|
Sáu cửa vào động Thiếu Thất
Sáu cửa vào động, tức
là sáu pháp môn tu hành để đạt được đạo quả. Sáu pháp môn đó là: (1) Tâm
kinh tụng, (2) Phá tướng luận, (3) Nhị chủng nhập, (4) An tâm pháp, (5) Ngộ
tánh luận và (6) Huyết mạch luận. Muốn vào được động Thiếu Thất th́ có thể
vào bằng cửa nào cũng được, không nhất thiết phải qua cả sáu cửa. Tu theo
bất cứ một pháp môn nào cũng đạt Đạo, không nhất thiết phải tu cả sáu pháp
môn.
(1) Tâm kinh tụng.
Tổ nhắc lại từng câu
trong Bát Nhă Tâm Kinh, sau mỗi câu đều có những câu giảng. Đại ư cũng là
phát triển về tâm của tông Bát Nhă. Tổ chỉ rơ tướng "không" của muôn pháp để
chúng ta hiểu được cái thể "Như lai không tướng", vốn thanh tịnh, chẳng phải
có/không, chẳng sạch/nhơ, chẳng tăng/giảm, một khi giác được điều đó th́ "chợt
rơ bỏ ư tu, thênh thang vượt pháp giới, tự tại hết lo âu". Tổ c̣n căn
dặn "chấp có đâu thực có, theo không lại lạc không", v́ Tổ biết rơ
chúng ta thường chấp chặt vào hoặc "có" hoặc "không".
(2) Phá tướng luận.
Phần này gồm những
câu hỏi và đáp.
"Hỏi: Nếu có người
chí cầu Phật đạo th́ phải tu pháp ǵ thật là tỉnh yếu (đơn giản và thiết yếu).
Đáp: Chỉ 'quán
tâm'. Đó là một pháp tổng nhiếp hết các pháp cho nên rất là tỉnh yếu.
Hỏi: Sao nói một
pháp hay nhiếp tất cả các pháp ?
Đáp: Tâm là cội
nguồn của muôn pháp. Tất cả các pháp chỉ do tâm mà sinh ra."
Người hỏi vẫn thắc
mắc là tại sao chỉ 'quán tâm' là đủ, nên sau đó nêu ra những câu hỏi như: "Sáu
đường, ba cơi rộng lớn bao la, nếu chỉ quán tâm th́ sao thoát được những khổ
đau không cùng tận?" - "Như lời Phật dạy: 'Ta đă trải qua ba đại a tăng kỳ
kiếp, chịu vô số khổ nhọc mới thành được Phật đạo', sao nay nói chỉ quán tâm
th́ chế được ba độc là giải thoát?" - "Các đại Bồ tát nhờ giữ ba giới tu
tịnh, thực hành lục độ, mới thành Phật đạo. Sao nay nói người học chỉ cần
quán tâm, chẳng tu giới hạnh th́ thành Phật thế nào được? " - "Như lời kinh
nói, 'dốc ḷng niệm Phật chắc được văng sanh qua cơi Tịnh độ Phương tây, chỉ
cần theo một cửa ấy tức được thành Phật', sao c̣n nói quán tâm để cầu giải
thoát là ǵ? ". Đó cũng là những thắc mắc mà những người không hiểu
Thiền tông thường đặt ra v́ thấy pháp tu này khác với những pháp tu của các
tông khác trong đạo Phật.
Mỗi
câu hỏi đều được Tổ giải đáp rơ ràng nên cũng giúp cho những người tu Thiền
hiểu hơn. Tổ nói rơ , nếu muốn đạt tới cứu cánh th́ phải thấy được tâm là
Phật, và muốn thấy được tâm th́ cần phải bỏ những chấp về tướng. Tất cả
những câu hỏi trên cho thấy đều v́ chấp tướng, hướng ngoại, quên tâm nên
không thể thấy được tâm. Tổ không nói những pháp tu theo chấp tướng là sai,
nhưng Tổ thấy rơ những pháp tu đó chỉ là phương tiện thôi.
(3) Nhị chủng nhập.
Phần này chỉ pháp tu
hành một cách cụ thể:
"Phàm vào đạo có
nhiều đường, nhưng nói cho cùng th́ không ngoài hai đường là: lư nhập hay
hạnh nhập."
"Lư nhập là mượn 'giáo'
để ngộ 'tông', tin sâu rằng tất cả sinh linh đều chung đồng một chân tánh,
chỉ v́ khách trần bên ngoài và vọng tưởng bên trong che lấp nên chân tánh
không hiển lộ được."
"Hạnh nhập là nói
về bốn hạnh, ngoài ra các hạnh khác đều bao gồm trong ấy.
