Nhờ sự gần gũi với chân lư như thế, nên những điều thấy biết sai lầm điên đảo sẽ tan hết và 88 món kiến hoặc cũng không c̣n. Tuy nhiên, không phải chỉ trong một lúc mà đoan được tất cả kiến hoặc; trái lại, phải cần nhiều thời giờ, công phu tu tập. Từ những tư tưởng, thành kiến mê lầm của phàm phu mà đến Thánh trí để dự vào ḷng Thánh quả, người tu hành phải tu bốn gia hạnh sau đây: 

a) Noản vị: Noản là hơi nóng; vị là địa vị. Người xưa, khi muốn lấy lửa, họ dùng hai thanh củi tre cọ sát vào nhau; trước khi lửa sắp bật lên, phải qua giai đoạn phát ra hơi nóng. Người tu hành muốn có lửa trí tuệ, cũng phải trải qua giai đoạn hơi nóng. Tất nhiên hơi nóng lửa trí tuệ chưa đốt cháy được củi phiền năo, nhưng không thể không qua giai đoạn nầy được. Đó là giai đoạn "Noản vị". 

b) Đảnh vị: Đảnh là chóp cao. Qua khỏi giai đoạn Noản vị, người tu hành tiếp tục tiến bước và lên được trên chóp đỉnh núi mê lầm. Đứng ở địa vị nầy, toàn thân hành giả được tắm trong khoảng không gian rộng răi vô biên, nhưng chân chưa rời khỏi chóp núi mê lầm. 

c) Nhẫn vị: Nhẫn là nhẫn nhịn, chịu đựng. Người biết nhịn, luôn luôn vẫn yên lặng sáng suốt trước sự khuấy phá của đối phương. Người tu hành lên đến bậc này, trí giác ngộ đă gần sáng tỏ, thân tâm vẫn giữ được mực yên lặng trong sáng, mặc dù các pháp có lăng xăng và ẩn hiện. 

d) Thế hệ nhất vị: Bậc nầy cao quí nhất trong đời. Tu đến bậc này là một công phu rất to tát, gần giải thoát ra ngoài ṿng Dục giới, như con diều giấy bay liệng giữa không trung, tự do qua lại, không c̣n bị cái ǵ làm ngăn ngại, ngoài sợi giây gai nhỏ. Nếu bứt sợi gai kia là diều bay luôn. Cũng như thế, người tu hành phá hết phần kiến hoặc nhỏ nhít sau cùng là được giải thoát luôn. 

Tóm lại, người tu hành thường xuyên qua bốn món gia hạnh nầy, tức là phá được cái lầm về tri kiến hay kiến hoặc, cái lầm của Phi phi tưởng mà chứng đặng quả Tu đà hoàn là quả vị đầu tiên trong Thanh văn thừa.

 

2. Tu đà hoàn: Tàu dịch là Dư lưu quả (dự vào ḍng Thánh). Ở quả vị này, ư thức đă sáng suốt, không c̣n bị mê lầm nữa, song thất thức c̣n chấp ngă, nên phải trở lại trong cơi Dục, nhiều nhất là bảy phen sanh tử nữa, mới gọt sạch các kiết sử phiền năo thầm kín, nằm nép trong tâm thức, và chứng quả A La Hán.

 

3. Tư đà hàm: Tàu dịch là Nhất lai, nghĩa là một phen sanh lại cơi Dục để tu hành và dứt cho sạch phần mê lầm ở cơi Dục, mới tiến đến bực A La Hán. Trên kia, quả tu đà hoàn chỉ là kết quả của công phu tu hành đoạn được kiến hoặc, chứ chưa đá động đến tư hoặc. Sau khi chứng quả Thánh đầu tiên rồi, phải tu nữa để đoạn trừ tư hoặc, mới chứng được bậc nầy. Tuy nhiên, ở cơi Dục có chín phẩm tư hoặc, mà vị này chỉ mới đoạn có 6 phẩm, c̣n 3 phẩm nữa chưa đoạn. Nghĩa là mới đoạn sáu phẩm thô thiển bên ngoài, c̣n ba phẩm sâu kín bên trong chưa đoạn. V́ thế, phải trở lại một phen để đoạn cho hết ba phần sau, mới bước lên Thánh quả thứ ba là A na hàm được.

 

4. A na hàm: Tàu dịch là Bất lai (nghĩa là không trở lại cơi Dục nữa). Khi c̣n mê lầm của cơi Dục lôi kéo, mới sanh vào cơi Dục. Đến địa vị A na hàm nầy những mê lầm ấy không c̣n nữa, nên không bị tái sanh ở đấy nữa, trừ trường hợp phát nguyện trở lại cơi nầy để độ sanh. Vị nầy ở cơi Trời Ngũ tịnh cư thuộc Sắc giới, cũng gọi là Ngũ bất hoàn thiên hay Ngũ na hàm. Vị nầy đă cách xa chúng ta như trời vực, đă thoát ra ngoài cơi Dục. Tuy thế, họ vẫn c̣n mang trong ḿnh những mê lầm vi tế cu sanh của hai cơi Sắc và Vô sắc. V́ vậy, ở Ngũ tịnh cư thiên, họ phải tu luyện để dứt cho hết vi tế hoặc, mới bước lên Thánh quả A La Hán (Tư hoặc gồm có 9 phẩm. Từ đà hàm quả đoạn sáu hoặc, A na hàm quả đoạn thêm ba hoặc; đến A La Hán quả là đoạn hết).

 

5. A La Hán: Đây là quả vị cao nhất, trong Thanh Văn Thừa. Tàu dịch có ba nghĩa: 

a) Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí huệ hơn cả, đáng làm nơi phước điền cho chúng sinh cúng dường. 

b) Phá ác. Vị nầy đă phá tan những nhiền năo tội ác, không c̣n bị chúng khuấy phá sai sử trói buộc nữa. 

c) Vô sanh. Vị nầy không c̣n lo xoay vần trong sanh tử luân hồi nữa, v́ đă phá trừ được phiền năo là yếu tố của sanh tử luân hồi. 

Trong ba nghĩa nầy, Vô sanh là nghĩa quan trọng hơn hết, nên đă được nêu lên trong chữ A La Hán. Vị nầy không những đă phá hết mê hoặc nông cạn, mà chính ngay chủng tử mê lầm thầm kín cũng đă dứt sạch. Cho đến chủng tử chấp ngă là nguồn gốc phiền năo, nguồn gốc luân hồi, cũng bị dẹp lại một bên, không c̣n bóng dáng ra vào trong A lại da thức nữa. 

Tánh cách của ḷng ngă chấp là khiến chúng sanh luôn luôn cố chấp bản thân nhỏ hẹp, tạo thành ranh giới giữa ḿnh và người, ḿnh và sự vật, để rồi gây nên vô lượng tội nghiệp và chịu vô lượg khổ báo. Một tánh cách nguy hại của ḷng ngă chấp nữa là thường làm cho chúng sanh không tỏ ngộ, không thể chấp được cái tánh "đồng nhất, không mất" của vạn sự vạn vật. Do đó, chúng sanh phải chịu lắm nỗi thăng trầm với xác thân bé nhỏ của ḿnh. 

Vị A La Hán, do sự cố công bền chí, đă diệt được ḷng chấp ngă ấy, nên không bị sống chết khổ đau, lo buồn sợ hăi chi phối. Như đồ đệ của ả Phù dung, một khi đă bỏ được bệnh nghiền th́ không c̣n ra vào nơi tiệm hút làm bạn với bàn đèn ống khói nữa. A La Hán là vị đă đoạn được cái sai lầm của cơi trời Phi phi tưởng, nên không c̣n vương vấn với các cơi trời ấy nữa. 

Song quả A La Hán cũng chia làm hai bực, tùy theo căn cơ lanh lợi hoặc chậm lụt của các vị ấy. 

a) Bất hồi tâm độn A La Hán: là vị A La Hán trầm không trệ tịch, tự thỏa chí vào địa vị đă chứng, chứ không phát tâm xoay về Đại Thừa. 

b) Hồi tâm đại A La Hán: là vị A La Hán lợi căn lợi trí, phát tâm xoay về Đại Thừa rộng lớn chứ không tự măn ở địa vị đă chứng. 

 

IV. Giá Trị Diệu Dụng Của 4 Cơi Thánh 

Bốn quả thánh của Thanh văn trên đây, đều là những kết quả giải thoát hiển nhiên của công phu tu tập. Không cứ căn cơ nào đều có thể ở ngay trong cảnh giới của ḿnh (kinh gọi là tự địa, tự giới), mà tu tập để đạt đến bốn quả vị ấy. Hễ đoạn trừ mê lầm được chứng nào th́ chứng quả đến chứng ấy, chứ không phải chờ sanh qua thế gian khác mới chứng quả kia đâu. 

Khi chứng đến quả Tu đà hoàn th́ gọi "Kiến đạo sở đoạn". Ở đây, ư thức đă tương ứng với Huệ tâm sở, sáng suốt, trực nhận đạo lư một cách rơ ràng. C̣n các vị sau, thuộc về "Tu đạo sở đoạn", nghĩa là sau khi đă gội rửa các chủng tử mê lầm (tư hoăc) của A lại da thức mới chứng được. Do sự dứt trừ phiền năo sâu hay cạn đó, mà diệu dụng của mỗi quả vị khác nhau. 

Ở địa vị "Kiến đạo sở đoạn" là thành tựu được năm phép thần thông (công dụng tự tại không bị chướng ngại). 

a) Thiên nhăn thông: Nhăn lực soi thấy khắp muôn loài cùng sự sanh hóa trong thế gian bao la hiện tại. 

b) Thiên nhĩ thông: Nhĩ lực nghe khắp mọi nơi, đủ các tiếng tăm đồng loại và dị loại. 

c) Tha tâm thông: Tâm lực biết được tâm niệm, sở cầu của kẻ khác. 

d) Túc mạng thông: Trí lực hay biết các kiếp trước của ḿnh. 

đ) Thần túc thông: Có hai nghĩa: một là được thần thông tự tại như ư muốn, hai là trong giây lát muốn đi đâu liền được như ư muốn, không bị sự vật hữu h́nh làm chướng ngại. 

Năm phép thần thông nầy, tuy có đặc biệt hơn nhân loại nhiều, song chưa phải là điểm quan trọng của người tu hành cầu giải thoát. Điểm quan trọng nhất của người tu giải thoát là "Lậu tận thông". Lậu tận thông là được trí tuệ thông suốt cả ba đời, không c̣n bị các phiền năo hữu lậu làm ngăn ngại, nghĩa là giải thoát sanh tử. Chỉ những vị A La Hán mới được qủa nầy. 

Trở Lên

Bài Thứ 6 
Diệt Đế (Nirodha Dukkha)
(tiếp theo)

 

V. Diệt Đế Tức Là Niết bàn  

Kinh Niết Bàn dạy: "Các phiền năo diệt gọi là Niết Bàn, xa ĺa các pháp hữu vi cũng gọi là Niết Bàn". 

Như các đoạn trước của bài nầy đă nói, đến bốn quả Thánh th́ phiền năo nông cạn và sâu kín đă tuần tự bị tiêu diệt. Vậy chứng được bốn quả Thánh ấy, tức là đă chứng được Niết Bàn. Nói một cách khác, Diệt đế tức là Niết Bàn. 

Niết Bàn hay Niết Bàn na hay Nê hoàn là do dịch âm chữ Phạn Nirvana mà ra. Niết Bàn có nhiều nghĩa như sau: 

Niết (Nir) là ra khỏi; Bàn (vana) là rừng mê, Niết Bàn là khỏi rừng mê. 

Niết là chẳng; Bàn là dệt. C̣n phiền năo th́ c̣n dệt ra sanh tử, không phiền năo th́ không c̣n dệt ra sanh tử. Vậy Niết Bàn là không dệt ra sanh tử luân hồi. 

Chữ Bàn cũng có nghĩa là không ngăn ngại. Niết Bàn c̣n có nhiêu nghĩa khác nữa, song tóm lại không ngoài ba nghĩa: Bất sanh, giải thoát, tịch diệt. 

Bất sanh, nghĩa là không sanh ra, không sanh các thứ mê lầm tội lỗi. 

Giải thoát, nghĩa là thoát ra ngoài sự ràng buộc, không mắc vào các huyễn ngă, huyễn pháp. 

Tịch diệt, nghĩa là vắng lặng, dứt sạch. Vắng lặng, an lành, dứt sạch tất cả ngụn gốc mê lầm. 

V́ lẽ Niết Bàn có nhiều nghĩa như thế, nên trong kinh thường để nguyên âm mà không dịch nghĩa. 

Theo định nghĩa của chữ Niết Bàn nầy, th́ bốn quả vị trên kia đều gọi Niết Bàn cả. Song v́ đă hoàn toán hay chưa hoàn toàn mà chia ra làm hai thứ: 

1. Hữu dư y Niết Bàn: (Niết Bàn chưa hoàn toàn). Từ quả vị thứ nhất Tu đà hoàn đến quả vị thứ ba A na hàm, tuy đă đoạn trừ tập nhân phiền năo, những chưa tuyệt diệt, tuy đă vắng lặng an vui, nhưng chưa viên măn, tuy an vui chưa hoàn toán, v́ phiền năo và báo thân phiền năo c̣n sót lại, nên gọi là Niết Bàn hữu dư y. V́ phiền năo c̣n sót lại nên phải chịu quả báo sanh tử trong năm bảy đời; song ngă chấp đă phục, nên ở trong sanh tử mà vẫn được tự tại, chứ không bị ràng buộc như chúng sinh. 

2. Vô dư y Niết Bàn: (Niết Bàn hoàn toàn). Đến quả vị A La Hán, đă đoạn hết phiền năo, diệt hết câu sanh ngă chấp, nên hoàn toán giải thoát cả khổ nhân lẫn khổ quả. Sự sanh tử không c̣n buộc ràng vị nầy được nữa, nên gọi là Niết Bàn vô dư y. Đây là quả vị cao tột của hàng Thanh văn. Đến đây ngọn lửa dục vọng đă hoàn toàn tắt hết, và trí vô ngại hiện ra một cách đầy đủ, không khi nào c̣n trở lại tâm khởi chấp ngă nữa. V́ thế, nên được tự tại giải thoát ngoài ṿng ba cơi: Dục, Sắc, và Vô sắc giới.

 

VI. Niết Bàn Của Đại Thừa Giáo 

Phật Giáo gồm có Tiểu Thừa và Đại Thừa mà Niết Bàn là danh từ chung cho cả hai thừa ấy. Trên đây đă nói đến Diệt đế, hay Niết Bàn của Tiểu Thừa, nhưng chưa nói đến Niết Bàn của Đại Thừa. Vậy nói đến Niết Bàn, th́ cũng nên mở rộng phạm vi, nói luôn cả Niết Bàn của Đại Thừa để độc giả có một quan niệm đầy đủ về hai chữ Niết Bàn. 

Nói như thế, không có nghĩa là Niết Bàn của Tiểu Thừa và Đại Thừa là hai loại hoàn toàn khác nhau về tính chất. Nếu có khác, th́ chỉ khác về phạm vi rộng hẹp, rốt ráo hay chưa rốt ráo mà thôi; nghĩa là Niết Bàn của Đại Thừa rộng răi hơn có thể gồm că Niết Bàn của Tiểu Thừa, mà Niết Bàn của Tiểu Thừa không thể gồm că Niết Bàn của Đại Thừa. Các thánh giả Nhị thừa (Tiểu Thừa) tuy đă đoạn hết phiền năo, nhưng tập khí vẫn c̣n, công đức trí tuệ chưa viên măn nên Niết Bàn mà họ chứng, dù là Niết Bàn của hàng A La Hán đi nữa, đối với Đại Thừa cũng chưa hoàn toàn, nghĩa là c̣n là Hữu dư y Niết Bàn. Chỉ có Niết Bàn của chư Phật mới được gọi là Vô dư y Niết Bàn. 

Ngoài cái nghĩa rộng hẹp trên, Niết Bàn của Đại Thừa đại khái có hai loại: 

1. Vô trụ xư Niết Bàn: Đây là Niết Bàn của các vị Bồ Tát. Các A La Hán, do tu nhân giải thoát mà chứng được quả giải thoát; nhưng chưa biết nguồn gốc của nhân quả, c̣n chấp có thực pháp phải tu, quả vị phải chứng, nên chưa được hoàn toàn tự tại. Các vị Bồ Tát th́ trái lại, đă hiểu rơ "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức", pháp tánh b́nh đẳng như như; không thấy một pháp ǵ cố định, một vật ǵ chắc thật, biệt lập chỉ thấy chúng là những h́nh ảnh giả dối, do đối đăi với thức tâm, tạo thành bởi thức tâm. Các vị Bồ Tát không có tâm địa đảo điển sai lầm, không gán cho sự vật một giá trị nhứt định, như tốt, xấu, khổ, vui, nên không sanh ra những thái độ oán, thân, bỉ, thử, ưa, ghét. hễ có tri kiến sai lầm đó, là bị chướng ngại khổ đau. Các vị ấy tu hành chứng theo sự tánh b́nh đẳng, đem tâm ḥa đồng cùng sự vật mà làm việc lợi tha. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chánh quán. Quán các phép như huyễn như hóa, không có thật sanh tử, không có thật Niết Bàn, không bao giờ trụ trước (vô trụ). Do đó, Bồ Tát thường ra vào sanh tử lấy pháp lục độ để độ sanh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại. 

2. Tánh tịnh Niết Bàn: Đây là một thứ Niết Bàn tự tánh thường vắng lặng mà thườg sáng suốt, thường sáng suốt mà thường vắng lặng ra ngoài tâm lượng hẹp ḥi của phàm phu và trí thức hữu hạn của Nhị thừa, ngoại đạo. Nó thường bộc lộ sáng suốt nơi chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi mọi loài chúng sinh. Trong kinh có khi gọi đó là Phật tánh, là chơn tâm, là Như lai tạng v.v... 

Nếu chúng sinh tự tin ḿnh có tánh Niết Bàn thanh tịnh, và khởi tâm tu hành theo tự tánh ấy, tức có thể thành Phật không sai. 

Mạng tự tánh Niết Bàn mà để cho phiền năo cấu trần che lấp, th́ làm chúng sanh trầm luân trong bể khổ. 

Trái lại, ngộ tự tánh Niết Bàn mà hết vọng tưởng mê lầm là thành Phật, và có đầy đủ bốn đức: thường, lạc, ngă, tịnh. "Thường" nghĩa là không bị chi phối bởi tánh vô thường, khi nào cũng như khi nào, không lên bổng xuống trầm không có già trẻ, chết sống, đổi thay. "Lạc" nghĩa là không c̣n khổ năo, lo buồn. "Ngă" là được hoàn toàn tự chủ, không bị nội tâm hay ngoại cảnh chi phối. "Tịnh" là không c̣n ô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta đừng lầm tưởng tánh "Chơn thường" nầy với điều thường hằng của thế gian; tánh "Chơn lạc" với sự vui thích tương đối là sự vui thích c̣n che đậy mầm mống đau khổ bên trong; tánh "Chơn ngă" với sự tự chủ trong nhất thời, tự chủ ngày nay bị động ngày mai; tánh "Chơn tịnh" với sự trong sạch tương đối ở thế gian, sự trong sạch vật chất, sự tướng bên ngoài, chứ bên trong vẫn c̣n nhiễm ô. 

V́ tính cách quí trọng, cao cả tuyệt đối của bốn đức; Thường, Lạc, Ngă, Tịnh nên Tánh tịnh Niết Bàn là thứ Niết Bàn cao quí tột đỉnh của đạo Phật, và người Phật tử Đại Thừa trong khi tu hành, đều phát nguyện rộng lớn quyết tâm chứng được thứ Niết Bàn ấy mới thôi.

 

VII. Biện Minh Về Niết Bàn 

Tánh cách của Niết Bàn quá rộng răi, cảnh giới của Niết Bàn quá cao thâm, nên hay gây ra nhiều sự hiểu lầm cho các căn cơ thiển bạc, mà tập quán, thành kiến, hoàn cảnh hằng ngày làm chủ trí thức. Người đời hay lấy tâm lượng hẹp ḥi của ḿnh để h́nh dung Niết Bàn, và đă h́nh dung một cách sai lạ, nên cuối cùng họ kết luận rằng: cứu cánh của đạo Phật là một sự không tưởng. Câu chuyện ngụ ngôn sau đây chứng minh một cách hùng hồn tâm trạng ấy:  

Ngày xưa có một con cá, v́ nó là loài ở nước, nên dĩ nhiên cuộc đời chỉ sống trong nước, và ngoài nước ra không biết ǵ hết. 

Một hôm nó đang nhởn nhơ bơi lội trong hồ, t́nh cờ gặp một con rùa, mà nó đă quen từ trước, đi du lịch trên đất liền về. Nó liền chào: 

Chào anh ! Đă từ lâu tôi không gặp anh. Vậy xưa rày anh ở đâu? 

Ồ ! Tôi đi du lịch từ trên đất liền về. Trên ấy, mặt đất khô ráo quá ! 

Đất khô ! Anh nói cái ǵ lạ vậy? Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào kỳ lạ như vậy. Lẽ nào lại có đất khô? 

Xin thề rằng tôi không nói đùa với anh đâu. Nhưng nếu quả t́nh anh không thể tin được th́ tùy anh, không ai ngăn cản được anh; nhưng dù sao, tôi cũng mới từ đó về. 

Này anh, anh hăy cố gắng diễn đạt cho hợp lư hơn. Tôi nghi rằng cách diễn đạt của anh chưa được rơ ràng lắm. Anh vui ḷng cho tôi biết đất mà anh nói đó có giống như cái ǵ trong thế gian của chúng ta ở đây? Nó có ẩm ướt không? 

Không ! Nó không ẩm ướt. 

Thế nó có mát dịu và lạnh không? 

Nó không mát, không dịu mà cũng chẳng lạnh. 

Thế nó có trong suốt để cho ánh sáng xuyên qua được không? 

Không, nó không trong suốt và ánh sáng không thể xuyên qua được. 

Thế nó có mềm và dễ bị ép để cho tôi có thể quậy vi và đi lại dễ dàng trong ấy không? 

Không, nó không mềm, không bị dồn ép dễ dàng và trong ấy, anh cũng không thể bơi lội được. 

Thế nó có lưu động và đổ thành thác được không? 

Không, nó không lưu động và cũng không đổ thành thác được. 

Vậy th́ nó có dâng lên để tạo thành những mũi sóng bạc đầu được không? 

Không, tôi chưa bao giờ thấy nó dâng thành làn sóng cả. 

Đến đây, con cá vênh váo tự đắc than rằng: 

Tôi đă từng nói với anh rằng: đất mà anh nói đó là không phải cái ǵ cả. Tôi cũng vừa hỏi anh về đất ấy và với câu hỏi nào anh cũng trả lời rằng không. Đất anh nói đă là không phải bất cứ cái ǵ tôi nêu ra, vậy th́ đất hẳn là ngoan không. Anh đừng t́m cách bịp tôi nữa. 

Tốt ! Anh đă quả quyết rằng không có đất liền. Tôi cũng không có cách nào hơn là cứ để anh tiếp tục tin như anh đă nghĩ. Nhưng một mai, có ai khác hơn tôi và đủ sức phân biệt cho anh thấy sự sai khác giữa đất và nước, ngày ấy anh sẽ thấy rằng anh chỉ là một con cá ngốc. 

Tâm trạng của con cá này là tâm trạng của một số người thường dựa vào sự hiểu biết nông cạn của ḿnh, để quan niệm Niết Bàn. Có người nghĩ rằng Niết Bàn là một trạng thái hư vô tịch diệt luôn; có người nghĩ Niết Bàn là cảnh Thiên đường như của ngoại đạo; có người lại bảo nếu Niết Bàn không phải là hư vô tich diệt mà cũng không phải là Thiên đường, th́ Niết Bàn là một không tưởng. 

Niết Bàn không thể là một trạng thái hư vô tich diệt được. Tam tạng giáo điển chưa bao giờ nói đến cảnh giới hư vô ấy. Sự hiểu lầm Niết Bàn với hư vô là con đẻ của sự nghiên cứu thô thiển, nông cạn qua các định nghĩa của Niết Bàn. Nghe nói Niết Bàn tức là "Diệt", người ta vội tưởng ngay "Diệt" nghĩa là hoại diệt không có ǵ tồn tại cả. Người ta không ngờ rằng "Diệt" ở đây, có nghĩa là diệt nguồn góc đau khổ, phiền năo, mê lầm. mà khi đau khổ diệt th́ an vui tất phát sinh, mê lầm diệt th́ sáng suốt tất tỏ lộ. 

Như trên đă tŕnh bày, Niết Bàn có đủ diệu dụng: Thường, Lạc, Ngă, Tịnh th́ sao gọi là hư vô được? 

Niết Bàn của Phật cũng không phải là một cảnh thiên đường như người đời và các ngoại đạo thường ca tụng. Nguyên nhân của sự hiểu lầm này là do tập quán xem Phật Giáo cũng như các "thần đạo" khác. Trước khi Phật giáng thế, trong kinh Vệ đà (véda) của ngoại đạo ở Ấn độ, cũng từng dùng danh từ Niết Bàn với nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo tŕnh độ hiểu biết cao thấp của họ. Có đạo cho chết rồi mất hẳn là Niết Bàn; có đạo cho cơi trời của Dục giới là Niết Bàn; có đạo cho chứng được tánh không tham ái ở cơi Sơ thiền là Niết Bàn; có đạo cho các định cảnh Không vô biên xứ; Phi phi tưởng xứ ở cơi trời Vô sắc là Niết Bàn. 

Nhưng, với đạo Phật những nơi ấy c̣n ở trong ṿng tam giới luân hồi. Bởi ở đó chưa diệt được hết ḷng chấp ngă, chấp pháp, c̣n sống chết theo vọng tưởng sanh diệt, chứ chưa được rốt ráo như Niết Bàn của Phật. Nói một cách tốm tắt dễ hiểu, Niết Bàn của đạo Phật là sự thể nhập vào bản thể sáng suốt, thanh tịnh, đầy đủ các đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. bản thể ấy không phải chết lặng mà là sống động, có dầy đủ công năng, một sự sống động vắng lặng, mà kinh thường gọi là "vắng thường soi, soi mà thường vắng" (tịch nhi thường chiếu, chiếu nhi thường tịch). 

Một học giả tây phương rất thông hiểu về đạo học Đông phương. Ông Ram Linsen đă viết trong quyển Le Destin du 20 siècle (vận mệnh của thế kỷ hai mươi) như sau về Niết Bàn: "Niết Bàn không phải tịch nhiên bất động, cũng không phải là cái trống không, là cái chết mất vô tông vô tích. Niết Bàn là sự thực chứng cái bản thể của vũ trụ. Không thực chứng được cái bản thể đó là người c̣n thiếu sót, là sống một đời sống mất quân b́nh giữa xác thịt và tâm linh. Niết Bàn không phải là ngoài cái động. và chính Niết Bàn mới là nguồn gốc của những việc làm chân chính. Đây là một sự thật, nhất là đối với Đại Thừa Phật Giáo". 