Bốn hạnh là: (a)
báo oán hạnh, (b) tùy duyên hạnh, (c) vô sở cầu hạnh và (d) xứng pháp hạnh".
Báo oán hạnh là khi gặp cảnh khổ th́ hiểu là v́ trước có gây ra
nghiệp dữ nên nay nhẫn nhục chịu. Tùy duyên hạnh là hiểu nay được quả
báo tốt cũng là do nhân lành thủa trước, mọi khổ vui đều do nhân duyên sanh,
nhưng tâm người không v́ vậy mà được thêm hoặc bớt mất ǵ. Vô sở cầu hạnh
là hiểu muôn vật đều là không, nên không cầu mong ǵ mới thực là đạo hạnh.
Xứng pháp hạnh là bậc trí tin hiểu "pháp" chính là cái lư thanh tịnh
của tự tánh, tức cái thể tánh thanh tịnh của ḿnh, nên vẫn tùy xứng theo
pháp mà hành nhưng không có chấp.
(4) An tâm pháp.
Sau đây là vài
đoạn trích:
"Khi mê, người
đuổi theo pháp. Lúc tỉnh, pháp đuổi theo người."
"Tự trên 'sự' vươn
lên mà tỏ suốt, đó là hàng khí lực mạnh. Theo chữ nghĩa mà thông rơ , đó là
người khí lực kém."
"Hỏi: Các pháp đă
là không th́ dựa vào ǵ mà tu đạo? - Đáp: Nếu có dựa vào ǵ th́ cần tu đạo.
Nếu không có ǵ để dựa, tức chẳng cần tu đạo."
"Chẳng thấy ǵ hết,
gọi là thấy đạo. Chẳng làm ǵ hết, gọi là hành đạo."
5)
Ngộ tánh luận.
Phần này chỉ về điểm
quan trọng trong khi tu hành là phân biệt được giữa mê và ngộ, và tu hành
sao để ngộ. Cũng nên lưu ư là có ư kiến cho rằng phần này nói về làm sao ngộ
được bản tánh của chính ḿnh.
"Phàm đem tâm cầu
pháp, ấy là mê. Chẳng đem tâm cầu pháp, ấy là ngộ."
"Khi mê th́ có bờ
bên này, khi ngộ th́ không bờ bên này.
Tại sao vậy? V́ kẻ
phàm phu mỗi mỗi đều có xu hướng trụ ở bên này. V́ giác được phép tối thượng
thừa th́ tâm chẳng trụ bên này cũng chẳng trụ bên kia, nên ĺa được cả hai
bờ bên này và bên kia vậy."
"Phàm mê là mê ở
ngộ. C̣n ngộ là ngộ nơi mê. Không có mê ngộ mới gọi là chánh giác, chánh
kiến."
"Khi mê th́ sáu
thức, năm ấm đều là pháp phiền năo, sanh tử. Khi ngộ th́ sáu thức, năm ấm
đều là pháp niết bàn, không sanh tử."
"Khi mê th́ có
Phật, có pháp. Khi ngộ rồi th́ không Phật, không pháp. Tại sao vậy? V́ ngộ
tức là Phật pháp."
(6)
Huyết mạch luận.
Phần này chỉ rơ nếu
không thấy tánh th́ việc tu hành sẽ không thể đưa đến chỗ đạt đạo được.
"Nếu muốn t́m Phật
hăy cần thấy tánh. Tánh tức là Phật. Nếu chẳng thấy tánh th́ chay lạt, giữ
giới đều vô ích cả."
" Nếu không thấy
tánh th́ dầu giỏi nói mười hai bộ kinh, vẫn là ma nói."
"Chúng sanh điên
đảo không biết tự tâm là Phật, cứ hướng ngoài mà ǵn giữ, cầu cạnh, suốt
ngày lăng xăng niệm Phật, lạy Phật."
(Trích: "Sáu cửa vào
động Thiếu Thất") (Thư Viện Hoa Sen)
Câu chuyện
Tổ gặp vua Lương Vơ Đế ngay khi mới tới Trung Hoa đă điển h́nh chứng tỏ sự
khác biệt giữa Thiền tông và cách tu hành thời đó:
"Vua
Vơ Đế hỏi: 'Trẫm từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng Ni
không biết bao nhiêu, vậy có công đức ǵ chăng?' -Ngài đáp: 'Đều không có
công đức', -'Tại sao không có công đức?', -'Bởi v́ những việc ấy là nhân hữu
lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cơi người, cơi trời, như bóng theo h́nh, tuy có mà
chẳng phải thật.', -'Thế nào là công đức chân thật?', - 'Trí thanh tịnh tṛn
mầu, thể tự không-lặng, công đức như thế chẳng thể do thế gian mà cầu.'
(Trích: Tổ Thiền Tông)
▲ Đầu trang |