Như thế, Niết Bàn không phải là một lối không tưởng, viễn vong không thực hiện được. Miễn là tự tin ḿnh có tánh Niết Bàn và cố gắng tập sống theo tự tánh ấy, th́ Niết Bàn là một kết quả rất thiết thực. Mê muội không tự tin ḿnh có tánh Niết Bàn là làm phát triển tánh ấy là Thánh giả. Để cho phiền năo tham, sân, si vô minh chấp ngă làm chủ, là luân hồi. Gạn lọc cấu bẩn phiền năo vô minh nơi tâm thức cho hết sạch, như gạn bỏ bùn nhơ nơi nước, cho đến khi ly nước hoàn toán trong suốt, ấy là Niết Bàn hiển hiện.

 

VIII. Một Mẫu Chuyện Về Niết Bàn 

Để chứng minh tánh cách triền phược của phiền năo và giải thoát của Niết Bàn trên đây, trong kinh Samitha Nikaya (Tạp A Hàm) Phật kể một mẫu chuyện như sau: 

"Có một tên trộn bị người ta bắt được đem nạp cho nhà vua. Muốn giam giữ nó, nhà vua ra lệnh dở nắp rương thả ra bốn con rắn độc. Con thứ nhất quấn lất tay mặt tội nhân; con thứ hai quấn lấy tay trái tội nhân; con thứ ba quấn lấy ngang hông và con thứ tư quấn quanh cổ nó. 

Một người đức hạnh đến gần tội nhân, thấy rơ t́nh cảnh, liền nói rằng: Người đă bị người ta giữ ǵn cẩn thận, vậy hăy đứng yên, chớ nên cựa quậy mà bị rắn cắn. Nọc con rắn thứ nhất sẽ là cho thân người cứng đơ như đá; nọc con rắn thứ hai làm cho thân người tiêu ra như nước; nọc rắn thứ ba làm cho thân người tan ra như bột và bị gió cuốn đi; nọc con rắn thứ tư sẽ đốt người cháy như ngọn lửa. 

Tên trộm trả lời: 

Không phải ! Những con rắn ấy đều là đồ trang sức của tôi. Đây là đôi ṿng của tôi, đây là sợi dây chuyển cổ và đây là sợi dâylưng. 

Người đức hạnh lại dạy nó từ từ giữ bốn con rắn ấy, đem bỏ vào trong rương, đạy nắp lại, rồi mau mau chạy trốn. 

Nó làm theo. 

Hay tin, nhà vua liền truyền lệnh cho năm trên lính đuổi theo bắt tên trộm. 

Nó ráng chạy được một đổi, lại gặp người đức hạnh khi năy hô to: 

Người hăy chạy thật mau lên ! Có năm tên lính đang đuổi theo sau lưng ḱa ! Chúng lại thả ra bốn con rắn độc để rượt bắt người đấy. Khi đă đuối sức, tên trộm liền dừng chân lại, và thấy phía trước có sáu cái nhà bỏ trống, và bị sáu tên cướp vào vét sạch của cải. 

Sáu tên cướp lại nhập đoàn với năm tên lính để đuổi bắt nó. 

Người đức hạnh lại hô to lên nữa: 

Người ráng chạy mau lên ! Bọn cướp và lính nhà vua sắp đến nơi. Chúng lại bắt thêm một người bạn thân của người để dụ người trở về trị tội. 

Nhưng chạy được một đỗi, tội nhân lại gặp một cái biển ngay trước mặt, nên phải dừng chân lại. Nó hết sức lo âu, v́ tại đây không có ghe thuyền chi để thoát thân cả. 

Người đức hạnh dạy nó lấy tám cành cây khô, kết lại thành bè, để bơi đi trốn. 

Làm bè xong, nó bơi ra được một đỗi th́ gặp một ḥn cù lao. Nó định ghé lên, nhưng ḍm ngoái lại phía sau, thấy quân lính vẫn c̣n đuổi nà theo. Nó cố sức bơi đến một cù lao thứ nh́, rồi thứ ba và thứ tư. Nhân dân ở tại chỗ đó liền tôn nó lên làm vua. Lúc ấy, đoàn người đuổi theo sau nó đều bị tiêu diệt và nó không c̣n thấy h́nh bóng đâu nữa ! 

Nhà vua ám chỉ cái nghiệp; tên trộm, ám chỉ người đi t́m đạo; bốn con rắn độc, ám chỉ tứ đại; năm tên lính, ám chỉ ngũ uẩn; sáu cái nhà bỏ trống sau khi bị cướp, ám chỉ sáu căn; sáu tên cướp, ám chỉ sáu trần; tám cành cây kết lại thành bè, ám chỉ bát chánh đạo; bốn cù lao, ám chỉ bốn bực thiền định hay bốn quả Thánh; lễ tôn vương, ám chỉ sự giải thoát; sự tiêu diệt của đoàn người đuổi theo sau, ám chỉ sự tan biến của màn vô minh và sự bẻ gảy bánh xe luân hồi ". 

Mẫu chuyện trên nầy ngụ ư rằng: kẻ phàm phu bị màn vô minh che lấp, đắm mê theo vật dục, nhận khổ làm vui, nhận xấu là tốt, khác ǵ kẻ tội trộm nhận rắn độc làm đồ trang sức. Nếu nó không nhờ nhà tu hành đức hạnh hạy bảo, th́ đâu biết ḿnh đang bị rắn độc bao vây để chạy thoát, và đâu có gắng sức dẻo dai để bước lên bờ giải thoát. 

Chúng sinh khi c̣n mê lầm, gây nên tội lỗi, th́ giời phút nào cũng bị cầm tù trong đau khổ, bị trói buộc v́ nghiệp nhân. Nhưng đến khi bước lên bờ giải thoát, được tự tại th́ chẳng khác ǵ một vị chúa tể. 

Bốn cù lao mà tên trộm đến được trong câu chuyện này, chỉ mới có nghĩa là bốn quả Thánh của hàng Nhị thừa chưa phải là Niết Bàn rốt ráo, hoàn toàn của chư Phật. Nhưng dù sao câu chuyện trên cũng cho chúng ta một ư niệm thô thiển về sự tiến triển của kẻ tu hành đi từ cảnh giới đau khổ, phiền năo là cảnh giới Ta bà nầy, đến trạng thái Thường, Lạc, Ngă, Tịnh là Niết Bàn.

 

C. Kết Luận  

Nói tóm lại, Diệt đế tức là chân lư chắc thật nói về quả vị mà một kẻ tu hành có thể chứng được. Quả vị ấy tức là Niết Bàn. 

Nhưng v́ sự tu hành có thấp có cao, có rộng có hẹp, nên quả chứng tức là Niết Bàn cũng có thấp có cao, có hoàn toàn, có chưa hoàn toàn. 

Đối với hàng Tiểu Thừa, th́ ba quả đầu: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm là thuộc về hữu dư y Niết Bàn, v́ phiền năo chưa hoàn toàn tuyệt diệu. Chỉ đến quả vị A La Hán là quả vị mà mọi phiền năo đă tuyệt diệt, mới thuộc về Vô dư y Niết Bàn. 

So với Đại Thừa, th́ Niết Bàn của A La Hán cũng c̣n là Hữu dư y Niết Bàn, v́ các vị A La Hán mặc dù phiền năo đă dứt sạch, ngă chấp đă hết, nhưng pháp chấp hăy c̣n, thấy có pháp ḿnh tu, có Niết Bàn ḿnh chứng, nên chưa có thể gọi là được Vô dư y Niết Bàn. Chỉ có Niết Bàn của Đại Thừa mới là Vô dư y Niết Bàn, v́ ở đây đă dứt sạch ngă chấp, pháp chấp, không c̣n thấy có pháp ḿnh tu, Niết Bàn ḿnh chứng. 

Niết Bàn của Đại Thừa có hai loại: Vô trụ xứ Niết Bàn của các vị Bồ Tát, và Tánh tịnh Niết Bàn là chân tánh bản lai thanh tịnh và sáng suốt của vũ trụ, mà các đức Phật đă thể chứng. 

Trên đây kể sơ qua các loại Niết Bàn, là các quả vị của Diệt đế Niết Bàn mà chúng tôi diễn tả bằng văn tự ở đây so với Niết Bàn thật, c̣n xa cách muôn trùng, Nhưng với hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, không có phương tiện nào khác hơn, để tŕnh bày và t́m hiểu Niết Bàn, th́ đành phải dùng văn tự này. 

Muốn thấy được Niết Bàn thật, phải tự ḿnh thân chứng, phải thể nhập Niết Bàn. Muốn thân chứng, thể nhập Niết Bàn, cần phải tu theo phương pháp mà đức Phật đă dạy trong phần Đạo đế, là phần mà chúng tôi sẽ tŕnh bày trong những bài sau đây.

Trở Lên

Bài Thứ 7 
Đạo Đế (Nirodha Gamadukkha)

 

A. Mở Đề 

Nói Tổng Quát Về Đạo Đế 

 

Như trong bài trước đă nói, muốn thực chứng, thể nhập Niết Bàn th́ phải tu theo phương pháp mà Phật đă dạy. phương pháp chân chính, có hiệu quả chắc thật để thành Phật đó là Đạo đế. Phần nầy là phần quan trọng nhất trong bài Tứ diệu đế, v́ nếu có rơ biết đời là đau khổ, nguyên nhân của nó là ǵ, và nếu có thiết tha cầu giải thoát khỏi cảnh khổ để đến một cơi an vui tốt đẹp nhất là Niết Bàn, nhưng nếu không có phương pháp hiệu nghiệm để thực hiện ư muốn ấy, th́ biết cho nhiều cũng vô ích và càng thêm đau khổ. Do đó, Đạo đế là phần quan trọng và được Phật dạy một cách rơ ràng chu đáo.

 

Đạo đế có 37 phẩm, chia ra làm 7 loại: 

1 Bốn món Niệm xứ (Tứ Niệm Xứ) 
2 Bốn món Chánh cần (Tứ Chánh cần) 
3 Bốn món Như ư túc (Tứ Như ư túc) 
4 Năm Căn (ngũ Căn) 
5 Năm Lực (Ngũ Lực) 
6 Bảy phần Bồ đề (Thất Bồ đề phần) 
7 Tám phần Chánh đạo (Bát Chánh đạo phần).

 

B. Chánh Đề 

A. Tứ Niệm Xứ 

 

Định Nghĩa Về Tứ Niệm Xứ 

TỨ là bốn; NIỆM là hằng nhớ nghĩ; XỨ là nơi chốn. tứ Niệm Xứ là bốn chữ, bốn điều mà kẻ tu hành thường để tâm nhớ nghĩ đến. Đó là:

 

Quán Thân bất tịnh 

Quán Tâm vô thường 

Quán Pháp vô ngă 

Quán thọ thị khổ. 

 

1. Quán thân bất tịnh: Quán nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát cho thấu đáo. Bất tịnh nghĩa là không sạch. Quán thân bất tịnh nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát một cách tường tận về sự dơ bẩn của cái thân ta. 

Nói cái thân là bất tịnh, chắc có nhiều người ngạc nhiên, phản đối cho là Phật đă nói quá đáng. 

Trong đời c̣n cái ǵ quư báu hơn cái thân đâu? Người ta bảo bọc nó, nâng niu nó, cung phụng nó đủ điều. Người ta cung cấp cho nó đủ thức ngon vật lạ; người ta đùm bọc nó trong hàng lụa, là, gấm vóc; người ta che chở nó trong nhà cao cửa lớn; người ta dám làm tất cả những việc bất nhân tổn đức để cho nó được sung sướng. Cái thân được quí chuộng, tôn trọng như thế, mà bảo rằng nó là dơ bẩn, gớm ghiếc th́ ai mà nghe được. 

Song b́nh tĩnh mà xét lại, cái thân nầy thật không có gi là trong sạch cả. Ngay từ khi mới đầu thai, cái thân nầy đă bất tịnh rồi, v́ nó là do hai thứ nhơ nhớp là phụ tinh và mẫu huyết mà cấu thành. Ở trạng thái đầu tiên, nó chẳng khác ǵ một con hộ trùng, rồi dần dần lớn bằng hạt đậu, rồi bằng miếng thịt, nằm lẫn trong máu me nhơ nhớp. 

Về sau, nhờ sự duy tŕ của nghiệp thức nó tượng thành h́nh người, ch́m ngập trong một cái bọc đầy máu huyết. Cái thân nằm co rút trong đó cho đến chín tháng mười ngày, rồi chun theo một con đường rất bẩn thỉu, để ra khỏi bụng mẹ. Từ đó, nhờ những thực phẩm phần nhiều cũng không được tinh khiết ǵ như thịt cá, mà cái thân lớn dần. Nếu xét về sự tiêu hóa của thức ăn th́ chúng ta cũng không khỏi lấy làm khó chịu: những món ngon vật lạ, mới nuốt vào th́ cũng ưa thích, nhưng khi đă nuốt vào khỏi cổ cách một đêm sẽ biến thành đồ bất tịnh khi bài tiết ra th́ không ai chịu nổi, ngay đến chủ nhân của nó. Chưa nói đâu xa, cái thân nầy vài ngày chưa tắm đă thấy bẩn thỉu, rít rắm; cái miệng sáng dạy chưa súc, đă nghe có mùi hôi rồi. Trong thân, chín lỗ thường trôi chảy ra những đồ bất tịnh như: đại, tiểu, ghèn, rái, mũi, dăi...lắm chuyện nhơ nhớp. Đó là mới nói bề ngoài, bề trong thân người lại dơ hơn thập phần. Khi mổ bụng một con gà, con heo ta thấy một đống nào bọc chứa, ruột non, ruột già, tim, gan, phèo, phổi, bong bóng...như thế nào, th́ các bộ phận trong cơ thể ta cũng chẳng khác ǵ thế ấy. Nhất là bộ tiêu hóa là chỗ chứa đựng đủ thứ vật thực hôi thúi, chẳng khác ǵ một thùng phân. 

Đó là mới nói khi lành mạnh, c̣n khi đau ốm lại càng dễ sợ hơn: nào đàm, nào mũi, thúi tha tanh hôi không sao chịu được, nhất là gặp những bệnh nan y như lao, cùi, giang mai, hoa liễu, th́ thật là không ai dám lại gần. Đó là khi trẻ, c̣n khi già đầu bạc răng long, lưng c̣m, da nhăn, má cóp, đi đứng yếu ớt, không c̣n đủ sức để sửa soạn bề ngoài th́ lại càng nhớp nhúa hơn nữa. 

Đến khi chết, nghiệp thức không c̣n duy tŕ để thay lớp mới đổi lớp cũ, th́ da thịt ră rời, đụng đâu rệu đấy. Nếu không đem chôn cất cho kín, th́ ruồi bọ, gịi rúc rỉa, mùi hôi thúi xông lên không ai chịu nổi. 

Vậy cái thân nầy quả thật là bất tịnh, không c̣n chối căi vào đâu được. Nhưng người đời v́ không xét kỹ nên mới yêu quí nó, cưng dưỡng nó đủ điều: hễ thân ưa th́ ḿnh ưa, thân ghét th́ ḿnh ghét; làm nô lệ cho thân, gây nghiệp, chịu quả báo đời đời kiếp kiếp không dứt. Cũng v́ thân, mà tham, sân, si nổi lên; cũng v́ thân mà sát, đạo, dâm sinh ra; cũng v́ thân mà cọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiện, ác khẩu hoành hành. Trăm ngàn vạn điều lỗi lầm, cũng v́ quá cưng dưỡng cái thân nầy mà tạo thành ra. 

Vậy hành giả cần phải quan sát rơ cái thân là bất tịnh, mới tránh được những nghiệp tham ái. Nhưng quán sát như thế nào? 

Xưa ở Ấn độ, khi một hành giả muốn quán sát thân bất tịnh, th́ t́m đến khu rừng người ta bỏ xác người chết, gọi là thi lâm(1) để quán theo lối" Cửu tưởng quán" của Phật dạy: Phép quán này gồm các giai đoạn như sau:

 

a) Trướng tưởng: Ngày đầu ở gần bên cạnh thây chết, quán thây śnh trướng to lên. 

b) Thanh ứ tưởng: Ngày thứ hai quán thây bị gió nắng xanh xám. 

c) Hoại tưởng: Ngày thứ ba quán thây bị ră nát. 

d) Huyết đồ tưởng: Ngày thứ tư, quán thây máu thịt rơi rớt lai láng. 

đ) Nồng lănh tưởng: Ngày thứ năm, quán thây chết da thịt rục ră. 

e) Hám tưởng: Ngày thứ sáu, quán chim thú đến mổ ăn thây. 

ê) Tán tưởng: Ngày thứ bảy, quán sau khi chim thú ăn, gân xương, đầu ḿnh, tay chân chia tan nát vỡ. 

g) Cốt tưởng: Ngày thứ tám, quán huyết thịt đă hết, chỉ c̣n bộ xương trắng bừa băi. 

h) Thiêu tưởng: Ngày thứ chín, quán bộ xương trắng đốt cháy thành tro đất. 

 

Chín phép quán tưởng nầy, để đối trị ḷng tham sắc dục. 

Một khi phép quán nầy đă thuần thục, th́ kẻ tu hành thấy một cách tường tận như ở trước mắt, thân ḿnh và tất cả mọi người điều bất tịnh, không có ǵ đáng quư chuộng, ham muốn. Do đó, có thể đối trị được bịnh tham sắc dục là một bịnh rất trầm trọng và nguy hiểm của con người trên bước đường tu hành. Nhưng quán thân bất tịnh là để trừ ḷng tham sắc dục, chứ không phải để ghê tởm thân ḿnh, đến nỗi hũy bỏ mạng sống, như sáu mươi vị Tỳ Kheo trong thời Phật tại thế, sau khi quán thân bất tịnh thuần thục ṛi, thấy ghê tởm ḿnh và người chung quanh, đến nỗi thuê người giết đi. Đấy là một điều mà đức Phật nghiêm cấm. 

Ngày nay chúng ta không có được huệ nhăn như Phật để trỏ vào bọn nữ sắc mà Thiên ma sai đến để quấy rối, và bảo rằng: "Những cái túi da đựng toàn những đồ dơ bẩn kia, hăy đi đi, ta không dùng ! ". Nhưng nhờ khoa học đă phát minh ra quang tuyến, chúng ta có thể thấy được rơ ràng những bộ xương sườn, xương sống, đầu lâu, tim, gan, phèo, phổi của một tuyệt thế giai nhân, qua ống rọi kiếng. Và chỉ chừng ấy củng đủ cho chúng ta quan niệm rằng: Cái đẹp chỉ là bộ mă bên ngoài , là lớp da bọc, chứ bên trong th́ bộ xương nào cũng giống nhau cả, và chiếu qua quang tuyến X, th́ cái đầu lâu của một người đẹp, cũng chẵn khác ǵ cái đầu lâu trắng phêu đang nằm lăn lóc ngoài băi tha ma. 

Hỡi Phật tử, nếu ai đă phát tâm chân thật tu hành, th́ hăy cố gắng thi hành pháp "quán thân bất tịnh "; nếu chưa đủ phương tiện để thực hành phép quán ấy, th́ cũng đừng bao giờ nên quên rằng: thân người không trong sạch, không có ǵ đáng say mê đắm đuối để đến nỗi phải gây ra bao nhiêu tai hại, tội lỗi không lường cho ḿnh và người chung quanh.  

2. Quán tâm vô thường: Tâm vô thường, nghĩa là cái tướng của tự tâm chúng ta luôn luôn đổi thay, không thường. Cái tướng của tự tâm là ǵ? Chính là cái phân biệt, hiểu biết hằng ngày, cái thức. 

Người không học Phật th́ không nhận biết thể chơn như rộng lớn cùng khắp cả vũ trụ, mà nhận lầm cái phân biệt, cái thức là Ta, và cho rằng cái Ta ấy là thường c̣n, không thay đổi, như những ngoại đạo chấp có thần ngă hay có linh hồn thường trụ. 

Thần ngă là lối chấp của " Số luận sư ". Họ cho rằng mỗi chúng ta có thần ngă tự tại, trong sạch, nhưng v́ phân biệt, nên nhận thấy có vũ trụ vạn hữu, rồi sanh ḷng ưa muốn, bỏ mất thần ngă tự tại trong sạch ấy. Vậy muốn cho thần ngă được giải thoát, th́ phải dứt các món phân biệt. Dứt cho hết sạch, không thấy, không nghe, không biết nữa, th́ thần ngă mới hiển lộ ra, và khi ấy mới nhận biết rằng v́ ḿnh mới sanh ra có vũ trụ. Họ cho như thế là rốt ráo, mà không biết thần ngă ấy cũng chỉ là vọng thức mà thôi. 

C̣n linh hồn là lối chấp của đa số thần giáo. Họ cho rằng duy có xác thịt chết, chứ cái linh hồn trong trường hợp nào cũng vẫn nhận biết ḿnh, biết người, cũng thấy nghe như xác thịt, không bao giờ chết... 

Nhưng sự thật không phải thế: cái tâm của chúng ta không thường chút nào hết. Nó thay đổi luôn, khi nhỏ khác, khi lớn khác, khi có học khác, khi chưa học khác, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi chuyên niệm về một chỗ, khi tản mát ra các trần duyên...thật không có gí là thường hết. Nó là tâm pháp vô thường, nó thay đổi đủ cách, tùy chỗ tu tập của ḿnh mà tiến hóa. Nếu tâm là thường th́ không có sanh tử. Nếu tâm là thường, th́ dù có tu hành cũng không tăng trưởng, th́ người dốt cứ dốt, người vụng cứ vụng, người dữ cứ dữ. Nếu tâm là thường th́ không có nhân quả, tu cũng chừng ấy, mà lành cũng chừng ấy, cho đến người học, người không học cũng như nhau, chẳng có ǵ sai khác, thay đổi cả. 

V́ muốn đối trị cái vọng chấp kia, nên Phật mới dạy phép quán "Tâm vô thướng", để cho chúng sanh nhận biết rằng cái tâm không phải như một vật bất biến vô dụng, không phải là cái "Ta" chắc thật muôn đời, rồi nương vào đó mà sanh ra không biết bao nhiêu là vọng tưởng phiền năo. Những tánh tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v...đều do ngă chấp mà sanh ra cả. 

Lại cũng v́ chấp tâm là thường nên chi chi cũng là do bản tánh của ḿnh, không thể sửa đổi được , như bảo:" Tánh tôi hay nóng giận, hay tham lam "; "Tánh tôi hay đam mê đờn ca xướng hát "; "Tánh tôi thích cờ bạc rượu chè". 

Họ cho đó là một lối bào chữa, v́ không phải lỗi tại họ, mà tại cái bản ngă chắc thật của họ như thế rồi, không làm sao sửa đổi được. Do đó, họ không thể nâng cao tâm trí theo con đường chơn chánh được. 

Vậy, Phật tử chúng ta cần phải quán sát cái "tâm vô thường" đổi cái tâm mê lầm ra cái tâm giác ngộ, phải trừ ngă chấp để ra khỏi ṿng sanh tử luân hồi. 

3. Quán pháp vô ngă: Pháp, theo tiếng Phạn là Dharma. tàu dịch là quỹ tŕ, nghĩa là năm giữ phạm vi của ḿnh, như vuông, dài, tṛn méo...để mỗi khi người ta trông đến, liền nhận biết cái nầy là gi, và khỏi lẫn lộn với vật khác. Nghĩa chữ Pháp rộng lớn mênh mông, chỉ cho tất cả mọi sự thật trên vũ trụ, chẳng những các vật hữu h́nh, cho đến các vật vô h́nh tưởng tượng như lông rùa, sừng thỏ, cũng gọi là Pháp CẢ. 

C̣n Ngă có nghĩa là chủ lễ, là riêng có tự tướng của ḿnh. Người ta thường chấp các pháp đều có tự tướng của người, vật có tự tướng của vật, thế giới có tự tướng của quốc gia, xă hội có tự tướng của xă hội. 

Đă chấp có tự tướng của ḿnh, tất nhiên thấy có tự tướng của người khác. Đối với tự tướng của một vật, hễ về ḿnh th́ không về người khác, c̣n về người khác th́ không về ḿnh. Do đó, sinh ra tâm niệm nhân, ngă, bỉ thử, quí trọng, khinh rẽ, tranh chấp, đấu tranh trong xă hội. 

Song, xét ra cho kỹ th́ các pháp nào phải thật có "tự tướng"? Nói về lục trần th́ sắc đối với không, động đối với tịnh, sanh đối với diệt...nào có cái ǵ riêng một ḿnh thật có tự tướng đâu? Trần đối với căn mà có h́nh tướng, căn đối với trần mà có tác dụng, ngoài trần không có căn, ngoài căn không có trần. Như thế, th́ biết tất cả các pháp, dù căn, dù trần cũng đều không có tự tướng. 

Trong kinh Lăng Nghiên có câu: "Nhân duyên ḥa hợp, hư vọng hữu sanh, nhân duyên biệt ly, hư vọng hữu diệt". Nghĩa là: các nhân duyên nhóm họp th́ giả dối có sanh, các nhân duyên chia rẽ, th́ giả dối có hoại diệt. Vậy đủ biết: tất cả các pháp làm nhân duyên cho nhau, in tuồng là có, chứ không có tự tướng. Không có tự tướng, tức là "vô ngă". 

Ví như trong giấc chiêm bao, v́ nhân duyên chiêm bao hiện ra thấy có cảnh nầy cảnh khác. Đương khi ấy, người chiêm bao, cũng lầm tưởng là thật có, đến khi thức dậy, mới nhận ra đó là cảnh giả dối trong chiêm bao. Chúng ta cũng thế, v́ mê lầm nên không nhận ra được sự giả dối của sự vật. Trong khi tâm duyên với cảnh, cảnh duyên với tâm, vạn pháp hiện ra giữa vũ trụ, chúng ta tưởng là thật có. thật ra, các pháp đều không tự tướng, đều là "vô ngă". 

Chúng ta không biết lư "pháp vô ngă", cho nên ngoài bị hoàn cảnh kích thích, trong bị phiền năo lay động, quay cuồng theo sự múa rối của giả cảnh. V́ thế, tuy muốn tự tại mà chưa lúc nào chúng ta được tự tại, muốn an vui mà chưa lúc nào được an vui, muốn thường trụ mà vẫn phải trôi lăn trong ṿng sanh tử. 

Nếu chúng ta chứng được pháp vô ngă rồi, th́ một thể vô ngă trùm khắp cả pháp giới. Cảnh cũng vô ngă, tâm thức cũng vô ngă, th́ c̣n cái chi mà ghét, mà thương, mà chịu sanh tử luân hồi nữa. 

Pháp vô ngă là lối tu giải thoát rốt ráo. Nếu ai ai cũng biết tu hạnh vô ngă một đôi phần th́ đâu có sự ích kỷ hại nhân, và cảnh tượng thế giới ḥa b́nh đâu phải là điều không thể thực hiện được? 

4. Quán thọ thị khổ: Thọ là chịu, nhận lănh. Thọ thi khổ nghĩa là có nhận lănh là có khổ. 

Nhận lănh đây là nhận lănh cái ǵ? 

Nhận lănh ở đây có nghĩa vô cùng rộng răi, nghĩa là nhận lănh tất cả những ǵ mà người đời có thể nhận được trong cuộc sống. Trước tiên nhận lănh cái thân nầy là cái thân riêng của ta, cái tâm nầy là cái tâm riêng của ta. Sự thọ nhận nầy là nguồn gốc đầu tiên để thọ nhận những cái khác nhau về sau: để giữ ǵn thân mạng, ta thọ cái ăn, thọ cái mặc, thọ cái ở, thọ sắc, thanh, hương, vị, xúc; thọ những cái ǵ làm cho ta khoái trá, thích thú, vui vẻ. và ḷng tham càng nhiều, th́ thọ lại càng lắm. Từ cái thọ cần thiết cho cuộc sống, ta tiến dần đến những cái thọ ít cần thiết, rồi đến những cái thọ xa xỉ, thừa thải vô ích, nhưng v́ thói quen góp nhặt, tham lam, ta không thể bỏ qua được. Nói tóm lại, mỗi chúng sanh, mỗi cuộc đời là một chuỗi thọ nhận liên tiếp. 

Và chính thọ nhận ấy là mầm chính của đau khổ. 

Trước tiên ta thọ nhận cuộc đời; nhưng cuộc đời là ǵ nếu không phải là một trường đau khổ, như chúng ta đă thấy trong phần khổ đế? Nào sanh, nào lăo, nào bệnh, nào tử, nào yêu mà phải xa ĺa, nào oán mà phải gặp gỡ v.v...thật là toàn những khổ nhưng đó là mới nói những nỗi khổ căn bản. Ngoài ra, c̣n bao nhiêu nỗi khổ khác, cũng do thọ mà ra như: nhận được một cái ǵ cho là quư th́ nơm nớp sợ mất, lo t́m kiếm cách nầy, chước nọ để giữ ǵn nó. Nhưng cuộc đời đă là vô thường th́ c̣n cái ǵ là tồn tại măi? Ngay cuộc đời của ta mà cũng không giữ măi được th́ c̣n cái ǵ được nữa? Do đó, sanh buồn thương, tiếc nuối, mất ăn bỏ ngủ. Và người càng thọ nhiều chừng nào lại càng khổ chừng ấy. Kẻ giàu th́ sợ mất của, kẻ có địa vị th́ sợ mất địa vị, kẻ có người yêu đẹp th́ sợ mất người yêu, kẻ có danh vọng lớn th́ sợ mất danh vọng... 

Nhưng có phải muốn thọ lănh th́ bao giờ cũng được thọ lănh theo ư muốn đâu? Thọ mà may gặp thuận cảnh th́ được thỏa dạ trong phát đầu tiên, nhưng thọ mà gặp nghịch cảnh th́ càng thêm đau khổ. Ở đời, thuận cảnh th́ ít, mà nghịch cảnh th́ quá nhiều. Thường thường, ta ngửa tay mong nhận lănh một cái nầy, mà một cái trái ngược khác lại rơi vào tay ta ! Do đó, sanh giận dữ, thất vọng, khổ đau. 

Đó là nghĩa của "Thọ th́ khổ". Phép quán nầy mục đích đối trị bệnh tham là một bệnh trầm trọng nhất trong các bệnh phiền năo, đă ăn sâu gốc rễ trong ḷng chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp. 

Vậy Phật tử chúng ta, muốn diệt trừ tánh tham, phải quán "thọ thị khổ". ta phải luôn luôn nhớ lời Phật dạy: hễ có lănh thọ th́ có khổ; càng lănh thọ nhiều th́ càng khổ lắm. càng ít lănh thọ, th́ khổ đau càng ít. Tất nhiên chúng ta không thể xả bỏ tất cả trong một lúc; nhưng chúng ta nên tuần tự xả những ǵ dễ xả, có thể xả được, rồi đi dần đến những cái khó xả. Càng xả chừng nào lại càng nhẹ gánh đau thương. Người đời thường cho rằng càng gánh nhiều vàng bạc châu báu, danh vọng, địa vị, sắc đẹp, vui thú, lại càng sướng; nhưng đă gọi là gánh th́ gánh ǵ cũng là gánh, và càng gánh nặng th́ vai càng đau, chân càng mỏi, đi càng chậm; tóm lại khổ càng nhiều. Trái lại, nếu chúng ta không lănh thọ, như sắc đẹp, mùi ngon, vị lạ v.v...th́ thân tâm ta không bị lay động. Đối với cảnh ta thấy không có ǵ đáng ưa, cũng không có ǵ đáng khổ sở. Như thế mới được an nhiên tự tại thoát ṿng khổ đau.

 

C. Kết Luận  

"Tứ niệm xứ" là gíao lư căn bản trong phần Đạo đế. Có hiểu được giáo lư nầy một cách tường tận th́ sự tu hành mới vững chắc được. Nó đánh đổ được một cách rốt ráo bốn thành kiến sai lầm lớn lao của con người là: tưởng thân ḿnh là quư báu tốt đẹp trong sạch; tưởng tâm ḿnh là vĩnh viễn thường c̣n, như một linh hồn bất diệt; tưởng mọi sự vật trên đời nầy chắc thật trường cữu; tưởng thu nhận tom góp được nhiều chừng nào th́ sung sướng chừng ấy. 

Nhưng sự thật lại rất trái ngược: 

1) Thân th́ bất tịnh, như một cái đăy đựng đồ dơ, không đáng nâng niu ch́u chuộng. 

2) tâm th́ vô thường, luôn luôn biến đổi theo với hoàn cảnh bên ngoài, không có ǵ là trường tồn, bất diệt. 

3) Pháp th́ vô ngă, không có tự tánh nhất định, không chắc thật mà đều là như huyễn như hóa. 

4) Thọ th́ khổ, chẳng hạn, ta thọ lănh cái thân, th́ cái thân là dơ bẩn; ta thọ lănh cái tâm, th́ tâm là vô thường là luôn luôn biến đổi; ta thọ lănh sự vật ở chung quanh, th́ sự vật đều là giả trá, như khói, như mây. Do đó, càng thọ lănh nhiều chừng nào, lại càng đau khổ nhiều chừng ấy. 

Vậy chúng ta phải luôn luôn quán sát, ghi nhớ bốn sự thật trên đây. Càng chứng được bốn sự thật ấy chừng nào th́ sự chấp ngă, chấp pháp, tham, sân, si lại càng bớt dần chừng ấy. 

Phật tử càng nắm vững bốn sự thật ấy chừng nào, th́ sự tu hành theo các môn trong Đạo đế sau nầy, như bốn món chánh cần, bốn món Như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực v.v...mới dơng mănh và chóng có kết quả chừng ấy. 

(1) Ở Ấn-độ có 4 cách táng người chết là thả xuống sông, hỏa tiêu, chôn và bỏ vào rừng.

Trở Lên

Bài Thứ 8 
Đạo Đế (Nirodha Gamadukkha)
(tiếp theo)

 

B. Tứ Chánh Cần 

A. Mở Đề 

Nhờ Tứ Niệm Xứ, chúng ta đă thấy rơ sự thật của đời. Đó là: thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngă và thọ thị khổ. Thấy rơ được sự thật đau khổ ấy rồi, chúng ta phải gia công, cố sức làm thế nào để thoát ra ngoài móng vuốt nguy hiểm của chúng. 

Muốn thế, sự siêng năng, Tinh tấn là điều kiện trên hết trong công cuộc giải thoát của chúng ta. 

Ngoài đời cũng như trong đạo, mỗi người muốn đạt được kết quả tốt đẹp trong đời ḿnh th́ phải luôn luôn gia công gắng sức. Nhất là người tu hành, mà cái quả là xuất trần, cái cứu kính là an vui vĩnh viễn, th́ sự gia công, sức cố gắng lại càng phải bền bỉ, dẻo dai vượt bực mới thành tựu được. 

Hơn ai cả, đức Phật hiểu rơ sự quan trọng của tự tướng, nên đă dạy bảo chúng ta trước khi đi sâu vào Đạo, phải chuẩn bị những phương tiện cần thiết, phải tỏ rơ một thái độ quyết tâm: Quyết tâm xa lánh điều dữ và thực hiện những điều lành. Đó là ư nghĩa của "Tứ Chánh cần" mà chúng ta sẽ nghiên cứu dưới đây. 

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Tứ Chánh Cần 

Tứ Chánh cần là bốn phép siêng năng Tinh tấn hợp với chánh đạo. Bốn phép Tinh tấn ấy là:

 

1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh. 

2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác phát sinh. 

3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh. 

4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đă phát sinh.

 

II. Quan Niệm Về Điều Dữ Và Điều Lành Trong Đạo Phật 

Trước khi làm điều lành tránh điều dữ, chúng ta phải biết rơ thế nào là lành, thế nào là dữ. Những điều dữ là những điều ǵ có thể làm tổn hại cho ḿnh và người trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chúng bao giờ cũng nghịch với từ bi, b́nh đẳng, trí tuệ và chân lư. 

Trái lại, những điều lành là những điều có thể lợi ích cho ḿnh và người, trong hiện tại cũng như tương lai. Chúng bao giờ cũng hợp với từ bi, b́nh đẳng, trí tuệ và chân lư. 

Với hai định nghĩa nầy, không phải đợi đến khi phát lộ ra bằng hành động, mới gọi là lành hay dữ. Ngay trong ư nghĩ, và quan trọng nhứt là ư nghĩ, cũng đă phân biệt được lành hay dữ rồi. Theo đạo Phật, ba nơi phát sanh của lành hay dữ là: thân, khẩu, ư. Như thế, một cử chỉ, một lời nói hay một ư nghĩ, đều có thể là lành hay dữ. Do đó, đức Phật dạy chúng ta phải ngăn ngừa những điều dữ, hay thực hiện những điều lành, ngay khi chúng c̣n ở trong ư thức. 

(Xem lại bài tập Thập thiện trong khóa nh́) 

 

III. Nội Dung Của Tứ Chánh Cần 

1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh: Tâm ḿnh chưa móng tưởng điều ác th́ ḿnh phải ráng giữ ǵn, đừng cho nó phát khởi lên, cũng như sợi dây buột mũi con trấu, kềm nó, không cho ăn lúa. 

Sau đây là một ít thí dụ cụ thể có thể xảy ra hằng ngày trong đời chúng ta: 

Khi chúng ta muốn tổ chức một cuộc đi săn bắn, để lấy thịt rừng cụng ly đánh chén với bè bạn, nhưng chúng ta lại nghĩ: "ta đă là đệ tử Phật, đă thọ tam quy, tŕ Ngũ Giới rồi, không lẽ dám quên lời hứa nguyện, sát hại chúng sinh và uống rượu !" Thế là chúng ta không thi hành cuộc săn bắn nữa. 

Khi phát khởi tâm gian lận, muốn lập mưu kế lấy của người, chúng ta liền xét lại rằng: "Của ḿnh mất ḿnh biết buồn rầu, th́ của người mất người đâu có vui ! Vả lại, ḿnh đă nguyện trọn đời không tham một vật nhỏ của ai, lẽ nào ḿnh dám quên lời thệ nguyện?" Sau khi nghĩ thế rồi, chúng ta không thi hành mưu kế đen tối trên nữa. 

Khi móng tâm hoa nguyệt, chúng ta lại nghĩ rằng: "Ḿnh đă nguyện trọn đời không tà dâm, th́ phải tŕ chí giừ ǵn tiết hạnh". Và do ư nghĩa ấy, chúng ta ngăn chặn được ḷng hoa nguyệt. 

Khi muốn nói dối để cho được việc riêng của ḿnh, chúng ta liền nghĩ rằng: "Ḿnh đă nguyện trọn đời nói lời ngay thật, th́ phải cố gắng giừ cho trọn lời thệ nguyện". Như thế, chúng ta khỏi phạm tội vọng ngữ. 

Nói tám lại, mỗi khi tâm chúng ta móng lên một ư nghĩ sái quấy, muốn thực hiện một đièu ác ǵ, chúng ta phải t́m những lư do chánh đáng, tưởng nghĩ đến hậu quả tai hại của nó, để dập tắt ngay những ư nghĩ bất chính, và ngăn ngừa không để cho nó phát sinh trong hành động. 

Người tu hành sửa các giặc phiền năo, si mê len lỏi vào tâm ḿnh cướp mất của báu công đức, nên luôn luôn cẩn thận giữ ǵn, như người nhà giàu giữ của: ngăn tường đóng ngơ, bỏ tủ, khóa chặt không để cho kẻ gian vào nhà trộm mất. 

Sự ngăn chặn, giữ ǵn không cho điều ác phát khởi nầy, không phải hạn cuộc trong một thời gian nhất định nào, mà trái lại, phải tiếp tục luôn luôn trong từng sát na, từng giây phút, từng ngày tháng, từng năm nầy sang năm khác, cho đến chừng nào tâm ḿnh được thuần thục an nhiên, không nghĩ đến điều ác nữa mới thôi. Công cuộc ngăn chận nầy đ̣i hỏi một sự siêng năng, Tinh tấn dẻo dai, bền bỉ mới có hy vọng thành tựu được như ư muốn.

 

2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đă phát sanh: Trong đời sống của chúng ta, nhất là khi chưa hiểu biết Phật pháp và không tu hành, chúng ta đă phạm rất nhiều tội ác. Những tội ác nầy làm cho tâm của ta càng ngày càng tối tăm, lu mờ, như một tấm gương bỏ lâu ngày, không ai chùi rửa, không thể soi được nữa. nay chúng ta đă nhận thấy cái nguy hại của những điều ác, th́ chúng ta phải quyết tâm dứt trừ. Điều ác không ở đâu xa, chúng phát sinh trong thân, khẩu, ư của mỗi chúng ta. Vậy, trừ tội ác tức là ngăn chận không cho thân, khẩu, ư chúng ta tiếp tục tạo nghiệp dữ nữa. Nhưng cái đà tội lỗi, như cái đà một chiếc xe xuống dốc, càng xuống càng mau, càng mănh liệt, cho nên muốn diệt trừ tội lỗi, chúng ta phải vận dụng nhiều nghị lực, nhiều cố gắng, phải luôn luôn siêng năng Tinh tấn. Để ngăn chận cái đà tội lỗi, Phật tử chúng ta phải luôn luôn nhớ nghĩ như vầy: 

Sát sanh là điều ác đă gây tội lỗi cho ḿnh phải mắc nợ máu thịt và mạng sống, lại làm hại cho người lẫn vật. 

Trộm cướp làm khổ cho người bị nghèo đói, rách rưới, buồn rầu đau khổ không thể kể xiết. 

Tà dâm là điều không hợp lễ tiết, thường gây sự rối ren trong gia đ́nh và nhất là mang tiếng xấu hổ, làm mất phẩm giá con người.

 

Nói dối mất ḷng tin cậy. 

Nói thêu dệt làm chia ĺa ân nghĩa. 

Nói lưỡi hai chiều làm tăng trưởng oán thù. 

Nói lời hung ác, trước dơ miệng ḿnh, sau chiêu lấy họa. 

Ham muốn quá sức (tham) tháy ḿnh thiếu măi, càng khổ thân nhọc trí. 

Giận hờn tức tối, lửa sân nổi lên, làm hư công hỏng việc và bao nhiêu rừng công đức đều tiêu tan. 

Si mê không rơ chánh tà, mờ ám chân lư gây đủ các tội.

 

Xét như vậy rồi, nếu tội ác đă trót lỡ sanh, th́ bất cứ tội nào chằng hạn, chúng ta phải đoạn trừ tận gốc rễ, đừng cho nó đâm chồi nẩy nhánh nữa. Trong lúc đó, chúng ta lại huân tập các hột giống lành thay thế vào tạng thức, th́ lần hồi, chúng ta sẽ trở thành người thuần thiện.

 

3. Tinh tấn làm phát sanh những điều lành chưa phát sanh: Nhiều khi chúng ta có những ư định hay đẹp, muốn giúp ích người nầy, nâng đỡ người khác, nhưng v́ tánh giải đăi, hay thiếu nghị lực, chúng ta không thực hiện được những ư định tốt đẹp ấy. Như thế, dù có thiện chí bao nhiêu, cũng không đem lại lợi ích ǵ cho ta và cho người chung quanh cả. Muốn tạo những thiện nghiệp, như nói lời ḥa nhă với mọi người trong mọi trường hợp, bố thí cho người nghèo túng, giúp đỡ cho người có công ăn việc làm, th́ chúng ta đừng chần chờ, mà trái lại, phải hăng hái, Tinh tấn làm ngay. ta phải luôn luôn thúc đẩy ta, biến những ư nghĩ tốt thành hành động. người Pháp có câu tục ngữ rất có ư nghĩa, để châm biếm những người có dự định tốt mà không bao giờ thực hiện: "Địa ngục lót đầy những dự định tốt". (L'enfer est pavé de bonnes intentions). Thật đúng như vậy, ở đời có bao nhiêu người có nhiều thiện chí, có ư định làm điều hay điều phải, nhưng cho đến chết vẫn chưa thực hiện được, và mang theo xuống địa ngục. 

Vậy chúng ta phải luôn luôn hăng hái làm phát triển những điều lành, mỗi khi chúng vừa móng khởi trong tâm, đừng chần chờ, giải đăi cho đến khi tử thần đến gơ cửa, mới ân hận là ḿnh chưa gây tạo được cho ḿnh những nhân lành ǵ cả, nên phải rơi vào địa ngục. 

 

4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đă phát sanh: Những điều lành khi đă phát lộ ra hành động rồi, chúng ta đừng cho thế là vừa, là đủ, không cần phải cố gắng làm thêm nữa. 

Khi chúng ta làm điều trọn lành, chúng ta có lợi về hai phương diện: một mặt, ngăn chặn điều ác không cho tác hại; một mặt, làm điều thiện có lợi ích cho ḿnh và cho người. Chẳng hạn, như khi chúng ta thọ giới bất sát sinh và thật hành theo giới ấy, là chúng ta vừa ngăn chận sự giết hại người và vật, mà vừa chuộc người và phóng sinh nữa. Các giới khác cũng vậy, nghĩa là một mặt vừa "chỉ ác", một mặt vừa "tu thiện", rồi cứ như thế mà siêng năng Tinh tấn luôn luôn mới được. Chúng ta phải tập làm điều thiện cho thật thuần thục, cho thành thói quen, cho đến khi mỗi ư nghĩ, mỗi lơi nói, mỗi việc làm điều thiện cả mới được. 

 

C. Kết Luận 

Ư Nghĩa Rộng Lớn Và Diệu Dụng Của Tứ Chánh Cần 

Tứ Chánh cần là bốn phép siêng năng chân chính trong công cuộc diệt trừ tội ác và phát triển điều thiện. Nó bao gồm tất cả những quy điều căn bản thiết yếu của mọi tôn giáo, đạo đức, luân lư. 

Thật thế, nếu suốt đời, chúng ta chỉ theo cho đúng 4 phép siêng năng nầy là: ngăn ngừa không cho những điều ác phát sinh, diệt trừ những điều ác đă lỡ phát sinh; thúc đẩy thực hiện những điều lành vừa mống lên ở trong tâm, tiếp tục thực hiện được. nếu chúng ta Tinh tấn làm được như thế, th́ chắc chắn chúng ta sẽ đạt được địa vị Thánh hiền. 

Trở Lên

Bài Thứ 8 (tt) 
C. Tứ Như Ư Túc

 

A. Mở Đề 

Sau khi đă nhận rơ được chân tướng của cơi đời (Tứ niệm xứ), đă quyết tâm bỏ ác theo thiện (Tứ Chánh cần), hành giả muốn đi xă trên đường đạo, cần phải vạch cho ḿnh một hướng tiến nhất định và phải có một thái độ quyết tâm nhắm theo đúng hướng đă vạch mà đi, không nh́n ngang nh́n ngửa, không mong ước cái này cái khác. Hành giả chí quyết đi một đường, tập trung tất cả mong ước, chí nguyện, ư chí, năng lực tinh thần của ḿnh vào đó đến khi được toại nguyện như ư mới thôi. 

Muốn được như thế, hành giả phải tu theo pháp môn "Tứ Như ư túc", một trong những pháp môn của Đạo đế dưới đây. 

 

B. Chánh Đề  

I. Định Nghĩa Tứ Như Ư Túc 

Tứ Như ư túc là bốn phép thiền định. Nói cho rơ đó là bốn phươngtiện giúp chúng ta thành tựu các tam ma địa Samadhi: (chánh định), v́ thế nên cũng gọi là định pháp. "Như ư" là được như ư ḿnh muốn. "Túc" là chân, có nghĩa nương tựa mà cũng có nghĩa là đầy đủ. Tứ Như ư túc, có nghĩa là bốn phép làm nơi nương tựa cho các công đức thiền định, thần thông được thành tựu mỹ măn như ư muốn của ḿnh. Bởi lư do ấy, nên cũng gọi nó bằng tên Tứ thần túc. Luận Câu xá quyển 25 có nói: "V́ sao định mà gọi là thần túc? V́ các công đức linh diệu thù thắng đều nương nơi bốn định này mà được thành tựu". 

Bốn định ấy là:

 

Dục Như ư túc  

Tinh tấn Như ư túc 

Nhất tâm Tứ Như ư túc 

Quán Như ư túc.

 

II. Thành Phần Và Nội Dung Của Tứ Như Ư Túc  

1. Dục như ư túc: Dục là mong muốn. Mong muốn một cách thiết tha, mong muốn cho kỳ được, mong muốn cho đến khi măn nguyện mới thôi. Đó gọi là dục như ư túc. Nhưng mong muốn cái ǵ? Tại sao đă là Phật tử mà c̣n "dục", c̣n mong muốn? 

Trước tiên, chúng ta nên nhận định rơ ràng tánh chất của sự mong muốn ở đây. Có thứ mong muốn thỏa măn những thú tánh, những tham vọng, đó là mong muốn tội lỗi, nên diệt trừ. Có thứ mong muốn hướng thượng, trong lành, như mong muốn sống một cuộc đời đẹp đẽ, thanh cao, mong muốn được giải thoát ra ngoài biển khổ sanh tử, đó là thứ mong muốn hợp lư, đáng khuyến khích. Người Phật tử mong muốn được thành đạt pháp thiền định ḿnh đang tu, để tiến lên chứng các Thánh quả. Thứ mong muốn này rất cần cho người tu hành; nếu không mong muốn thiết tha, mănh liệt th́ khó mà đi đến đích giải thoát được. Đây cũng là một sự cải chính rất hùng hồn để đánh tan quan niệm sai lầm cho rằng: người Phật tử phải diệt dục, mà diệt dục nghĩa là diệt tất cả, diệt luôn cả sự sống. Thật ra diệt dục ở đây tức là dục vọng, diệt những phần ham muốn xấu xa đê hèn, làm cho con người bị đọa xuống hàng thấp thỏi như loài sức sanh, địa ngục, chứ đâu có diệt luôn cả những chí nguyện, những mong ước, những đức tánh tốt đẹp của con người. Sự mong muốn sau nầy, người Phật tử không bao giờ lăng quên, trái lại họ trút cả tâm tư hướng về cái đích ḿnh đang nhắm, những pháp ḿnh đang tu. Người thế gian ưa thích vật dục mạnh mẽ như thế nào, th́ người tu hành mong muốn thành tựu những pháp thiền định của ḿnh cũng mạnh mẽ như thế ấy. Có như thế, hành giả mới tăng tiến măi trên bước đường tu hành của ḿnh. 

2. Tinh tấn như ư túc: Tinh tấn là dũng mănh, chuyên nhất vào pháp thiền định ḿnh đang tu. Phần trên chỉ mới là sự ước muốn. Sự ước muốn dù đẹp đẽ bao nhiêu mà không ra công, gắng sức, luôn luôn bền tâm vững chí, nghĩa là thiếu sự Tinh tấn dũng mănh, th́ ước muốn muôn đời cũng chỉ là ước muốn suông mà thôi. 

Chúng ta nên nhớ rằng: Tinh tấn không phải chỉ là sự hắng hái, bồng bột trong chốc lát, như sự ồ ạt, bốc cháy của ngọn lửa rơm. Tinh tấn là nghị lực tu tập mạnh mẽ, thường hằng, không bao giờ gián đoạn. Trong kinh Di Giáo đức Thế Tôn có dạy: "...Như người kéo cây lấy lửa, cây chưa nóng đă thôi, tuy muốn được lửa, nhưng khó thể được". 

Vậy người muốn chứng đạo quả, phải thường Tinh tấn đầy đủ như ư ḿnh ước nguyện. 

3. Nhất tâm như ư túc: Nhất tâm là tâm chuyên nhất vào định cảnh, không bào giờ tán loạn. Một con sông lớn, nếu bị chia nhiều ngành tất nhiên sức chảy của nó bị yếu. Trái lại, một gịng suối nhỏ, nếu chỉ chảy một đường, cũng đủ sức xoi thủng đá. Người tu hành, tâm được chuyên nhất, không bị tán loạn, th́ muôn sự đều thành. Phật có dạy: "như người chứa nước, khéo giữ bờ đê, người tu hành giữ nước trí tuệ cũng vậy, phải khéo tu thiền định, chớ cho tán động". 

4. Quán như ư túc: Quán nghĩa là dùng trí tuệ sáng suốt quán sát pháp ḿnh đang tu. Quán trí ấy do định mà phát sanh, trí ấy là tịnh trí. V́ tịnh cho nên nó có thể như thật thông đạt thật nghĩa (chân lư) của các pháp (vũ trụ). 

C. Kết Luận 

Tóm Tắt Ư Nghĩa Và Diệu Dụng Của Tứ Như ư Túc  

Sở dĩ Dục, Tinh tấn, Nhất tâm và Quán đều được gọi là như ư túc, v́ chúng ta là những thứ để cho tất cả công đức tu hành, thần lực nương vào đó mà phát sanh, hợp như ư muốn của hành giả. 

Bốn phép nầy như bốn nấc thang kế tiếp theo nhau, để đưa hành giả từ cái nhân hữu lậu mê mờ, đến cái nhân vô lậu giải thoát: Trước hết, do tu tâm hằng mong muốn (Dục), cho nên sự tu tập dũng mănh (Tinh tấn); nhờ sự tu tập dũng mănh, nên phiền năo tiêu, tán động hết, do đó tâm được chuyên nhất (Nhất tâm), nhờ tâm chuyên nhất nên quán trí được thanh tịnh mănh lợi (Quán), và có năng lực phá tan cội gốc vô minh. 

Khi vô minh hết, th́ vô số nghiệp chướng phải tiêu, hằng sa trí đức phát hiện. Người tu hành, khi trí tuệ và công đức viên măn tức khắc đày đủ vô biên thần dụng trong sự hiện thân, hiện độ để cứu khổ chúng sanh, chứ đâu có phải chỉ khi chứng được lục thông mới được tự tại?

Trở Lên 

Bài Thứ 9 
Đạo Đế (Nirodha Gamadukkha)
(Tiếp theo)

 

Ngũ Căn Ngũ Lực 

 

A. Mở Đề 

Trong 37 món trợ đạo, Ngũ căn và Ngũ lực là những phương pháp quư báu, cũng quan trọng như các pháp khác; có thể đưa người tu hành từ địa vị phàm phu đến các Thánh quả trong ba thừa. Chúng là sự phục sức trang nghiêm, là phương tiện công hiệu giúp người thẳng tiến trên bước đường tu đạo, chứng quả. Vậy Phật tử chúng ta không thể không biết để tŕ hành.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Ngũ Căn 

Ngũ căn là năm căn. Căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp xuất phát. 

Luận Trí Độ, quyển thứ mười, giải rằng: "Năm căn này là căn bản để phát sanh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn". Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Huệ căn.

 

II. Thành Phần Và Nội Dung Ngũ Căn 

1. Tín căn: là ḷng tin mạnh mẽ vững chắc. Ḷng tin này không giống như ḷng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lư trí của phần nhiều ngoại đạo. Ḷng tin ở đây là con đẻ của lư trí, là kết quả của sự suy luận sáng suốt, của sự quan sát kỹ càng. Đức Phật không bao giờ bắt buộc Phật tử tin một điều ǵ mà không suy luận được, không giải thích được. V́ ḷng tin của người Phật tử khởi từ trí xét đoán. Bởi thế nên nó vô cùng vững chắc, mănh liệt. Chính nó là căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: "Tin là mẹ vô lượng của công đức". Nhưng Phật tử tin cái ǵ? Phật tử tin Tam Bảo: 

Tin Phật: Phật tử biết rằng đức Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. V́ thế, Phật tử suốt đời tin tưởng theo Phật, để hướng tiến đến sự giác ngộ, giải thoát mà Phật đă thân chứng. 

Tin pháp: Pháp là chân lư, là sự thật mà đức Phật đă khám phá ra và truyền lại cho chúng ta. Hay nói một cách khác, pháp là giáo lư đúng như sự thật mà đức Phật đă thuyết minh. Chúng ta tin tưởng những giáo lư ấy, v́ người nói ra là đức Phật, đă thân chứng được và giác ngộ được nhờ giáo lư ấy. 

Tin Tăng: Tăng là người thật hành các giáo lư của Phật để giác ngộ ḿnh và người, là kẻ thay Phật đưa cao ngọn đuốc chánh pháp sáng ngời, để soi đường cho chúng sinh. V́ thế, Phật tử suốt đời quy hướng về Tăng. 

2. Tấn căn: Tấn là tinh tấn. Tấn căn là sự dũng mănh tinh tấn trên bước đường tu tập không bao giờ thối lui. Nếu đă có ḷng tin chắc chắn mà không tinh tấn thực hiện, làm theo những điều ḿnh tin, th́ ḷng tin suông ấy trở thành vô dụng, không đưa chúng ta đến đâu cả. 

Vậy cho nên người Phật tử đă tin Tam Bảo, th́ phải luôn luôn tinh tấn thực hành giáo lư của Phật. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, tinh tấn có ba thứ: 

Bị giáp tinh tấn: Nghĩa là mang áo giáp tinh tấn. Người Phật tử trong cuộc chiến đấu để diệt trừ đau khổ, tiến tới giải thoát, cần phải mang áo giáp tinh tấn, để khi xông pha vào trận địa "phiền năo", khỏi bị ma quân hảm hại. Nhờ có áo giáp này, người Phật tử tin tưởng ở năng lực của ḿnh hùng dũng tiến tới, không sợ gian nan nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngại hay một địch thủ nào. 

Gia hạnh tinh tấn: Nghĩa là luôn luôn gắng sức không bao giờ dừng nghĩ trên bước đường đi đến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, người Phật tử càng tiến càng hăng, càng thêm sức lực, càng phấn chí không bao giờ biết mệt mỏi. 

Vô hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc tinh tấn nghĩa là không vui sướng tự măn, cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng lợi trên đường tu hành. Người Phật tử chưa chứng được Phật quả, th́ c̣n gia công gắng sức tu luyện măi, chứ không chịu dừng nghỉ, vui thú với một quả vị thấp thỏi, tạm bợ, như người bộ hành khi chưa đến đích cuối cùng, th́ c̣n hăng hái bước măi, chứ không chịu chấm dứt cuôĩc hành tŕnh của ḿnh, bằng cách an phận ở măi trong quán trọ bên đường. 

3. Niệm căn: Niệm là ghi nhớ. Ghi nhớ những ǵ? 

a) Thứ nhất niệm thí: nghĩa là nhớ tu bố thí. Người Phật tử thường ngày nhớ đem tài sản bố thí cho người bần cùng; đem hùng lực cứu giúp người sợ hăi; đem chánh pháp chỉ giáo cho người si mê, khiến họ hết khổ được vui. 

b) Thứ hai niệm giới: nghĩa là nhớ tŕ tịnh giới để đoạn trừ các phiền năo nghiệp chướng, tăng trưởng mọi hạnh lành. Giới có ba thứ: 

Nhiếp luật nghi giới: Những giới để ngăn cấm các hạnh nghiệp thô xấu, đoạn diệt các nghiệp chướng nơi thân tâm. 

Nhiếp thiện pháp giới: Những quy điều đúng pháp và lợi ích, người thực hành theo nó, có thể thành tựu tất cả pháp lành. 

Nhiêu ích hữu t́nh giới: Những điều luật làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh. 

c) Thứ ba niệm thiền: Luận Nhiếp Đại Thừa có nói: "Thiền niệm trụ là an trụ bón món thiền định". Vậy niệm thiền là nhớ tu các niệm thiền định, để gạn sạch tất cả phiền năo, thể chứng chân như: 

4. Định căn: Định hay tịnh lự do dịch nghĩa chữ Phạn là Dhyana (Thiền na). Định là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, định có thể chia làm ba bậc: 

An trụ định: Để tâm an trụ vào định cảnh, không cho tán động, do đó phiến năo được tiêu trừ. 

Dẫn phát định: Do đoạn sạch phiền năo nên được phát sanh sáu món thần thông là các công đức thù thắng. 

Thành sở tác sự định: Do đă phát khởi được các công đức, thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh; cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết Bàn. 

5. Huệ căn: Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp. Trí huệ ấy không có sự phân biệt, v́ phân biệt là tác dụng của vọng thức, là mê lầm. Cũng theo Luận Nhiếp Đại Thừa, trí huệ có ba thứ: 

Vô phân biệt gia hạnh huệ: Quán trí nầy không c̣n thấy có phân biệt, nhưng c̣n có gia hạnh, nghĩa là c̣n phải dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàn vô phân biệt trí. V́ thế, nên gọi là " vô phân biệt gia hạnh huệ". 

Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không có sự phân biệt, mà không cần phải gia hạnh v́ đă thuần phục. Do không phân biệt nên không có mê vọng. Nhờ trí huệ này, người tu hành được tự tại thể chứng nhân như. 

Vô phân biệt hậu đắc huệ: Hay hậu đắc trí, nghĩa là trí huệ có được sau khi đă chứng được chân như. Trí huệ này hoàn toàn sáng suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậu đắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức, để cứu độ chúng sanh. 

Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn là trí huệ do thiền định đă làm lặng sạch. Nó không đạt được sự thật của các pháp; nó là căn nguyên phát sanh mọi việc vĩ đại để giải thoát chúng sinh.

 

II. Định Nghĩa Ngũ Lực 

Ngũ lực tức là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ căn. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay, c̣n ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

 

IV. Thành Phần Và Nội Dung Của Ngũ Lực 

1. Tín lực: tức là thầnlực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh. 

2. Tấn lực: tức thần lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể sang bằng mọi trở lực, sức mạnh này do tấn căn phát sinh. 

3. Niệm lực: tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn. 

4. Định lực: tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh vĩ đại của định căn. 

5. Huệ lực: tức thần lực của trí huệ hay sức mạnh vô biên của huệ căn. 

Nói một cách tổng quát, những sức mạnh nầy là kết quả thâu đạt được do sự kiên cố tu luyện của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa bật lên sau khi người ta đă nỗ lực cọ sát hai cây củi vào nhau để lấy lửa.

 

C. Kết Luận 

Diệu Dụng Của Ngũ Căn Và Ngũ Lực 

Như chúng ta đă thấy ở trên, Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng. 

Bất luận người nào, hễ đă lấy trí làm nền tảng, tinh tấn thật hành chánh pháp (tấn), hằng ghi nhứ chánh pháp để tiến tu (niệm), tập trung tư tưởng để trừ sạch vô minh phiền năo, đem diệu huệ vô phân biệt (huệ) để chứng chân như, th́ người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay quả vị vô thượng Bồ đề. V́ sao? V́ người ấy đă có những thần lực vĩ đại (Ngũ lực) do Ngũ căn gây tạo. Với ngũ lực nầy, hành giả như người bộ hành có đủ phương tiện linh lợi, diệu dụng để băng rừng, vượt biển và đi đến đích cuối cùng. Đích cuối cùng của người tu hành theo chánh pháp tức là thành Phật. Đến đích này, người ấy là ánh sáng của chúng sinh gieo mầm an lạc. Chính người mới có đủ thần lực, diệu dụng làm cho chúng sinh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ. 

Kết qủa của Ngũ căn và Ngũ lực lớn lao, quư báu như thế đó, chúng ta không thể không tu theo hai pháp môn ấy.

  Trở Lên 

Bài Thứ 9 (tt) 
Thất Bồ Đề Phần

 

A. Mở Đề 

Thất Bồ đề phần cũng là một pháp môn quan trọng không kém ǵ ngũ căn. Sở dĩ đức Phật chế ra nhiều pháp môn như thế là để tùy căn cơ từng người, ai hợp pháp môn nấy về tên gọi, về chi tiết th́ có khác nhau, nhưng về đại thể, về tinh thần th́ có nhiều chỗ giống nhau. V́ thế, chúng ta sẽ thấy trong pháp môn "Thất Bồ đề phần" có nhiều điểm giống như trong "Tứ Như ư túc" hay "Ngũ căn, Ngũ lực". 

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Thất Bồ Đề Phần 

Bồ đề do phiên âm chữ Phạn Boddhi mà ra. Người Trung hoa dịch là Giác đạo, hay đạo quả gíac ngộ. Phần là từng phần, từng loại. Thất Bồ đề phần là bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả vô thường Bồ đề, hay bảy pháp giúp người tu hành thành tựu đạo quả Đại giác. 

Nó cũng có tên là Thất giác chi. "Giác: tức là Bồ đề, c̣n "Chi" tức cũng như phần vậy. Thất giác chi tức là bảy nhánh, bảy phương tiện đi đến đích giác ngộ.

 

II. Thành Phần Và Nội Dung Của Thất Bồ Đề Phần 

Thất Bồ đề phàn gồm có: 

1. Trạch pháp: Trạch là lựa chọn; Pháp là pháp môn, là phương pháp tu hành. Trạch pháp là dùng trí huệ để lựa chọn pháp lành để tu, pháp dữ để tránh. Trong sự tu tập, nếu ta không có trí phân biệt chánh tà, tất phải lầm lạc. Như các bài trước đă nói, ḷng tin của người Phật tử phải dựa trên lư trí, nếu không là mê tín. Đức Phật có dạy: "Hăy dùng trí huệ suy nghiệm, giải trạch các pháp, rồi sẽ tín thọ, thật hành theo". Nếu tu lầm, tin chạ, điều có nguy hại gắp trăm ngh́n lần người không tu hành. V́ vậy, Phật tử chúng ta muốn thẳng tiến trên đường giác ngộ, giải thoát, không phải nghe ai bảo ǵ tin nấy, không phải tự bảo một cách bừa băi: "đạo nào cũng tốt cả"; không phải chung dung ḥa Phật giáo với ngoại đạo; trái lại, Phật tử cần sáng suốt để pḥng sự đánh lộn ṣng của các ngoại đạo, sự xuyên tạc xảo quyệt để làm mất ḷng tin sáng suốt của chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo phân biệt chánh, tà, chân, ngụy; phải thường trí huệ mà giản trạch cả những pháp ở ngoài và những ư tưởng chơn vọng của tâm để tu, để đoạn. 

2. Tinh tấn: Nhưng một khi đă lựa chọn được pháp môn chân chính để tu rồi, th́ phải tinh tấn, nghĩa là luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập, không quản ngại gian lao khó nhọc, không khiếp sợ; không thối chuyển, không tự măn, tự cao mà bỏ dở mục đích chưa đạt được (như đă nói ở bài ngũ căn). 

3. Hỷ: Nghĩa là hoan hỷ. Nhờ tinh tấn tu hành, nên đoạn trừ được dần phiền năo thành tựu vô lượng công đức, do đó, sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành. 

4. Khinh an: Khinh là nhẹ nhàng. An là an ổn. Nhờ sự tinh tiến tu tập nên thân tâm được thanh tịnh; do đó người tu hành cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, khinh an, như đă trút được gánh nặng dục vọng, mê mờ. 

5. Niệm: (Cũng như chữ niệm trong mấy bài trước) nghĩa là thường ghi nhớ chánh pháp để thực hành. Tâm niệm ta, nếu không thường nhớ chánh pháp, tất nhiên tạp niệm phát sanh, phiền năo tăng trưởng. Cũng như một đám đất nếu không trồng hoa, th́ cỏ mọc. V́ thế người tu hành cần phải để tâm ghi nhớ chánh pháp, đừng cho xao lăng buông lung nghĩ bậy.

6. Định: Nghĩa là tâm chuyên chú, tập trung vào pháp ḿnh đang tu  

7. Xả: Nghĩa là bỏ ra ngoài không vướng bận. Xả tức là hành xả tâm sở, một trong 11 món Thiện tâm sở. 

Hành xả nghĩa là thế nào? 

Người tu hành, nhờ trí sáng suốt, nhận biết "thọ là khổ", nên không nắm giữ một thứ nào hết, dù quư báu bao nhiêu. Ngay trong sự tu hành cũng vậy, họ không trụ trước ở các pháp ḿnh đă tu, đă chứng; trái lại họ luôn luôn xả bỏ những ǵ ḿnh đạt đến, để tiến triển trên bước đường đi đến giải thoát. Nếu người tu hành cứ măi say đắm vào quả vị ḿnh đă chứng, th́ suốt đời sẽ bị trầm một nơi đó, không bao giờ có thể tiến lên, để đạt thành đạo quả vô thượng Bồ đề. Kinh Kim Cang sớ có nói: "Người tu hành phải như người nương thuyền qua sông, khi thuyền đă cập bến, nếu ta không bỏ nó để lên bờ, th́ đừng ḥng đến đâu và biết ǵ được. Người muốn thành đấng siêu việt tự tại, cần phải từ trước khước mọi đắm say". 

Pháp hành xả nầy giúp chúng ta thành tựu sự siêu việt.

 

C. Kết Luận 

Tóm lại, người tu bảy pháp Bồ đề phần nầy, chắc chắn sẽ được bốn kết quả quư báu sau đây: 

1. Tất cả pháp ác đều được tiêu trừ. 

2. Tất cả pháp lành càng ngày càng tăng trưởng. 

3. V́ thường tu thiện, đoạn ác, nên luôn luôn được an lạc, không bị đau khổ. 

4. Sẽ chứng thành Phật quả. 

Trở Lên 

Bài Thứ 10 
Đạo Đế (Nirodha Gamadukkha) 
(Tiếp Theo) 

 

E. Bát Chánh Đạo

 

A. Mở Đề 

Trong 37 món trợ đạo, Bát Chánh đạo là một pháp môn chính, được nhắc nhở đến nhiều nhất. V́ thế, mỗi khi nói đến Đạo đế là người ta liên tưởng đến Bát Chánh đạo. Thậm chí có người tưởng lầm rằng Đạo đế với Bát Chánh đạo là một. 

Sở dĩ Bát Chánh đạo được xem là pháp môn chính của Đạo đế, v́ pháp môn nầy rất đầy đủ có thể bao gồm được các pháp môn khác của Đạo đế. Nó rất phù hợp với mọi căn cơ, mọi thời đại, mọi phương sở; đối với Tiểu Thừa cũng như Đại Thừa, người Đông phương cũng như Tây phương ai ai cũng đều công nhận giá trị hoàn toàn cao cả của Bát Chánh đạo, và đều áp dụng pháp môn nầy trong sự tu hành của ḿnh để đoạn trừ phiền năo khổ đau, hầu bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại.

 

B. Chánh Đề 

I. Định Nghĩa Bát Chánh Đạo 

Bát Chánh đạo là tám con đường ngay thẳng hay tám phương tiện mầu nhiệm đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu. 

Người ta cũng có thể dịch nghĩa "Bát Chánh đạo" là con đường chánh có tám ngánh, để đưa chúnh sinh đến địa vị Thánh. 

Cũng có khi người ta gọi Bát Chánh đạo là "Bát Thánh đạo" v́ cái diệu dụng của nó sau đây: 

a) Những kẻ phàm phu học đạo, noi theo pháp môn nầy mà tu, th́ khỏi lầm lạc vào nẻo nguy hiểm, lần hồi sẽ chứng được quả Hiền Thánh. 

b) Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương tiện nầy th́ sẽ đi đến cảnh Niết Bàn. 

Bát Chánh đạo gồm có: 

1. Chánh kiến  
2. Chánh tư duy 
3. Chánh ngữ 
4. Chánh nghiệp 
5. Chánh mạng 
6. Chánh tinh tấn 
7. Chánh niệm 
8. Chánh định

 

II. Nội Dung Và Giá Trị Mỗi Thành Phần Của Bát Chánh Đạo  

1. Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Chánh kiến hay Chánh tri kiến là thấy, nghe, hay, biết một cách ngay thẳng, công minh, đúng với sự thật khách quan. Người có chánh kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại. Sự nhận xét sự vật của người ấy không bị tập quán, thành kiến, dục vọng ngăn che hay làm sai lạc. Người có chánh kiến biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Và khi đă biết cảnh giả, vật dối, th́ mắt không chăm, tâm không chú; c̣n khi rơ biết cảnh vật thật, lời lẽ chân, th́ chuyên tâm vào sự lư chân thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che ám được. 

2. Chánh tư duy: Tư duy là suy nghĩ, nghiệm xét; nó thuộc về ư thức. Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải. 

Người tu theo phép Chánh tư duy, thường xét nghĩ đạo lư cao siêu, suy t́m thể tánh nhiệm mầu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ư nghĩ xấu xa để sám hối; biết suy nghĩ về ba món vô lậu học: Giới, Định, Huệ, để tu giải thoát; biết suy xét vô minh và nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và t́m phương pháp đúng đắn để tu hành hầu giải thoát cho ḿnh và cho người. 

3. Chánh ngữ: Ngữ là lời nói; Chánh ngữ là lời nói chân thật, công b́nh, ngay thẳng và hợp lư. 

Người tu theo chánh ngữ, không bao giờ nói sai, không thiên vị, thấy dở nói hay, không xuyên tạc, nghe một đường nói một ngả. Người theo chánh ngữ rất thận trọng lời nói; trước khi muốn nói ǵ phải suy nghĩ coi có lợi ích và chân thật không. Xưa đức Khổng Tử vào viếng chốn cổ miếu, thấy bức tranh họa một h́nh người kẹp miệng ba lần, Ngài day lại dạy môn đệ phải cẩn thận lời nói. 

Ngày xưa, trước khi đức Phật sắp nhập Niết Bàn, có Đệ tử hỏi: 

Bạch đức Thế Tôn, khi Phật nhập Niết Bàn rồi, người đời sau gặp nhièu sách vở ngoại đạo không sao phân biệt với kinh Phật , như thế, biết tin theo lời nào tu? 

Phật dạy: 

Chẳng luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật, hợp chân lư th́ cứ tin theo mà tu. 

Vậy, phàm những lời nói đúng lư, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sinh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế. 

4. Chánh nghiệp: Nghiệp là do người Trung Hoa dịch chữ Phạn Karma mà ra. Nghiệp hay Karma nghĩa là hành động tạo tác. 

Chánh nghiệp là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lư, có lợi ích cho người lẫn vật. 

Người theo đúng "chánh nghiệp" là người luôn luôn thận trọng , giữ ǵn mọi hành động của ḿnh, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác. Hơn nưa người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của ḿnh, luôn luôn hành động có lợi ích cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy sinh quyền lợi hay tánh mạng ḿnh để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác. 

Ngoài ra cũng gọi là chánh nghiệp, khi dùng trí huệ để quán tưởng những pháp chân chính, hoặc ngồi Thiền, niệm Phật , hoặc tŕ tụng kinh hành, để giữ ǵn thân, khẩu, ư ba nghiệp cho thanh tịnh. 

5. Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Chánh mạng là sanh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của ḿnh. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ v́ nghề nghiệp của ḿnh. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời có ư nghĩa lợi ḿnh, lợi người, xứng với bát cơm ḿnh ăn, manh áo ḿnh mặc chứ không ăn không ngồi rồi, sống bám vào người khác. 

Người theo Chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan, và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp. 

6. Chánh tinh tấn: Chữ tinh tấn ở đây cũng cùng nghĩa như tinh tấn đă nói trong bài trước, nghĩa là chuyên cần, siêng năng, thẳng tiến mục đích đă vạch sẵn không v́ một lư do ǵ mà lùi bước. Chánh tinh tấn là chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho ḿnh cũng như cho người và vật. 

Người theo đúng Chánh tinh tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng hái sửa ḿnh, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành (xem bài Tứ Chánh cần). Người theo đúng Chánh tinh tấn, dũng mănh tiến lên trên đường đi đến giải thoát, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi (xem đoạn "Tấn căn" trong bài Ngũ căn). 

Nói tóm lại, người theo đúng Chánh tinh tấn, quyết tạo nghiệp vô lậu xấ thế gian, lấy chánh trí làm mănh lực, lấy Niết Bàn làm chỗ quy hướng, một ḷng chẳng trễ, muôn kiếp không dời, quyết công phu, định thành đạo quả để trước tự độ, sau hóa đôĩ chúng sanh. 

7. Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ (cũng như nghĩa chữ niệm ở các bài trước). Chánh niệm là ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho ḿnh cho người, những đạo lư chân chính quư trọng cao siêu. 

Chánh niệm có hai phần: 

a) Chánh ức niệm: là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo để lo báo đền. 

b) Chánh quán niệm: là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ năo, tật bệnh, mê mờ mà chúng sinh đang mắc phải, để mở rộng ḷng thương yêu và quyết ra tay cứu độ. 

Người theo đúng Chánh niệm, thường quán sat cảnh chân đế, năng tưởng niẹm các pháp trợ đạo; bất luận ở đâu và làm ǵ, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, dù trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao lăng. 

8. Chánh định: Chữ "Định" ở đây cũng đồng nghĩa như chữ định trong các bài trước, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề ǵ, để thấy cho rơ ràng. Chánh định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lư, có lợi ích cho ḿnh và người. 

Người theo đúng Chánh định, thường tập trung tư tưởng để quan sát những vấn đề chính sau đây: 

Quán thân bất tịnh: (bất tịnh quán) túc là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, sai ái (xem lại đoạn: "quán thân bất tịnh" trong bài Tứ niệm xứ). 

Quán từ bi (từ bi quán) là quán tưởng tất cả chúng sinh đều là một chân tâm, b́nh đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận, và mở rộng ḷng thương yêu để cứu độ chúng sinh. 

Quán nhân duyên: (nhân duyên quán) là quán tưởng tất cả pháp hữu h́nh như muôn vật, vô h́nh như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp. 

Quán giới phân biệt: (giới phân biệt quán) nghĩa là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới: 6 căn, 6 trần, 6 thức để thấy không thật có "ngă, pháp" ngơ hầu diêt trừ ngă chấp, pháp chấp. 

Quán hơi thở: (sổ tức quán) nghĩa là qúan tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đổi trị sự tán loạn của tâm thức.

 

C. Kết Luận: 

Như đă nói ở đoạn mở đề, Bát Chánh đạo là pháp môn rất được thông dụng. Sự thông dụng này sở dĩ có được là nhờ lợi ích thiết thực và quư báu của nó đối với đời sống cá nhân của người tu hành, đối với xă hội, và đối với đời sống tương lai. Có thể tóm tắt những lợi ích, hay công năng của Bát Chánh đạo trong ba điểm sau đây: 

1) Cải thiện tự thân: Nếu con người chuyên tu theo tám đường chánh này, th́ sửa đổi được tất cả mọi sự bất chính, mọi tội lỗi trong đời sống hiện tại của ḿnh, như ư niệm mê mờ, ngôn ngữ đảo điên, hành vi sái quấy, đời sống vô luân. Khi những điều trên nầy đă được cải thiện, th́ tất cả cuộc đời riêng của mỗi người sẽ chân chính, lợi lạc và thiện mỹ. 

2) Cải thiện hoàn cảnh: Nếu trong xă hội ai ai cũng đều chuyên tu theo tám đường chánh đạo nầy, không những có nhiều lợi lạc trong cuộc đời hiện tại mà c̣n gây tạo cho ḿnh một tương lai tươi sáng, gieo trồng cho ḿnh những hạt giống Bồ đề để ngày sau gặt háu quả vô thượng Niết Bàn, đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. 

V́ những lợi ích quư báu như thế, chúng tôi xin khuyên mọi Phật tử hày phát nguyện cương quyết tu theo Bát Chánh đạo.

 

Tổng Kết Về Đạo Đế 

Chúng ta vừa biết qua nội dung của Đạo đế , hay 37 món trợ đạo là: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cấn, Tứ như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phần, Bát Chánh đạo. Phần Đạo đế đă chiếm hết bốn bài trong mười bài nói về Tứ đế. Chỉ cái số lượng ấy cũng đủ nói lên sự quan trọng mà đức Phật muốn dành cho phương pháp tu hành để chứng nhập Niết Bàn. Nhưng chúng ta đừng nên thấy quá nhiều pháp môn mà vội nản ḷng, thối chí. V́ căn cơ chúng sinh không đều, nên đức Phật cần chế ra nhiều pháp môn, để mỗi người có thể tùy theo căn cơ mính mà lựa pháp môn thích hợp để tu hành. Tất nhiên một người có thể tu nhiều pháp môn nếu có đủ khả năng, trí tuệ, sức khỏe; những nếu không đủ điều kiện, th́ tu một pháp môn cũng được. Khi tu thành một pháp, các pháp kia đều thành, v́ nó là một nhiếp thuộc lẫn nhau. 

Vậy Phật tử không nên ngă ḷng thối chí. Với sự quyết tâm, với đức tinh tấn, chúng ta tuần tự tiến dần vào Đạo đế, không lo sợ, không nghi ngờ, cũng không quá bồng bột, nóng nảy, rồi đây chậm hay nhanh, thế nào cũng phải đến đích. 

Hỡi quí vị Phật tử ! Mười phương các đức Như Lai, đầu tiên đều nhờ các pháp môn nầy mà dần dần được viên thành Phật quả. Tất cả Thánh giả trong ba thừa, đều nương vào đây để tu hành cho đến ngày đạt đích. Chúng ta, đấng con Phật , những người đang canh cánh ôm ấp bên ḷng trí nguyện thành Phật , để cứu độ và cứu độ chúng sinh, lẽ nào trong lúc đức Phật đă v́ ḷng từ bi mà sửa soạn cho chúng ta mọi phương tiện , mọi hành lư để tiến lên đường giải thoát, chúng ta lại do dự, chần chờ hay thối thác ! 

Vậy chúng ta hăy mau mau cất bước lên đường giải thoát.

 

HẾT KHÓA 3

Trở Lên

 
Trở về   Phật Học Phổ Thông Khóa 4